2 tháng 12, 2015

Doanh nghiệp nhà nước nợ khủng: Ai mua để gánh nợ?

Trong kinh tế thị trường, bất kể doanh nghiệp nào có nợ xấu không ai mua để gánh nợ. PGS.TS Phương Ngọc Thạch, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế và Quản lý TP.HCM trao đổi về tình trạng nợ nần của DNNN, nhất là trong bối cảnh cổ phần hóa DNNN không đạt tốc độ như kỳ vọng.
PV: - Một báo cáo mới đây của Chính phủ cho hay, số nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước khi kết thúc năm 2014 đã lên đến 1,5 triệu tỷ đồng, tăng 8% so với năm 2013. Trong đó, nợ nước ngoài phải trả của khối tập đoàn, tổng công ty nhà nước là hơn 380.000 tỷ đồng. Ông bình luận như thế nào về những con số này? Thưa ông, phải hiểu thế nào về thực trạng các doanh nghiệp nhà nước làm ăn không có lãi, hoặc tỷ suất lợi nhuận thấp so với vốn chủ sở hữu nói trên?
PGS.TS Phương Ngọc Thạch: - Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước làm ăn thua lỗ, không có lãi dư luận xã hội đã nói nhiều nhưng tại sao không cải thiện được?
Theo tôi có 2 lý do. Thứ nhất, DNNN phải thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ: kinh doanh theo cơ chế thị trường hiệu quả và thực hiện nhiệm vụ chính trị an sinh xã hội (như điều tiết, bình ổn giá cả, đảm bảo các cân đối lớn, phát triển vùng sâu vùng xa, công bằng xã hội...). Nếu đầu tư cho xã hội thì không bao giờ tính toán bằng con số, bằng tiền. Cho đến nay Việt Nam chưa có chính sách để DNNN thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.
Thứ hai, quản lý Nhà nước thiếu chặt chẽ, còn để tình trạng tham ô lãng phí trong chi tiêu Nhà nước phổ biến. Qua báo cáo của Chính phủ có thể thấy tình hình thu chi ngân sách Nhà nước (NSNN) rất căng thẳng. Trong 5 năm qua tình trạng bội chi ngân sách luôn diễn ra với mức trung bình hàng năm khoảng 5,4% GDP. NSNN chi quá nhiều vào chi thường xuyên. Tỷ trọng chi thường xuyên trên tổng cơ cấu chi tăng từ mức 60% giai đoạn 2011-2012 lên mức 67-70% năm 2014. Trong 2 năm gần đây chi thường xuyên mỗi năm gấp đến 4 lần chi đầu tư phát triển từ NSNN.
PV: - Theo cách tính nợ công hiện nay, khoản nợ của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nói trên đã được tính vào chưa và vì sao? Đứng từ góc độ điều hành chính sách, theo ông, có nên tính đúng tính đủ nợ công hay không? Nhìn nhận thực chất vấn đề nợ công sẽ giúp chúng ta trong vấn đề tái cơ cấu nợ và tính toán khả năng trả nợ như thế nào?
PGS.TS Phương Ngọc Thạch: - Cách tính nợ công của Việt Nam và quốc tế có sự khác nhau.Tại Việt Nam, nợ của DNNN, nợ của tổ chức thuộc Nhà nước không được tính vào nợ công của quốc gia. Trong khi đó, khối nợ của các doanh nghiệp Việt Nam trong thực tế rất lớn. Tính đến cuối năm 2010, tỷ lệ nợ công Việt Nam so với GDP đã là 57,3%, khoảng 64% GDP vào cuối năm 2015 vượt mức 50% GDP. Theo tính toán quốc tế thì nợ công của ViệtNam đã lên đến 106% GDP, đã vượt ngưỡng an toàn.
Nợ công có xấu không? Nợ công có vai trò quan trọng đối với nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Nợ công đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn cho đầu tư phát triển và cân đối NSNN. Singapore là nước có nợ trên GDP lớn nhất Đông Nam Á (93,1%), theo sau làIndonesia (25,9%). Nhờ có lượng tiền nợ công khổng lồ, Nhật Bản đã đầu tư phát triển kinh tế xã hội rất hiệu quả, đưa đất nước tan hoang sau Đại chiến thế giới thứ 2 lên nước có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. 
Tại Việt Nam, trong 30 năm qua nhiều dự án cơ sở hạ tầng, các dự án tăng trọng quốc gia... được đầu tư bằng nguồn vốn vay công. Tuy nhiên, đầu tư công kém hiệu quả (ICOR 6-7), thâm hụt ngân sách ở mức cao đã kéo nợ công ngày một “phình ra”.
Thực chất nợ công an toàn hay rủi ro phụ thuộc vào các yếu tố đó là: nợ chính phủ là vay nợ trong nước hay vay nợ nước ngoài; tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, hay tình trạng "sức khỏe" nói chung của nền kinh tế ổn định và tốt không.
Vậy vay trong nước hay vay ngoài nước tốt hơn? Có ý kiến cho rằng vay ngoài nước với kỳ hạn dài hơn, lãi suất thấp hơn, tốt hơn vay trong nước. Thực tế trên thế giới cho thấy ở các nước đang phát triển thời kỳ đầu trong khi nguồn vốn trong nước hạn chế thì vay vốn nước ngoài, sau đó phải thực hiện vay vốn trong nước, có thể lãi suất cao hơn và thời gian trả ngắn hơn, nhưng đảm bảo an toàn.
Khi người dân trong nước được hưởng lợi với lãi suất cao sẽ kích thích họ kinh doanh đầu tư, từ đó tăng được nguồn thu thuế. Mặt khác vay trong nước, Chính phủ dễ dàng phát hành trái phiếu mới mỗi khi trái phiếu cũ đáo hạn. Lãi suất tiền đồng dù cao nhưng lạm phát cũng sẽ làm cho món nợ về thực chất nhỏ đi nhiều lần. Với hệ thống ngân hàng và tài chính nằm trong tầm kiểm soát chặt chẽ thì việc tìm đầu ra cho trái phiếu tiền đồng là không khó khăn cho lắm.
PV: - Trong điều kiện các DNNN đang cổ phần hóa với tốc độ không như kỳ vọng hiện nay, từng có ý kiến cho rằng nếu không làm "sạch nợ" thì sẽ không ai mua lại cổ phần. Ông đồng tình ở mức độ nào với quan điểm này? Trong trường hợp này cần phải giải quyết nợ của DNNN như thế nào hay sẽ xảy ra tình trạng, doanh nghiệp trả nợ xong rồi cổ phần hóa thì số tài sản thu lại về ngân sách sẽ gần như không đáng kể?
PGS.TS Phương Ngọc Thạch: - Trong điều kiện các DNNN đang cổ phần hóa với tốc độ không như kỳ vọng hiện nay, trong đó có DNNN nợ xấu nhưng có vai trò chủ đạo, có DNNN nợ xấu không có vai trò chủ đạo, có DNNN kinh doanh có lãi không có vai trò chủ đạo. Trong kinh tế thị trường, bất kể doanh nghiệp nào có nợ xấu không ai mua để gánh nợ.
Theo tôi, cần phân loại DNNN khi bán cổ phần. Đối với DNNN nợ xấu nhưng đóng vai trò chủ đạo thì Nhà nước không nên bán, trong trường hợp này cần phải giải quyết nợ, Nhà nước mua với giá 0 đồng. Các DNNN có nợ xấu, không đóng vai trò chủ đạo thì Nhà nước có thể bán thu về NSNN không đáng kể. Các DNNN kinh doanh có lãi không đóng vai trò chủ đạo có thể bán, ưu tiên cho nhà đầu tư trong nước.
Phải quán triệt chức năng của Nhà nước là điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua sử dụng các công cụ điều tiết, trong đó công cụ quan trọng là DNNN. Chúng ta cần phải biết vai trò chủ đạo của DNNN. DNNN phải thực hiện các mục tiêu: là công cụ chính sách về ngành, cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài, công cụ ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện các mục tiêu xã hội, an sinh xã hội. DNNN có nhiệm vụ phát triển những ngành đầu vào, tác động lan tỏa, các ngành công nghiệp nặng, công nghệ cao đòi hỏi về công nghệ và vốn cao. DNNN còn có nhiệm vụ quan trọng, phát triển dịch vụ công, cấp điện, cấp nước, vệ sinh môi trường, giao thông công cộng, …đó là chức năng phúc lợi, an sinh xã hội của Nhà nước.
PV: - Thực tế, nhiều chuyên gia đã từng dự báo, Việt Nam sẽ phải chấp nhận những thất thoát nhất định trong quá trình cổ phần hóa các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Thưa ông, tới thời điểm này, ông nhìn nhận nhận định trên như thế nào? Nếu đây là cái giá chúng ta buộc phải chấp nhận để đưa nền kinh tế phù hợp với thị trường và những cam kết quốc tế thì phía cơ quan quản lý cần hành xử như thế nào để người dân có thể hiểu và thông cảm?
PGS.TS Phương Ngọc Thạch: - Đúng là tập đoàn, tổng công ty nhà nước nợ xấu mà cổ phần hóa thì phải chịu thất thoát. Đây là cái giá chúng ta buộc phải chấp nhận để đưa nền kinh tế phù hợp với thị trường và những cam kết quốc tế. TPP bắt loại bỏ vai trò của các công ty nhà nước, buộc những thể chế này phải cải tổ để tạo cơ hội phát triển kinh tế tư nhân.
Việt Nam nên xác định rõ liệu theo đuổi cổ phần hóa là một phần của nỗ lực nhằm chuyển sang nền kinh tế thị trường như cam kết TPP, hay nhằm nâng cao hiệu quả DNNN, giảm nợ chính phủ.
Chúng ta đang đẩy mạnh cổ phần hóa, việc thoái vốn nhằm thực hiện chủ trương của Chính phủ về việc các tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải thoái vốn đầu tư ngoài ngành sản xuất kinh doanh chính. Theo tôi, Nhà nước cần tái cơ cấu DNNN, nâng cao hiệu quả DNNN, nắm vững những lĩnh vực then chốt, trọng yếu, thoái vốn DNNN không then chốt cho nhà đầu tư trong nước mặc dù có lãi ít hơn nhằm phát triển doanh nghiệp tư nhân trong nước, không để nước ngoài thâu tóm.
Thành Luân/ĐVO

Không có nhận xét nào:

Trang