6 tháng 6, 2013

Bản góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992 của ông Đặng Văn Việt


Nhận được bản góp ý do tác giả trực tiếp gửi tới với mong muốn công bố rộng rãi lên trang BVN cho nhiều người cùng biết, chúng tôi hết sức cảm kích trước sự chân thành và ngay thẳng của người dám nói hết những điều từ lâu mình vẫn ấp ủ.
Xin trân trọng đăng lên để bạn đọc gần xa hiểu thấu tâm sự nung nấu của một Lão thành Cách mạng, một vị chỉ huy quân đội lừng danh thời kháng chiến chống Pháp, ngay từ 27 tuổi đã lập những chiến công làm chấn động nước Pháp, khiến chính các đối thủ người Pháp phải kinh phục phong cho ông là “Con hùm xám đường số 4” 


Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
************
Hà Nội, ngày 8 tháng 5 năm 2013

BẢN GÓP Ý SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP
của Đặng Văn Việt – Người Lính Già U100 – Lão Thành Cách Mạng

Theo yêu cầu của Bí thư chi bộ 3, phường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Tôi là: Đặng Văn Việt, sinh năm 1920 (U100), 65 năm tuổi Đảng (1948) – Lão thành Cách mạng (1943), qua nhiều cấp ủy - qua chỉ huy nhiều mặt trận (MT/DS 9 – 7 – 4 – 5 – 6 ), đánh hàng trăm trận (thắng 116/120), năm lần bị thương (thương binh /4) – viết 15 đầu sách (3 giải nhất Văn học Nghệ thuật).
Vì tuổi cao, sức yếu, tôi chỉ xin góp một số ý kiến xung quanh một số vấn đề bức xúc mà nhiều người quan tâm.
1) Vấn đề có nên tiếp tục vận dụng quan điểm tư tưởng Mác vào Việt Nam – hay nên chấm dứt.
Chủ nghĩa Mác ra đời vào cuối thế kỷ 19 đã có tác dụng kích thích phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống sự bóc lột tàn bạo của giai cấp tư sản. Đã tạo những tiền đề cho Cách mạng tháng 10 Nga thành công – tiếp theo sự ra đời của nhà nước Xô viết Nga của Hồng quân Liên Xô, trong Đại chiến thế giới lần thứ Hai, Hồng quân Xô Viết cùng đồng minh đã đánh bại phe phát xít Đức – Ý – Nhật. Tiếp theo sự ra đời của phe XHCN – rồi là Cách mạng Trung Quốc (1949) thành công.
Những sự kiện trên tạo điều kiện và thời cơ cho Cách mạng Tháng 8 (1945) Việt Nam thành công và tiếp theo Việt Nam thắng Pháp – Mỹ trong cuộc chiến tranh 30 năm.
Nói đến Chủ nghĩa Mác là nói đến những quan điểm, tư tưởng của nó. Đó là quan điểm đấu tranh giai cấp, quan điểm thành phần chủ nghĩa (bè cánh, chia sẻ, đặc quyền đặc lợi. Dùng người theo lý lịch, theo lòng tin – hơn là đức tài) – là chuyên chính vô sản (liên minh công nông binh…), là chống tư hữu, chống người bóc lột người (tất cả là quốc doanh, tất cả là hợp tác hóa), là thiểu số phục tùng đa số, là giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo Cách mạng, là xây dựng tiến lên XHCN – lên Cộng sản Chủ nghĩa (CSCN).
Qua gần một thế kỷ, chủ nghĩa Mác đã bộc lộ nhiều nhược điểm, nhiều yếu kém, thiếu thực tế – không thúc đẩy xã hội tiến lên, còn kéo lùi sự tiến hóa của nhân loại.
Do vây mà: Liên Xô, thành trì của Cách mạng bị sụp đổ, và kéo theo cả phe XHCN. Nhiều nước phải tuyên bố từ bỏ Chủ nghĩa Mác (Pháp, Anh, Ý, Mỹ, Nhật…). Nước Đức, quê hương của Mác cũng cáo chung không còn sùng bái Mác nữa – các tượng đài của Mác ở khắp nơi bị hạ bệ. Thực tế cho thấy trên 200 nước trên thế giới không có nước nào là do giai cấp công nhân lãnh đạo.
Ở nước ta, cứ mỗi lần dương cao ngọn cờ đấu tranh giai cấp đều đã bị thất bại.
- Đấu tranh lần 1: Xô viết Nghệ Tĩnh (1930)
- Đấu tranh lần 2: Cải cách ruộng đất (1953 – 1955)
- Đấu tranh lần 3: Cải tạo công thương (1975)
- Đấu tranh lần 4: Đối xử không đúng – Hàng triệu người Việt Nam bỏ nước ra đi –hàng triệu người chết vì tai nạn biển. Sau ngày giải phòng Miền Nam, Đảng và Nhà nước Việt Nam, vận dụng theo quan điểm Mác, xây dựng Việt Nam tiến lên CNXH (1975 – 1995). Sau 20 năm, cả nước về kinh tế, xã hội, văn hóa sa sút nghiêm trọng. Đảng và Nhà nước phải áp dụng chính sách đổi mới mới tạm phục hồi lại đất nước, cả bộ mặt xã hội được thay đổi.
Nhiều quan điểm, tư tưởng của Mác bị hủy bỏ và được thay bằng quan điểm tư tưởng mới.
- Chống tư hữu, nay cho tư hữu
- Chống làm giàu, nay cho làm giàu
- Chống bóc lột, nay cho bóc lột, mời cả Tư bản nước ngoài vào để cùng bóc lột
- Mở rộng giao lưu với tất cả các nước tư bản
- Cấm làm ngoại thương, nay cho làm ngoại thương.
- Cho mở phòng khám bệnh, bán thuốc, mở trường tư thục
- Hạn chế bớt quốc doanh – xóa các Hợp tác xã
Nhờ đổi mới, đất nước có cơ hội phát triển nhanh – có triển vọng đuổi kịp một số nước. Nhưng một điều đáng tiếc đã gây ra một sức cản cho bước đi của cả dân tộc, đó là:
Về kinh tế, những quan điểm tư tưởng lỗi thời của Mác bị loại bỏ, nhưng về chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vẫn tuyên bố Đảng vẫn kiên trì đường lối Mác – Lê Nin. Tức là vẫn theo những quan điểm về đấu tranh giai cấp – theo chủ nghĩa lý lịch. Hình thức thì dân chủ, thực tế, mọi tự do của con người đều bị hạn chế. Tự do ngôn luận, báo chí, bầu cử, biểu tình – Bộ máy đàn áp được tăng cường (quân đội – công an). Tổ chức Nhà nước có nhiều Bộ, nhiều ngành nhưng trên hết lại là Bộ Chính trị, là Tổ chức có quyền quyết định mọi vấn đề, trên cả Chính phủ, trên cả Quốc hội, cả Tòa án Tối cao. Bộ Chính trị làm việc theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số. Một nhóm người trong Bộ Chính trị chỉ cần sắp xếp để khi nào bỏ phiếu mình cũng nắm được đa số, là nắm được mọi quyền hành.
Vì vậy Bác Hồ đã bị vô hiệu hóa. Bác không muốn làm Cải cách ruộng đất theo lối Trung Quốc, Bác không muốn xử bắn bà Nguyễn Thị Năm (một phụ nữ có công với Cách mạng) nhưng đa số trong Bộ Chính trị không đồng ý, Bác Hồ phải xếp ý kiến của mình sang một bên.
Nhiều vụ tham nhũng lớn theo luật pháp lẽ ra phải xử nặng, Bộ Chính trị bảo: đây là người của Đảng không được đụng đến. Một số đã lợi dụng sự tin cậy, nắm toàn bộ tài sản của đất nước, đã biến hóa tài sản quốc gia thành của riêng. Tệ tham nhũng phát triển tràn lan, không tài nào ngăn chặn được. Ngân quỹ quốc gia thất thoát: 1 - 2 triệu tỷ đồng để vào túi của kẻ có chức quyền.
Thượng bất chính, hạ tắc loạn; kinh tế, văn hóa, xã hội, đạo đức con người sa sút nghiêm trọng tạo nên nguy cơ xảy ra sự sụp đổ chế độ.
Ai là người yêu nước, yêu dân, ai là người quan tâm đến vận mệnh của nước nhà, ai là người quan tâm đến sự tồn vong của chế độ, đều phải lên tiếng đề nghị với nhà nước phải từ bỏ Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, một đường lối chính trị đặc quyền đặc lợi cho một “thiểu số” đã đưa đất nước Việt Nam đi từ thất bại này đến thất bại khác.
Hãy trở lại với Bác Hồ, với chủ trương thực hiện đường lối hòa hợp dân tộc, đoàn kết các giai cấp, cả trong và ngoài nước, theo đường lối ấy đã đưa đất nước đi đến thành công, thành công, đại thành công.
Tôi đã viết cuốn 1000 năm Lịch sử quân sự Việt Nam, Dân tộc Việt Nam đã hơn 20 lần bị xâm lược, đã hơn 20 lần đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, có được sự thành công đólà nhờ sự đoàn kết của cộng đồng các dân tộc, không có chỗ nào là do nhờ có đấu tranh giai cấp.
2) Vấn đề một Đảng hay nhiều Đảng
Trên thế giới nhiều nước áp dụng chế độ đa đảng. Một số ít áp dụng chế độ một đảng. Việt Nam ta thời Bác Hồ đã thực hiện chế độ đa đảng. Mỗi chế độ chính trị đều có cái hay cái dở của nó.
Ở Việt Nam ta hiện nay lại đang thi hành chế độc độc đảng: Ta thực hiện được an ninh quốc phòng tốt nhưng về chính trị, bề ngoài ta không nhìn thấy những lộn xộn lớn – nhưng bên trong lòng dân ngao ngán với việc Đảng lãnh đạo với một chế độ độc quyền, lạc hậu, qua hơn 30 năm nay thất bại nhiều lần mà không chịu sửa chữa. Từ độc đảng những sai trái bị bưng bít, không có tiếng nói thứ hai đấu tranh để sửa chữa – báo chí bị kiểm duyệt một chiều chặt chẽ, không đưa ra công luận được những sự thực xấu xa. Bọn tham nhũng dựa vào bè cánh, đặc quyền đặc lợi, phát triển không có cách gì ngăn chặn. Luật kê khai tài sản được công bố, nhưng không ai thực hiện. Uy tín của Đảng bị sa sút nặng trong quần chúng nhân dân – một nguy cơ của sự sụp đổ của chế độ đảng đến gần.
Vấn đề chính cốt lõi là phải có một đường lối chính trị đúng đắn, hợp với lòng dân, hợp với quy luật phát triển của xã hội, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, đoàn kết, an ninh quốc phòng ổn định, chính trị ổn định.
Nếu một đảng mà làm tốt được việc trên [làm thật chứ không làm gian trá như lâu nay vẫn làm – BVN] thì tất nhiên nhân dân vẫn ủng hộ chế độ một đảng.
Nếu trái lại, những điều trên không thực hiện được, chế độ không dựa vào dân, vẫn đi vào con đường độc tài, chuyên chính, thì nhân dân yêu cầu phải có nhiều đảng (2 - 3 - …) dễ bề kiềm chế lẫn nhau, thúc đẩy lịch sử dân tộc tiến lên không ngừng.
3) Có nên bỏ điều 4 của Hiến pháp hay không?
Hiến pháp Việt Nam đã qua 4 lần thay đổi, Bản Hiến pháp đầu tiên không có điều 4. Dần dần để khẳng định thể chế chính trị chuyên chính vô sản, Đảng muốn đóng vai trò độc tôn lãnh đạo. Nhà nước Việt Nam có Chính phủ, có Quốc hội, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam muốn là tổ chức cao hơn cả, đứng trên cả Chính phủ, trên cả Quốc hội. Bộ Chính trị của Đảng (gồm 13 -14 người) là tổ chức cao hơn tất cả các Bộ - những vụ tham nhũng lớn hàng trăm ngàn tỷ đồng, những thất thoát lớn của Nhà nước, đúng ra phải đưa ra vành móng ngựa, đưa ra xét xử - nhưng Bộ chính trị bảo là người của “tao”, phải buông tha, thế là tha bổng – thời Bác Hồ có vụ Trần Dụ Châu, tham nhũng của bộ đội có mấy cái áo trấn thủ, Bác Hồ phải răn đe phạt nghiêm, xử bắn, những vụ tham nhũng hiện nay gấp một ngàn vạn lần – không thấy một ai bị bắn. Trong những vụ lớn, mức phạt nặng nhẹ, không do Chánh án toàn án tối cao, mà do Bộ Chính trị quyết định. Kỷ cương, phép nước bị đảo lộn – người dân không thấy đâu là pháp luật, đâu là công lý.
Nếu ở Mỹ, hiện nay, Đảng Dân chủ đang nắm chính quyền lại đưa Hiến pháp ra sửa đổi, thêm điều 4, để tôn vinh vai trò lãnh đạo của Đảng mình, thì nay mai, Đảng Dân chủ đổ, Đảng Cộng hòa lên ngôi lại sửa đổi Hiến pháp lập lại một điều 4 cho Đảng mình lãnh đạo. Nếu dựa theo quy luật đó, không có Đảng lãnh đạo nào lên nắm chính quyền mà lại không muốn thêm một điều 4 để tự tôn vinh, để cưỡi lên đầu lên cổ của các tổ chức khác, kể cả nhân dân.
Nếu như vậy, thì ở Mỹ, cứ 4 năm một lần, nước Mỹ phải sửa đổi một lần Hiến pháp, để có thêm một điều 4 mới. Và nếu cả thế giới đều bắt chước Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, thì thế giới sẽ không có thế giới đại đồng, mà sẽ có đại loạn.
Về quy luật, không có một nhà nước nào là vĩnh cửu ( Đinh (12) – Lê (29) – Lý (216) – Trần (175) – Nguyễn (143) – Việt minh Cộng sản) sẽ có một lúc nào đó Chính thể Việt minh Cộng sản sẽ đổ [dó là điều chắc chắn – BVN], liệu lúc đó điều 4 có còn tồn tại nữa hay không?
Dưới thời đại Bác Hồ không có điều 4  Đảng Lao động Việt Nam được nhân dân tin tưởng tuyệt đối – vì sao? Vì đường lối của Bác Hồ hợp với lòng dân  Vì Đảng và dân là một. Đảng được uy tín tuyệt đối trong nhân dân. Ngày nay Đảng Cộng sản sản sinh ra điều 4, phá tan kỷ cương phép nước, phá tan đoàn kết của cộng đồng dân tộc, kinh tế sa sút, văn hóa, đạo đức xã hội bị tha hóa nghiêm trọng, uy tín của Đảng bị xuống cấp chưa từng thấy.
Đại vương Trần Hưng Đạo luôn nhắc nhỏ: Phải lấy dân làm gốc, phải khoan thư sức dân,nhờ vậy các vua đời Trần đã ba lần đánh thắng Nguyên Mông. Bác Hồ, theo gương Trần Hưng Đạo, biết dựa vào dân, lấy dân làm gốc, nên đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam đánh thắng hai đế quốc Pháp, Mỹ.
Ngày nay Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lãnh đạo: không lấy dân làm gốc, mà lấy Chủ nghĩa Mác – Lê Nin làm gốc, lấy đấu tranh giai cấp làm gốc, Bộ Chính trị làm gốc. Ngày nào ta còn theo đường lối bè cánh, hẹp hòi, chia rẽ, đặc quyền, đặc lợi, ngày ấy bọn cơ hội càng có đất phát triển – vô hình trung bệnh tham nhũng là con đẻ của chế độ lấy Chủ nghĩa Mác làm gốc – bệnh tham nhũng được đà phát triển, kéo dài là một nguy cơ dẫn đến sự sụp đổ chế độ vào một ngày không xa.
Những người lãnh đạo phải thấy rõ: điều 4 là một tồn tại không hợp Hiến, không hợp pháp, nó là một yếu tố độc hại đang đưa Đảng Cộng sản tiến nhanh trên con đường sụp đổ – nó là nguồn gốc hủy hoại sự tồn vong của Đảng Cộng sản hiện nay.
Cần có đủ đầu óc thông minh và sáng suốt mới dám chủ động hủy bỏ điều 4. Hủy bỏ việc lấy chủ nghĩa Mác làm gốc, để ngăn chặn cái nhọt ung thư tham nhũng ngay từ gốc nguồn – có vậy mới cứu nguy và duy trì được vai trò, vị trí lãnh đạo của Đảng Cộng sản hiện nay.
4) Việc có cần đổi tên Đảng tên nước hay không?
Tại sao chỉ có hai cái tên: Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam, mà đã xảy ra sự tranh cãi liên tục trong mấy năm, mà vẫn chưa có được kết luận – có phải vì cái âm thanh tên này hay hơn tên kia mà đòi hỏi phải đổi thay.
Cái chính là:
Mỗi cái tên đều mang theo nó sự mong muốn tiến tới của các cái tên ấy. Ví dụ nếu lấy tên nước là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thì là nước Việt Nam có mục đích cuối cùng là lên CNXH – theo mô hình Xô Viết. Thực tế nhà nước XHCN theo mô hình Xô Viết là một điều không tưởng – nước Nga – các nước Đông Âu, đi theo con đường lên CNXH theo mô hình Xô Viết đều đã bị thất bại. Nước Việt Nam ta, sau 1975, đã xây dựng CNXH theo mô hình Xô Viết cũng đã bị thất bại thảm hại – nếu không đổi mới thì đất nước đã bị sụp đổ, tàn lụi.
Hiện nay, thực tế lịch sử đòi hỏi, phải xóa bỏ cái tên không tưởng CNXH thay vào đó bằng cái tên Dân chủ Cộng hòa là hợp với tình hình kinh tế, chính trị thực tế trong Đối Nội và Đối Ngoại của Việt Nam hiện nay và lâu dài.
Còn về cái tên Đảng Cộng sản, nó mang ý nghĩa là Đảng sẽ tiến lên đích cuối cùng là Cộng sản Chủ nghĩa.
Chế độ XHCN đã là không tưởng, thì chế độ Cộng sản lại còn ngoài cái không tưởng – làm gì có cái xã hội: làm tùy năng lực, hưởng theo nhu cầu, nhiều người muốn đổi tên Đảng là Đảng của những người lao động – hay Đảng Lao động Việt Nam là hợp với thực tế trước mắt và lâu dài.
Thay đổi hai cái tên để Đảng tránh phải mang tiếng là Đảng luôn nêu hai cái bánh vẽ để lừa quần chúng – nhân dân – lừa cả thế giới.
Thay đổi cái tên Cộng sản, còn có nghĩa là bỏ một cái tên đã nhắc lại những đau thương mà lịch sử loài người đã phải trải qua. Nói đến hai chữ Cộng sản, làm mọi người nhớ đến Staline, Mao Trạch Đông, hai nhà độc tài cộng sản đã giết hại hàng chục triệu sinh mệnh con người để bảo vệ quyền lực của mình; đến chế độ Polpot diệt chủng ở Campuchia (Polpot mang danh cộng sản, diệt hàng triệu dân Campuchia, sọ dừa và xương chất thành núi); đến Cải cách ruộng đất, đến Cải tạo công thương, đến hàng triệu người phải bỏ nước sau 1975, đến chính sách tôn sùng sự bất công thành một quốc sách, tôn sùng sự dốt nát hơn là sự thông minh sáng tạo. Bỏ hai chữ Cộng sản có lợi về Chính trị cho trong nước, về ngoại giao đối với quốc tế. Không ai muốn lên CSCN với câu kinh thánh nổi tiếng của nhà Chính trị Trần Phú: Trí Phú Địa Hào đào tận gốc trốc tận rễ.
May sao ông Trần Phú không gặp thời, nếu không thì Việt Nam ta đã có một Tần Thủy Hoàng, một ông vua từng ra lệnh chôn sống 2000 nho sĩ và đốt hết sách của Khổng Tử – Mạnh Tử, hay một Staline, một Mao Trạch Đông, một Polpot 100% không hơn không kém. Ông Trần Phú đang được Đảng và Nhà nước tôn vinh như một hảo hán anh hùng dân tộc – được đặt tên đường, tên phố, bệnh viện, trường học, dựng tượng, xây lăng tẩm đồ sộ. Thầy trò Trường Trần Phú (Hà Nội) đang lo lắng học tập và ra trường theo gương ông Trần Phú như thế nào???
5) Việc nên nêu khẩu hiệu
“Trung với nước hiếu với dân” hay “Trung với Đảng hiếu với dân”
Đảng muốn quân đội là một công cụ của Đảng, để bảo vệ lãnh tụ, bảo vệ Đảng lúc cần thiết – nên một số người nêu quân đội phải:
“Trung với Đảng – Hiếu với dân”. Theo nhiều nước trên thế giới, người ta nêu: quân đội của một quốc gia phải có tính độc lập – phải là một lực lượng vũ trang luôn sẵn sàng cầm súng bảo vệ Tổ quốc khi lâm nguy.
Vì vậy, trên thế giới các tổ chức chính trị đang nắm chính quyền đều nêu khẩu hiệu “quân đội phải trung với nước hiếu với dân” sau đấy mới trung với chế độ hiện hành.
Chế độ nào dù tài giỏi đến mấy cũng chỉ tồn tại một thời gian, chế độ nối tiếp sẽ thay thế – nếu nêu khẩu hiệu: “quân đội phải trung với Đảng sau mới hiếu với dân” thì một khi chế độ ấy đổ vỡ, quân đội sẽ đổ theo. Bao sĩ quan , tướng lĩnh phải giải ngũ, bao vũ khí, khí tài, bị xếp xó, trở thành sắt vụn, đưa ra bán đấu giá (kể cả bom nguyên tử, B52…). Như quân Phát xít: Đức, Ý, Nhật … Chế độ sau không thể một lúc xây dựng nên một quân đội hùng mạnh để bảo vệ Tổ quốc.
Trong thời gian chiến tranh Việt Nam (9 năm) Chính phủ Pháp bị đổ đến 8 lần – thế nhưng đạo quân xâm lược vẫn là một thứ quân, đó là quân đội Pháp (với Mỹ cũng vậy…).
Tất nhiên khi thay đổi một chế độ, thì người lãnh đạo chế độ mới phải có những biện pháp để thay đổi, cho quân đội hợp với đường lối chính trị mới của mình.
Đảng Cộng sản Việt Nam có công khai sinh ra QĐNDVN từ đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và xây dựng nó trưởng thành cho đến ngày nay. Mặc dù vậy, khẩu hiệu nêu lên với đạo quân này vẫn phải là: “Trung với nước, hiếu với dân” sau mới nói đến trung với Đảng.
Bác Hồ trong chuyến đến thăm Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn ở Sơn Tây (1946) đã tặng cho học sinh võ bị khóa 1 lá cờ có ghi dòng chữ “Trung với nước, hiếu với dân”. Lá cờ của Bác còn nằm ở nhà bảo tàng Trường Sĩ quan Lục quân hiện nay.
Nước bao giờ cũng là vĩnh cửu, còn Đảng dù có tài giỏi đến mấy cũng chỉ có thời hạn. Chẳng khác gì bố mẹ, sinh ra con bao giờ cũng phải dạy con: lớn lên các con phải biết “trung với nước sau là hiếu với nhà”, không bao giờ bố mẹ lại bảo: lớn lên các con phải “trung với gia đình sau hiếu với Tổ quốc”. Nếu dạy con theo kiểu này, khi đất nước có giặc, các con sẽ ở nhà hết để bảo vệ gia đình và bố mẹ, không có ai cầm súng đánh giặc giữ nước.
6) Vấn đề tam quyền phân lập
Mỗi chế độ khi quản lý đất nước đều phải thông qua pháp luật, việc quản lý pháp luật phải qua ba tổ chức:
- Bộ phận Lập pháp (Quốc hội)
- Bộ phận Hành pháp (Tòa án)
- Bộ phận Tư pháp (Viện kiểm sát – Luật sư)
Ba quyền hành này phải hoàn toàn có tính độc lập riêng của nó, phải được tôn trọng, có vậy việc quản lý đất nước mới có hiệu nghiệm – việc quản lý đất nước mới nghiêm minh.
Luật pháp mỗi khi đã ban hành, mọi người công dân đều bình đẳng trước pháp luật và phải tuân theo pháp luật, không phân biệt thứ bậc trong xã hội.
Ở nhiều nước văn minh, tiên tiến, một số Thủ tướng, kể cả Tổng thống đương chức, hay về hưu, mà phạm pháp, đều bị đưa ra tòa án xét xử.
Ở Việt Nam ta hiện nay, tam quyền phân lập không được thể hiện rõ ràng, minh bạch.
Luật pháp là của chung, ai cũng phải thi hành – thế nhưng một số người có chức, có quyền tự cho mình đứng ngoài pháp luật, còn luật lệ là thuộc của dân đen.
Đảng CSVN muốn mình là thống soái, đã dùng biện pháp tự ghi điều 4 vào Hiến pháp, đặt Đảng CS đứng trên cả Chính phủ, cả Quốc hội, cả nhân dân. Quyền lập pháp đặt dưới sự chỉ đạo của Đảng, Đảng chỉ đạo xây dựng luật hợp với quy chế xây dựng chủ nghĩa xã hội theo quan điểm hợp với Mác – Lê nin.
Về hành pháp, Đảng cũng tự cho mình đứng trên cả Bộ Tư pháp, trên cả Tòa án tối cao – mọi xét xử lớn đều phải thông qua Bộ Chính trị – có những vụ trọng tội phải xử nặng, nhưng Bộ chính trị bảo là “Người của Đảng, phải buông tha – “Tòa án phải tuân theo – Tòa án bị vô hiệu hóa – công bằng xã hội bị vi phạm nghiêm trọng.
Còn phần Tư pháp, với tiếng nói yếu ớt của các Viện Kiểm sát, các luật sư, hoạt động tư pháp mang tình hình thức, để cho bề ngoài là nhà nước có vẻ tôn trọng quyền của công dân. Nhân dân đòi hỏi Đảng và Nhà nước Việt Nam phải tôn trọng tam quyền phân lập và phải tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, để giữ được công bằng xã hội, kỷ cương phép nước của một nhà nước văn minh, một dân tộc văn minh.
Kết
Trên đây, tôi đã lược qua một số vấn đề góp một số ý kiến cá nhân vào thư Kiến nghị của 72 nhân sĩ của cả nước đã gửi lên Quốc hội, lên Hội đồng xét việc sửa đổi Hiến pháp.
Tôi tán thành bản Tuyên bố của hàng ngàn “công dân tự do”, bản Tuyên bố của Hội đồng Giám mục, của Thượng tọa Thích Chí H., đại biểu cho hàng triệu giáo dân và phật tử.
Những thư và kiến nghị đó chứng tỏ toàn dân đang lo lắng đến vận mệnh của đất nước, mong muốn có một Hiến pháp tiến bộ, lâu dài. Đây là một thời cơ để những người lãnh đạo nắm lấy để sửa đổi Hiến pháp, xây dựng một thể chế phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước.
Những ý kiến của tôi đều xuất phát từ lợi ích của dân tộc, của đất nước Việt Nam, nhiều lợi ích bảo vệ sự tồn tại của chế độ hiện hành.
Đại vương Trần Quốc Tuấn, 3 lần đánh thắng Nguyên Mông, Lê Lợi, Nguyễn Trãi sau 10 năm đánh đuổi được giặc Minh, Hồ Chí Minh sau 30 năm đánh đuổi 2 đế quốc lớn: Pháp – Mỹ, giải phóng được đất nước Việt Nam đều nhờ vào lấy dân làm gốc, biết dựa vào dân – luôn nghĩ đến khoan thư sức dân – không sợ giặc mạnh, chỉ sợ dân không đồng lòng, đỡ thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân…
Hiện Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lãnh đạo không lấy dân làm gốc, mà lấy đấu tranh giai cấp làm gốclấy Bộ Chính trị làm gốc, đang đưa đất nước trên con đường tuột dốc: kinh tế, văn hóa, đạo đức xã hội, chính trị sa sút nghiêm trọng – tham nhũng không ngăn chặn được đưa đến nguy cơ sụp đổ chế độ.
Lê Quý Đôn có nêu 5 biểu hiện của một chế độ có nguy cơ mất nước, đó là:
- Trẻ không trọng già
- Trò không trọng thầy
- Binh kiêu tướng thoái
- Tham nhũng tràn lan
- Sĩ phu ngoảnh mặt (Không trọng nhân tài khinh trí thức)
Chế độ hiện hành có gần đầy đủ những biểu hiện trên. Những cấp lãnh đạo, những người có trách nhiệm cần phải thông minh, tỉnh táo, tiếp thu những kiến nghị của các Lão thành cách mạng, các nhân sĩ trí thức, là trí tuệ của dân tộc, để thay đổi đường lối chính trị, xây dựng một thể chế mới, hợp với xu thế phát triển của thời đại, để đưa đất nước ra khỏi một giai đoạn tối tăm của lịch sử, cứu Đảng Cộng sản ra khỏi các vực thẳm trên con đường sụp đổ – tránh sự hốt hoảng bằng thái độ dọa nạt, răn đe khủng bố tầm thường…
Năm 1952, tôi vinh dự được tham gia lớp Chỉnh Đảng đầu tiên của Trung ương Đảng ở cây đa Tân Trào – các học viên hầu hết là các Chủ tịch, Bí thư Tỉnh ủy, Khu ủy, một số là TWUV, một số là Bộ Chính trị, là Bộ trưởng, Thứ trưởng – tôi còn nhớ, có mặt trong đợt đó: Đồng chí Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương, Nguyễn Duy Trinh, Nguyễn Tạo, Trần Công Tường, Lê Lộc… Một số cán bộ chủ chốt của quân đội được dự. Bác Hồ, tuần nào cũng có một lần lên lớp cho Học viên. Một hôm, một học viên xin ý kiến của Bác “Chúng cháu là cán bộ đảng viên, luôn có một lo lắng: làm thế nào là đúng với lập trường, quan điểm Cách mạng – làm thế nào là sai…”
Bác vui vẻ trả lời:
“Hễ mỗi lần, các chú làm việc gì đều phải nghĩ đến: làm việc này có lợi cho dân, cho nước, cho Đảng, thì các chú cứ làm, không sợ sai. Nếu không lợi cho dân, cho nước, cho Đảng, chỉ lợi cho cá nhân, cho một số nhỏ… thì cương quyết không làm”.
Lời dạy của Bác đơn sơ, giản dị, nhưng đầy tính chân lý, tôi đã ghi lòng tạc dạ. Nên suốt 75 năm đi theo Cách mạng, tôi đã không bị phạm vào sai lầm gì lớn.
(Xem lời nhận xét về Việt của Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tổng Tư lệnh/Quân đội nhân dân Việt Nam; của Giáo sư Trần Việt Hà – Đại học Kinh tế quốc dân; của một Giáo sư Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương ở phần chú thích).
Từ thời Bí Thư thứ nhất Lê Duẩn (1960), hơn 50 năm nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn nêu kiên trì đường lối Mác – Lê nin, kiên trì đường lối đấu tranh giai cấp, đã đem lại những hậu quả tai hại như đã nói trên. Đường lối ấy chỉ lợi cho một nhóm người, cho tập đoàn thống trị. Tôi đã kể lại một câu chuyện, nhắc lại một lời nhắn nhủ của Bác Hồ, người con thân yêu của dân tộc. Nay Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính trị của ông, là những người vững vàng nhất về chính trị, ắt phải hiểu hơn ai hết: thế nào là Cách mạng, là quan điểm lập trường Cách mạng.
Trước khi dứt lời tôi muốn nhắc một điều về giáo lý của Đức Phật, đó là “thuyết nhân quả”. Trong khi một nhóm người dựa vào Học thuyết Mác – Lê nin, chiếm các chức quyền, chiếm đoạt tài sản của nhân dân; họ đã một mình lên CNXH, còn lên cả CSCN và để lại đằng sau trên 80 triệu người dân sống thoi thóp, phải vật lộn với bao khó khăn hàng ngày, gánh chịu hậu quả của hàng triệu tỷ đồng thất thoát của Nhà nước đang đổ lên đầu họ. Kéo dài một đường lối sai lầm đã làm khổ cực cho bao nhiêu người khác là một tội ác. Đức Phật dạy: nhân nào thì có quả ấy, quả nào cũng có nhân ấy… ai đã gây ra những sai lầm làm tổn hại cho đất nước, dân tộc, kẻ ấy phải hứng chịu những trừng phạt không tránh khỏi của Trời Phật.
Phải nhanh chóng hối cải, vứt bỏ những bất công, những điều xấu xa độc ác, trút bớt lòng tham, quay lại với cái thiện, mới mong cứu vãn được một phần tội lỗi.
Về giáo lý, Đức Phật khuyên mọi người phải từ bi, bác ái, đùm bọc giúp đỡ nhau – luôn nghĩ đến và làm việc thiện. Còn giáo lý của Mác, là đấu tranh giai cấp: Một đứa trẻ mới lọt lòng, Mác đã dạy: phải nghĩ đến tiêu diệt các giai cấp loài người, để chỉ còn lại trên trái đất này: Công nhân và nông dân. Người theo Chủ nghĩa Mác, không từ bỏ một hành động tội ác nào để làm theo lời dạy của Mác, sẵn sàng sống trong sự bất công, sẵn sàng làm khổ cực người khác một cách không thương tiếc. Rõ ràng là hai giáo lý: một bên là Thiện, một bên là Ác…
Đức Khổng Tử dạy: Nhân chi sơ tính bổn thiện. Thế mà chủ nghĩa Mác đã biến các chú bé ngây thơ Staline, Mao Trạch Đông, Polpot thành những con người thú, hung dữ hơn cả những con thú dữ nơi rừng xanh. Trên thế giới, có nhiều tôn giáo, thời gian tồn tại của một tôn giáo, là thước đo mức tin cậy của nhân loại với tôn giáo ấy, hãy xác minh đâu là một chính đạo hay đâu là một không chính đạo?…
- Đạo Phật tồn tại đến nay trên 2500 năm (đang phát triển)
- Đạo Thiên chúa tồn tại được được 2013 năm
- Đạo Hồi tồn tại được trên 1500 năm
- Đạo Mác tồn tại đến khi Liên Xô sụp đổ được 75 năm.
Về cuối đời, Mác cũng đã tự tuyên bố phủ định một số học thuyết mà ông đã ban bố trong những thời kỳ đầu của tuổi trẻ (như đường lối giai cấp chuyên chính vô sản, giai cấp công nhân đào mồ chôn giai cấp tư sản,…). Đảng Cộng sản Việt Nam đang làm sống lại những điều mà chính Mác cũng đã không còn công nhận nữa.
Đảng Cộng sản Việt Nam còn tôn vinh Chủ nghĩa Mác, còn muốn kéo dài tuổi thọ của các cụ… còn muốn cả dân tộc Việt Nam đưa các cụ lên bàn thờ và còn muốn các trường học phải dạy Chủ nghĩa Mác – Lê Nin. Hãy trả các cụ về với các cụ bà, với châu Âu. Còn ta, ta về về với Bác Hồ, về với ao ta, dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn...
Xin nhắc một lời thơ:
Quan nhất thời dân vạn đại
Ghế quan ai ngồi xin chớ thờ ơ
Thương dân dân lập bàn thờ
Hại dân dân đái ngập mồ thối xương.
Cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm (bố của Nguyễn Khắc Viện) có mấy vần thơ khuyên vua Thành Thái trong việc trị nước:
Tôn tộc đại quy (Tôn trọng gia tộc thì sẽ có sự quy tụ, đoàn kết lớn)
Tôn lộc đại nguy (Tôn sùng bổng lộc – khuyến khích tham nhũng – thì rước lấy nguy hiểm lớn)
Tôn tài đại thịnh (Tôn trọng nhân tài thì đất nước hưng thịnh lớn)
Tôn nịnh đại suy (Tôn sùng gian nịnh thì đất nước rơi vào suy vong lớn)
Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay đang tôn lộc, tôn nịnh, không tôn tài tôn tộc, thích nghe những lời đường mật, ghét lời trung thực. Tổ tiên đã dạy:
Phải lấy dân làm gốc
- Tuyệt đối không được lấy Mác – Lê Nin làm gốc.


Chú thích:
- Một số nhận xét về Đặng Văn Việt – của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Tổng Tư lệnh/ Quân đội Nhân dân Việt Nam)
1. Tiếc là Việt không còn ở quân đội
2. Rất tiếc là Việt không có mặt ở Điện Biên Phủ. Nếu có mặt, trận đánh 57 ngày đêm đó, chắc chắn sẽ được rút ngắn (½) về thời gian và giảm thiểu tối đa về thương vong, hao mòn vật chất.
3. Nếu Việt còn ở quân đội, Việt có thể đảm đương tới cương vị Tổng tham mưu trưởng.
4. Việt về tài đức là điều không cần phải bàn đến: sáng tạo về quân sự, vững vàng về chính trị, khả năng văn học dồi dào.
5. Cần phải sớm trả lại danh dự và vị trí Cách mạng cho cụ Đặng Văn Hướng – thân sinh ra Đặng Văn Việt – một thân sĩ dân chủ có nhiều cống hiến quý giá cho dân tộc – cho Cách mạng.
Của Giáo sư Trần Văn Hà (Đại học Kinh tế quốc dân)
1. Đặng Văn Việt là một tấm gương sáng: chí trung với nước, chí hiếu với dân, không chút vì danh lợi địa vị. Tôi nghĩ rằng Đặng Văn Việt có thể là một mẫu hình của người Việt Nam tiến bộ của Thế kỷ thứ 21 này.
2. Tự hào thay dân tộc Việt Nam có những người con ưu tú như vậy.
Của một Giáo sư trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương (Học viện Chính trị Quốc gia)

1. Kính chào Đại vương Đường số 4, vị anh hùng Đường số 4 – người Đảng viên kiên cường luôn vì sự nghiệp của dân tộc, của đất nước, của Đảng của Bác Hồ.

Không có nhận xét nào:

Trang