12 tháng 6, 2015

Cơ hội lớn cho Tổ Quốc và ĐCSVN

* TRẦN CAO QUÝ
Thời cơ trước mắt cực kì thuận lợi cho nước Việt Nam thoát Chậm Tiến, thoát Độc Tài Toàn Trị, và song song với đó là thoát Trung.
Thời cơ trước mắt cũng cực kì thuận lợi cho đảng CSVN thoát ra khỏi chính mình, tự xác lập là một chính đảng luôn đóng vai trò quan trọng trong lịch sử Việt Nam từ năm 1945 tới nay, và thức thời có công lớn trong việc đưa Việt Nam vào một giai đoạn mới: Dân Chủ, Phát Triển bền vững và Tự Chủ.
Cơ Hội Cho Tổ Quốc: Một Cái Nhìn Nhanh Lịch Sử Cận Đại và Hiện Trạng Của Tổ Quốc
Từ năm 1945 tới năm 1954: Việt Nam đắm chìm trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Từ năm 1954 tới năm 1975: Việt Nam bị chia hai miền với hai chính thể đối lập. Sau một thời gian ngắn sống trong hòa bình, đất nước lại chìm trong cuộc chiến tương tàn, vừa có tính nội chiến, cũng vừa có tính ủy nhiệm. Các bạn dưới 50 tuổi hiện nay nhìn cảnh chiến tranh tàn phá Iraq, Syria thế nào, thì có thể tưởng tượng rằng Việt Nam ta từng chịu cảnh tàn phá như thế trong suốt gần “hai mươi năm nội chiến từng ngày” của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai.
Từ năm 1975 tới 1990: Vừa thống nhất xong, Việt Nam liên tiếp phạm các sai lầm ghê gớm về chính trị và quản lí, mà hậu quả tại hại trên nền kinh tế và sự phát triển của dân tộc không hề kém cuộc chiến trước đó. Sự kiện thuyền nhân Việt Nam chấn động thế giới là một cuộc chảy máu bi thảm nguồn nhân lực của đất nước, để lại một Việt Nam kiệt quệ nguồn nhân lực tái thiết suốt mười mấy năm sau đó…
Từ năm 1990 tới nay: Bên dưới bề mặt tốc độ tăng trường kinh tế khởi sắc (dù còn khá chậm so với tiềm năng và so với lân bang) do áp dụng lại một số nguyên tắc của nền kinh tế thị trường, Việt Nam ngày càng lún sâu vào hố độc tài toàn trị và, do đó, vào vòng ảnh hưởng toàn diện của Trung Quốc. Vòng ảnh hưởng ngày càng siết lại, cho tới nay đã trở thành vòng nô thuộc khiến Việt Nam bó tay nhìn Trung Quốc khống chế nền chính trị và ngang nhiên xâm chiếm dần lãnh hải, lãnh thổ của mình.
Có thể tóm tắt rằng:
Từ sau năm 1945 tới nay, Việt Nam luôn là một đất nước của chiến tranh (30 năm chiến tranh) và của chậm tiến (trên tất cả các mặt chính trị, giáo dục, kinh tế…), dưới thể chế độc tài toàn trị (trước năm 1975 là miền Bắc, sau năm 1975 là toàn nước). Hiện nay Việt Nam còn bị nằm trong vòng khống chế ghê gớm của Trung Quốc, một cường quốc đang lên và có dã tâm bành trướng với thực lực kinh tế và quân sự quá vượt trội so với ViệtNam.
Việt Nam Cần Làm Gì Để Thoát Chậm Tiến, Thoát Độc Tài và Thoát Lệ Thuộc Vào Trung Quốc?
Thoát Chậm Tiến, Độc Tài và thoát Trung là hai quá trình song song với nhau. Thoát Chậm Tiến, Độc Tài giúp giảm lệ thuộc vào Trung Quốc, và càng thoát ra ngoài vòng kiềm hãm của Trung Quốc thì Việt Nam càng mạnh mẽ hội nhập và hợp tác quốc tế để sự phát triển càng bền vững hơn.
Đã có nhiều tiếng nói, bài viết phân tích các việc Việt Nam nên làm nhằm đạt Mục Tiêu nêu trên. Tác giả xin tổng hợp:
1) Trong lúc hải quân Mỹ hiện diện tại biển Đông, Việt Nam cần khéo léo nâng cao mức độ hợp tác quân sự với Mỹ, Nhật, Úc, Ấn… đồng thời hội nhập và đoàn kết các nước ASEAN hơn nữa. Tận dụng các nguồn lực quốc tế tạo nên một thế mạnh tổng hợp bảo vệ biển Đông khỏi sự độc chiếm của Trung Quốc, qua đó bảo vệ chủ quyền của tổ quốc.
2) Tham gia TPP. Tận dụng cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu để tăng thu hút đầu tư, tái cấu trúc nền sản xuất. Quyết tâm tạo nền tăng trưởng nhanh và bền vững tương xứng với tiềm năng đất nước. Tăng nhanh dự trữ ngoại tệ.
3) Dân Chủ hóa đất nước, với quyết tâm chính trị cao và theo một lộ trình hợp lý được sự ủng hộ của dân chúng. Dân Chủ hóa đất nước cắt đi nguồn gốc của các Tổng Công Ty, Tập Đoàn Kinh Tế nhà nước, các Nhóm Lợi Ích đang hoành hành, tàn phá nền kinh tế quốc dân; cắt đi nguồn gốc của của mức độ tham nhũng hàng đầu thế giới, của bất công và áp bức xã hội khiến cả đất nuớc đầy tiềm năng phát triển bị chia rẽ, bị kiềm hãm. Bản thân việc Dân Chủ hóa đất nước thúc đẩy hòa hợp hòa giải dân tộc, từ đó các thành phần khác nhau trong dân tộc sẽ hợp tác nhau cùng góp sức đưa đất nước thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn nhiều mặt hiện nay. Chắc chắn Việt Nam sẽ có một chính phủ đủ sức đưa đất nước thoát khoải cái ao tù thu nhập trung bình, mất tự do dân chủ, suy thoái đạo đức, lệ thuộc Trung Quốc…
3) Dần dần thoát khỏi “4 tốt” và “16 chữ vàng”. Kiên trì và mềm dẽo không để ViệtNam bị lôi vào vòng xoáy tranh chấp và hận thù dân tộc mà Trung Quốc áp đặt trên biển Đông. Trong khi giữ hòa hiếu lân bang, cần cảnh giác truyền thống xâm lấn Việt Nam cùng mưu đồ làm suy yếu Việt Nam của Trung Quốc. Đất nước Dân Chủ hơn một bước, giàu mạnh hơn một bước, Việt Nam sẽ thêm một bước thoát khỏi “4 tốt” và “16 chữ vàng”. Trong tư thế giàu có và hùng mạnh, Việt Nam càng có tư thế tự chủ để lành mạnh hóa mối bang giao với Trung Quốc một cách bền vững và sâu sắc, tạo nền hòa bình lâu dài cho dân tộc.
Nếu tiến hành thành công các việc nói trên, Việt Nam sẽ phát triển nhanh và mạnh. Theo ước tính của người viết, nếu đi đúng hướng, sau 5 năm GDP Việt Nam ước khoảng 160% hiện nay, sau 10 năm ước tính khoảng 250%, sau năm 15 năm ước tính khoảng 400% hiện nay.
Mười lăm năm qua rất nhanh. Việt Nam sẽ ngày càng giàu có, càng dân chủ và văn minh, dân chúng ngày càng ấm no hạnh phúc. Một Việt Nam như vậy, Trung Quốc có dám lấn chiếm ngang ngược như hiện nay không?
Thời Cơ Trước Mắt Là Quá Thuận Lợi và Quá Lớn Cho Việt Nam
Nếu lấy Thoát Chậm Tiến, Thoát Độc Tài, Thoát Lệ Thuộc vào Trung Quốc làm mục tiêu thì Việt Nam đang có thời cơ quá lớn:
Sự đồng thuận ủng hộ chính trị của quốc tế. Chưa bao giờ Việt Nam có nhiều hậu thuẫn, và hậu thuẫn mạnh mẽ trên thế giới như hiện nay. Các nước lớn nhất, giàu mạnh nhất và văn minh nhất đều ủng hộ Việt Nam đạt các mục tiêu nói trên. Có thể kể tên một số nước gồm Mỹ, Nhật, các nước Tây Âu (Pháp, Đức, Anh…), Ấn Độ, Úc… Sự ủng hộ thể hiện rất rõ trên tất cả các mặt trận: chính trị, quân sự, ngoại giao.
Các liên minh quân sự ngăn chặn Trung Quốc bành trướng. Chưa bao giờ có các liên minh, liên kết quân sự quanh biển Đông, vì biển Đông hùng hậu và cùng nhằm mục đích ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc chà đạp trên luật pháp và trên các chuẩn mực ứng xử quốc tế… Có thể kể các liên minh liên kết Mỹ-Nhật, Mỹ-Úc, Nhật-Úc, các tam giác Mỹ-Nhật-Úc, Mỹ Nhật-Singapore… Tất cả các liên minh, liên kết, tam giác đó đều ủng hộ mạnh mẽ một Việt Namđộc lập và tự chủ.
Sự đồng thuận trong lòng Việt Nam. Chưa bao giờ lòng dân có sự đồng thuận cao như bây giờ cho Thoát Độc Tài, Thoát Chậm Tiến, Thoát Lệ Thuộc vào Trung Quốc. Dù chưa có một cuộc thăm dò ý dân nào được chính quyền cho phép, nhưng có thể cảm nhận lòng của đại đa số dân chúng đã rất chán ghét chế độ độc tài toàn trị, đang khao khát Tự Do Dân Chủ để xây dựng tổ quốc giàu mạnh, nhanh chóng ra khỏi vòng lệ thuộc Trung Quốc. Do đó bất kì động thái nào đưa Việt Nam về hướng đó đều nhận sự ủng hộ của đại đa số dân chúng. Không chỉ lòng dân bên ngoài đảng CSVN, nhiều đảng viên đảng CSVN cũng ủng hộ hướng thoát Trung, thoát độc tài. Qua các tiếp xúc cá nhân, người viết bài này tin rằng đại đa số các đảng viên bình thường không đồng tình với “4 tốt”’ và “16 chữ vàng”. Ngay cả trong Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng thì ý kiến của đa số cũng nằm trong hướng chống Trung Quốc bành trướng.
Cơ Hội Cho Đảng Cộng Sản Việt Nam
Cơ Hội Cho Tổ Quốc Cũng Là Cơ Hội Cho Đảng CSVN.
Đảng CSVN đã lãnh đạo toàn diện đất nước 40 năm qua, chịu trách nhiệm về tất cả các thành công và các thất bại của tổ quốc.
Trong lòng đảng CSVN hiện nay, nhiều đảng viên đã thấy, từ năm 1975 tới nay, dưới sự lãnh đạo toàn diện của đảng CSVN, đất nước bị suy thoái toàn diện. Mức độ chậm tiến của Việt Nam so với lân bang ngày càng lớn, trên mọi mặt. Mức độ lệ thuộc, gần như là nô thuộc, vào Trung Quốc đã quá mức phẫn uất của dân chúng từ lâu. Nhiều đảng viên đã thấy con đường đất nước phải đi là hướng về Dân Chủ Tự Do.
Thời Cơ Trước Mắt Là Quá Thuận Lợi và Quá Lớn Cho đảng CSVN thoát khỏi các bế tắc hiện nay.
Cơ Hội Gì Cho Đảng?
Cơ Hội Đảng Lập Công Lớn Với Đất Nước
Chuyển thành công và êm thấm đất nước từ chế độ độc tài và toàn trị đã 40 năm sang chế độ dân chủ và tự do là công lao rất lớn. Lòng dân sẽ ghi nhận.
Đưa đất nước vào phát triển kinh tế bền vững, lâu dài, xây dựng xã hội Việt Nam trong khuôn khổ các giá trị sống quí báu của truyền thống dân tộc và của trào lưu tiến bộ của nhân loại như Tôn Trọng Con Người, Nhân Ái, Công Bằng, Trung Thực… tạo nền vững chắc cho hạnh phúc ấm no là công lao rất lớn. Lòng dân sẽ ghi nhận.
Đưa đất nước trở lại nền Tự Chủ, thoát lệ thuộc vào Trung Quốc là công lao rất lớn. Lòng dân sẽ ghi nhận.
Cơ Hội Xây Dựng Đảng Thành Một Chính Đảng Bình Đẳng Trong Lòng Dân Tộc
Đưa đảng CSVN từ một đảng “cướp chính quyền”, dùng bạo lực để ngồi trên đầu dân tộc, thống trị đất nước trở về làm một chính đảng bình đẳng trong lòng dân tộc, cùng các chính đảng khác cạnh tranh lành mạnh để xây dựng tổ quốc chung.
Đưa đảng CSVN từ một đảng nắm chính quyền mãi lay hoay trong bế tắc trước lòng dân chán ghét trở thành một chính đảng có chỗ đứng trong lòng dân. Đảng sẽ vững mạnh vì các đảng viên của đảng CSVN sẽ yên tâm và trở lại tự hào một cách chính đáng về đảng của mình.
Đảng CSVN có thể tin rằng quá trình canh tân, chuyển đối sẽ được dân chúng ủng hộ, do đó sẽ diễn ra trong trật tự và hòa bình. Đây là một công cuộc rất rộng lớn, dân chúng sẽ cùng gánh vác với đảng nếu thấy đảng thật lòng. Cùng với quá trình Dân Chủ hóa, dân chúng sẽ trở thành lá chắn bảo vệ xã hội chống lại các hành động cực đoan xuất phát từ quyền lợi ích kỉ của phe nhóm.
Đảng CSVN có thể tin rằng, nếu làm tốt đẹp và êm thấm các quá trình kể trên, số phiếu bầu cho đảng chắc chắn không tới mức 99% mà ai cũng thấy là gian dối, nhưng chắc cũng sẽ quá bán. Đảng vẫn tiếp tục nắm chính quyền trong 1-2 nhiệm kì nữa. Sau đó sẽ là quá trình “tự thân vận động” của cơ chế Tự Do Dân Chủ… Đảng sẽ không còn bị cô lập bởi dân chúng. Không còn lo bị lật đổ bằng bạo lực. Và sẽ có một vị trí quan trọng trong lịch sử, trong lòng dân.
Các động thái mới đây của đảng CSVN cho thấy đảng đã phát những tín hiệu phản đối hành vi và thái độ Trung Quốc trên biển Đông trong khi tiếp đón các phái đoàn chính trị và quân sự cao cấp của Mỹ. Hi vọng rằng đây là những tín hiệu thật lòng chứ không phải để làm dịu lòng dân, và hi vọng rằng đây là các chỉ dấu cho một hướng đi lâu dài vì sự phát triển bền vững của dân tộc chứ không chỉ vì các mục tiêu chính trị trước mắt, không chỉ vì sự kiện biển Đông! Dân chúng sẽ hiểu rõ hơn thực chất của các động thái này qua chuyến thăm Mỹ trong những ngày sắp tới của ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng.
Mong rằng đảng CSVN nhận thấy quyền lợi của mình trong một nước Việt Nam phát triển, giàu mạnh, văn minh và quyết tâm đồng hành cùng dân tộc trong một chính thể Dân chủ, Tự do.
Cơ Hội trước mắt là rất lớn và chung cho tất cả, không của riêng ai.
T.C.Q/ĐanchimViet

11 tháng 6, 2015

Vì sao con gái không được phép xuống tàu ngầm?

Tác giả: Theo Nhà văn Sương Nguyệt Minh (TT&ĐS)
KD: Câu chuyện trong bài này, mình đọc và nghe từ rất lâu ở đâu đó. Những “hội chứng”- thực ra là rất khắc nghiệt, một thứ bệnh nghề nghiệp khiến con người khi mắc phải đã không còn là mình, và cả những niềm tin tâm linh khi lên đênh giữa biển khơi. Nay đọc được bài viết này, khá nhiều thông tin và kiến thức. Xin đăng lên để bạn đọc chia sẻ.
.
Tàu ngầm Kilo 636 của Việt Nam
Lúc tôi đang làm việc với Lữ đoàn trưởng tàu ngầm 189 thì có đoàn văn nghệ sĩ đến thăm quan. Các nữ sĩ xin được xuống tàu ngầm xem cái giường ngủ, cái ghế ngồi của thuyền trưởng thế nào, cái kính tiềm vọng nhìn xuyên qua nước ra sao, nhưng đại tá, Lữ đoàn trưởng rất nhã nhặn… từ chối: Phụ nữ không được phép… xuống tàu ngầm.
Hội chứng không gian kín
Mỗi lần tàu ngầm đi vào lòng biển ít nhất cũng 10 ngày, dài hơn là 45 ngày, thậm chí dài hơn nữa. Một trong những thử thách nghiệt ngã đối với thủy thủ là họ phải đối diện với “Hội chứng không gian kín” bịt bùng, tù túng, nhỏ hẹp; không có bình minh, cũng chẳng có hoàng hôn, không có ngày và càng không có đêm.
Nếu bạn đọc chịu khó để ý sẽ thấy ở các khu nhà cao tầng, có những người không bao giờ đi thang máy, chỉ đi bộ lên xuống ở cầu thang thoát hiểm, vì họ bị bệnh “Hội chứng không gian kín”. Trong tàu ngầm cũng là một không gian kín. Thủy thủ trong tàu ngầm đi biển chỉ có ánh điện phát quang ở các khoang suốt ngày này qua ngày khác, ở trong một không gian chật hẹp bủa vây khiến thủy thủ rất dễ bị bệnh “Hội chứng không gian kín”. Thủy thủ sẽ xuất hiện cảm giác ngột ngạt khó thở, lo lắng, run rẩy, cảm thấy bị cầm tù giam hãm không có lối thoát, rồi xuất hiện cơn hoảng loạn, sợ bị nhốt, sợ ngạt thở, rồi tăng nhịp tim, buồn nôn… khi bị không gian tàu ngầm chật hẹp vây hãm.
Khi học ở bên Nga, đại tá, Lữ đoàn trưởng Trần Thanh Nghiêm đi biển 10 chuyến, mỗi chuyến 10 ngày, về nước, anh đi hàng chục chuyến cùng anh em. Anh nói với tôi rằng, chính anh và một số ít thủy thủ cũng vài lần bị buồn ngủ, đau đầu, chân tay lờ vờ trong chuyến đầu ra khơi ở biển Baltic.
Trên thế giới hiện nay có 17 quốc gia có vũ khí tàu ngầm, 
nhưng chưa có quốc gia nào cho nữ thủy thủ xuống làm việc ở tàu ngầm
Dù loại tàu ngầm nào khi đi biển thì thủy thủ cũng phải sống và làm việc trong không gian kín, chật hẹp, cách li với xã hội loài người. Môi trường điều kiện làm việc khắc nghiệt trong lòng biển, không ánh sáng tự nhiên, ăn thiếu rau xanh, uống nước lọc từ biển, nếu đi biển dài ngày sẽ quá tải nghề nghiệp, căng thẳng thần kinh tâm lý… rất dễ stress. Hải quân Nga đã thống kê: Có tới 70% vụ tai nạn tàu ngầm là do con người. Thích nghi và cân bằng cuộc sống trong tàu ngầm là điều vô cùng quan trọng. Thủy thủ phải rèn luyện để có kỹ năng sống trong tàu ngầm.
Đại tá Trần Thanh Nghiêm kể: “Ở Hải quân Nga có ông thuyền trưởng tàu ngầm đi biển 30 ngày, lên bờ nghỉ ngơi mới được 5 ngày, có việc đột xuất, ông ta lại xung phong đi 40 ngày nữa. Hết đợt 2 về, ông ấy phát điên luôn, phải đưa vào bệnh viện tâm thần điều trị”. Giới hạn chịu đựng của con người không phải là vô cùng. Mấy chục đàn ông ở trong một không gian kín dài ngày, chỉ thấy sắt thép và dây nhợ nhằng nhịt, đi còn phải lách, né, không trầm uất, không stress mới là chuyện lạ. Rất mừng, hiện nay các thủy thủ tàu ngầm Việt Nam về nước qua nhiều lần đi biển mà không ai bị “Hội chứng không gian kín”. Lý giải chuyện này, đại tá Trần Thanh Nghiêm khẳng định: Thứ nhất, bởi khâu tuyển chọn thủy thủ rất kỹ. Thứ hai, được rèn luyện thường xuyên, liên tục. Thứ ba, sống trong tàu ngầm, các thủy thủ thực sự là anh em, đồng đội, tình cảm ấm áp, gắn bó nên không có sự hãi hùng “không gian kín”.
Con gái… không được xuống tàu ngầm
Cùng đoàn nhà văn đi thực tế, trong khi tôi được chui xuống tàu ngầm, được thuyền trưởng dẫn đi len lỏi từ khoang này qua khoang khác, thì các nữ văn sĩ Thụy Anh, Phong Điệp, Kiều Bích Hậu, nữ nhạc sĩ Quỳnh Hợp… cũng phải chịu “thận phận” đứng trên bờ. Các nàng nì nèo mãi, mới được các thủy thủ cho bước qua cầu thang sang đứng trên boong tàu ngầm, chụp bức ảnh kỉ niệm là… hết. Vì sao lại có chuyện “trọng nam khinh nữ” ấy?
Có rất nhiều chuyện đau lòng xảy ra ở Hải quân Mỹ trong những tàu sân bay, chiến hạm hoạt động dài ngày ở biển. Có trường hợp thủy thủ nam bị đồng đội cưỡng hiếp qua đường hậu môn vẫn phải âm thầm chịu đựng cho đến khi bị lộ và báo chí khui ra thì tòa án binh mới vào cuộc. Điều kiện làm việc xa nhà, cây xanh bóng mát không, toàn sắt thép, nắng gió biển và đàn ông với đàn ông, trên mỗi con tàu mỗi chiến hạm đều xảy ra mất cân bằng sinh thái và giới tính. Không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra khi một bóng hồng xuất hiện giữa trùng điệp thủy thủ thiếu vắng đàn bà con gái nhiều ngày. Vì thế, ngay cả tàu mặt nước cũng rất hạn chế nữ thủy thủ làm việc.
Tàu ngầm rất chật hẹp, chủ yếu không gian dành cho lắp đặt máy móc, trang bị, vũ khí, khoảng trống rất ít. Ra chạm vào đụng. Trong ruột tàu ngầm lại cấu trúc các khoang khác nhau, mỗi khoang có một nhóm cầu thủ hoạt động theo chuyên ngành. Khoang nọ cách li với khoang kia bằng các nắp khoang, và dùng thông thoại để liên lạc. Áp lực “Hội chứng không gian kín” và bao nhiêu áp lực mất an toàn khác rất nặng nề đè lên người thủy thủ. Chuyện gì sẽ xảy ra khi có một nữ thủy thủ ở chung đụng, làm việc vai sát vai với nhóm thủy thủ đàn ông hàng chục ngày dưới mặt biển?
Con gái bao giờ cũng yếu ớt hơn cọn trai về thể lực. Những ngày phụ nữ “đến tháng” là thời kì họ bấy bớt như con cua lột do bị tác động của từ trường mặt trăng, bị bức xạ của mặt trời. Họ sẽ ra sao khi phải chịu đựng sự thử thách nghiệt ngã trong không gian kín tàu ngầm và hô hấp bằng khí cao áp? Thử thách của con người với phát minh tàu ngầm trước hết là cuộc chiến với áp suất, sau đó mới là đối phương.
Khí động học ở máy bay, còn khí thủy động học ở tàu ngầm. Con gái làm phi công tiêm kích đã khó khăn, đã hiếm hoi nên con gái làm thủy thủ tàu ngầm đến bây giờ vẫn là con số 0. Trên thế giới hiện nay có 17 quốc gia có vũ khí tàu ngầm, nhưng chưa có quốc gia nào cho nữ thủy thủ xuống làm việc ở tàu ngầm. Đến như nước Mỹ mà “hiện tại, chưa có quân nhân nữ nào được phân công phục vụ trên tàu ngầm”.
Theo các nhà tàu ngầm học, “do môi trường này có các điều kiện sống rất khắc nghiệt và tính riêng tư rất giới hạn”, nên không cho phụ nữ làm việc ở tàu ngầm. Nhưng chỉ thăm quan tàu ngầm lúc đang nổi đậu ở cảng mà phụ nữ cũng không được xuống là cớ làm sao?
Tôi đọc tiểu thuyết “Mùa Tôm” của nhà văn Pillai ở Ấn Độ, vô cùng ám ảnh bởi câu chuyện người vợ ở nhà ngoại tình thì người chồng đi biển sẽ bị đắm tàu thuyền.
Cho đến lúc này, vẫn nguyên niềm tin về lý do dẫn đến con tàu Titanic (trong phim Titanic do James Cameron làm đạo diễn) va vào tảng băng khổng lồ, chìm xuống Đại Tây Dương giá lạnh cùng với hàng ngàn hành khách là do đôi tình nhân Jack va Rose quan hệ trên chiếc ô tô nằm dưới khoang để hàng của con tàu… Có vô vàn nguyên nhân kiêng kị khi con tàu ra khơi.
Đại tá Trần Thanh Nghiêm – Lữ đoàn trưởng tàu ngầm 189 không giải thích bất cứ một nguyên nhân cụ thể không cho phụ nữ xuống tàu ngầm. Anh chỉ nói: Hải quân Nga cũng không cho phụ nữ xuống tàu ngầm. Mình mua tàu họ, họ huấn luyện mình, khi tàu ngầm đi biển thủy thủ được uống mỗi bữa một ly rượu vang, hoặc tặng con heo quay khi đón tàu ngầm đi biển về mình cũng làm theo Nga. Sau này, xây dựng được nội dung văn hóa tàu ngầm sẽ tính sau. Còn trước mắt mình cứ làm theo họ… Phụ nữ không được xuống tàu ngầm.
Chất thải tống ra biển bằng cách nào?
Xử lý rác trong tàu ngầm là một quy trình kỳ công, tinh tế, nếu không chính rác trong môi trường kín của khoang tàu sẽ đầu độc thủy thủ và rác tố cáo sự có mặt của tàu ngầm với đối phương. Tôi cứ hình dung khi đồ ăn thức uống thừa, hoặc sau chế biến thì chất thải rắn sẽ được gom lại đóng vào thùng, khi tàu ngầm trở về đất liền cập bến thì cẩu lên bờ rồi chuyển đến nhà máy xử lý rác, như tàu ngầm Mỹ thường làm.
Nhưng, tàu ngầm Kilo 636 của Việt Nam thì không. Đại tá Trần Thanh Nghiêm kể: Các loại rác sinh học có khả năng phân hủy đều được tống vào máy xay nhuyễn thành bột nước, sau đó được máy cao áp đẩy ra ngoài tàu ngầm. Tất nhiên, để bảo đảm vệ sinh môi trường thì tàu ngầm phải lặn ở độ sâu cho phép mới xả ra ngoài biển để hòa tan với nước mặn chứ tàu ngầm nổi trên mặt biển không được phép làm như thế.
Còn rác thải thể rắn không thể phân hủy sinh học sẽ được thủy thủ cho vào máy ép thành khuôn như viên gạch, rồi bọc giấy bóng, hút hết chân không và bỏ vào máy cao áp, điều chỉnh áp suất máy cao hơn áp suất độ sâu ngoài biển, nhấn nút là… tự động bắn ra ngoài. Tất nhiên, tống những viên chất thải rắn này ra khỏi tàu ngầm phải chọn vùng biển sâu và chúng sẽ chìm xuống tận đáy, mà không tàu ngầm nào phát hiện ra thì mới giữ được bí mật.
Thế mới biết tàu ngầm Việt Nam hiện đại, kì công và cũng lắm chuyện lạ biết bao nhiêu!

Mạnh ai nấy sống… và kiếm sống với bất cứ giá nào!

Tác giả: Vương Trí Nhàn..
KD: Trong nhiều thói xấu tính của người Việt mình quan sát, có hai thói xấu rõ nhất: Đó là ăn uống (nhất là ở những quán ăn tự chọn), và tham gia giao thông trên đường phố. Có lẽ dân tộc Việt là một trong những dân tộc thiếu tôn trọng luật pháp nhất khi đi đường. Mong muốn dân tộc văn minh ư? Khi nào người Việt đi trên đường phố biết dừng lại khi có đèn đỏ, biết lịch sự nhường nhịn đường cho nhau trong những tình huống bất ngờ, khi đó, mới hy vọng văn minh bắt đầu rụt rè đến gõ cửa :
Còn hiện tại, văn hóa giao thông của người Việt không bằng văn hóa của loài kiến :
———
Thử tìm một triết lý toát ra trong cách đi lại của hiện thời
Đường sá hay là hình ảnh của xã hội
“Trong ý nghĩa tượng trưng của chúng, các xe cộ, cổ cũng như hiện đại, là những hình tượng của cái tôi. Chúng phản ánh các mặt khác nhau của đời sống nội tâm và có quan hệ với các vấn đề phát triển của nhân cách”.
Văn hóa đi của người Việt không bằng văn hóa của loài kiến. Nguồn: Trên mạng
Trong một cuốn sách nghiên cứu mang tên Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Nxb Đà Nẵng) tôi thấy người ta viết như vậy. Đúng quá rồi còn gì?
Nhưng nếu xe là biểu hiện của cái tôi, thì đường là hình ảnh thu nhỏ của cuộc sống mà ta vẫn sống tuy không bao giờ hình dung ra đầy đủ. Như nhìn vào đường sá ở ta hiện nay. Xã hội đấy? Ai cũng mắm môi mắm lợi để cố mà đi cho nhanh trong khi thực tế tốc độ xe cơ giới trung bình chỉ độ 20 km một giờ. Và chen chúc. Và lộn xộn nữa.
Biết là xấu mà vẫn bị kích động làm theo
Trước khi ra đường, thường tôi không quên tự nhủ mình già rồi không có việc gì quan trọng, hãy cứ từ từ mà đi, kẻo tai nạn xảy ra thì khốn.
Ấy vậy mà nhiều lần nhìn đồng hồ xe máy, thấy đã phóng với tốc độ bốn năm chục km từ lúc nào. Hoặc ở những quãng đông, xe mình cũng bóp còi inh ỏi chẳng kém một ai, rồi cũng ra cái điều khoái trá hỉ hả y như bắt được của, khi vượt được người bên cạnh, mặc dầu sau khi phóng như điên đến cái nơi cần đến, cũng chẳng có việc gì quan trọng, mà chỉ làm chén nước và tán gẫu.
Thấy lối đi ấy ở mình đã thành thói quen tự nhiên, và hỏi chuyện những người khác, rồi tôi mới vỡ ra: cái cách đi lại như hiện nay nó làm nảy sinh trong mỗi chúng ta cái tâm lý đua chen. Tức là thường xuyên nảy sinh sự so sánh. ông này đi ngớ ngẩn quá, bị người ta chèn, còn mấy cậu choai choai kia đi liều đi ẩu song hóa ra lại được việc. Ta hay trông trước trông sau. Và chỉ sợ thiệt. Ta học rất nhanh những thói xấu, xoay xở luồn lách. Hình thành một loại tâm lý đặc biệt: lấy việc hơn người được nửa vành bánh xe làm điều vênh váo. Nhưng con người có phải cái máy đâu mà thoát được cái tâm lý tầm thường ấy!
Thử biện hộ cho những người phạm luật
Hầu như ngày nào trên đường cũng thấy có những người đi đường phạm luật, dù chỉ một số nhỏ trong họ bị giới chức giao thông bắt phạt. Lại nhớ một cách nói của dân gian có từ hồi 1981 khi anh hùng Phạm Tuân bay vào vũ trụ: “Trên trời chỉ có một Phạm Tuân, còn dưới đất có muôn ngàn người phạm pháp“.
Tại sao ư? Trong nhiều lý do, tôi xin nêu một lý do không nên bỏ qua: đường sá ở một đô thị như Hà Nội (phần chính làm ra từ trước 1954) là để dành cho người đi bộ, cùng lắm là đi xe đạp. Vì thế đường phố không chỉ chật hẹp mà lại lắm ngã tư. Nay ngã tư nào cũng đèn xanh đèn đỏ, hành trình đi của người dân thành ra cứ bị cắt vụn ra thành những quãng lắt nhắt. Vừa rú ga đi được ba bốn chục mét đã phải tính chuyện dừng lại, hỏi làm sao người ta khỏi bực mình và dễ tặc lưỡi, phóng ào cho được việc.
Có thể gọi là kỳ quái?
Có những ý nghĩ cứ len vào tâm trí mình như cỏ dại tức không hiểu từ đâu mà nó lại xuất hiện. Đây là hai ý nghĩ loại đó:
1/ Sao tự nhiên cái cảnh hàng đoàn xe máy chen chúc nhau lại thành môi trường cách sống của cả triệu con người thế này? Có phải là kỳ quái quá không? Có thể có cách đi lại kiểu khác hay không?
2/ Chúng ta đang còn lo đi lại cho an toàn. Không biết đến bao giờ mới lại lo đi lại cho đẹp – cái đẹp chung, không phải của từng người mà của cả thành phố?
Những triết lý tự phát
Tôi chưa có điều kiện ra nước ngoài nhiều, chỉ mới sang Nga làm việc vài năm và đi du lịch bụi ở Trung Quốc vài tuần lễ. Cái món metro là một thứ đặc sản ở Nga không nói làm gì rồi, đến hệ thống xe buýt của họ cũng cho tôi một cảm giác trật tự. Mỗi ngày một ít ở người tham gia giao thông tự nhiên hình thành một cảm quan chung, mình chỉ là một bộ phận của một guồng máy xã hội, và mình có trách nhiệm thực hiện những quy ước chung, khi xe an toàn đến bến thì mình cũng đến đích.
Phải nhận đấy là ưu thế của mọi nền giao thông hiện đại. Có lẽ vì thế mà ở Trung Quốc người ta sớm nghĩ ra chuyện hạn chế sự lưu thông xe máy, một quyết định mà tôi cho là cực kỳ thông minh, nó có khả năng giúp cho con người sống một cách có văn hóa. Còn cứ như ở ta mỗi người một xe, đi nhanh hay chậm do mình, an toàn hay tai nạn cũng do mình, thì cái cảm giác gắn bó với cái chung có giảm đi cũng là một điều tự nhiên.
… Và kiếm sống với bất cứ giá nào!
Thời tiết oi ả, đang nóng bỗng lạnh đang lạnh bỗng nóng, nhiều nhà đêm trước vừa mở điều hòa, đêm sau đã phải lôi chăn mùa rét ra đắp, khí trời năm nay ở đồng bằng sông Hồng độc quá? Chẳng những con người nhoai ra mà đến cả các giống vật cũng khó sống: ở vùng ngoại ô tôi đang ở, sáng sáng trên mặt hồ vô khối cá chết nổi lềnh bềnh. Có cá chết là có người đi vớt, bởi thứ cá này đun lên còn cho lợn cho chó ăn được.
Mấy người dậy sớm lại chuẩn bị sẵn vợt, cá vớt được dễ đến cả rổ. Đến lượt một ông già nọ, lộc giời chẳng còn bao nhiêu, đi lui đi tới ngắm nghía mãi mới thấy một hai con sót lại. Cá thì nằm khá xa mà trong tay ông không có lấy một cái que cái sào nào cả. Nhưng ông không chịu! Thoạt đầu thấy ông nhặt gạch hòn to hòn nhỏ vun thành đống lùm lùm tôi chưa hiểu để làm gì. Bỗng nghe tũm tũm gạch ném xuống nước, thì ra ông lấy gạch để lái cho cá trôi dần vào bờ. Liên tiếp, có đến vài chục viên gạch được sử dụng. Khi mùi cá chết nồng nặc xông lên thì cũng là lúc tôi nghe cái túi ni-lông trong tay ông già sột soạt Có thế chứ! Thoát làm sao được khỏi tay ta, hỡi những chú cá không biết mới chết đêm qua hay từ hôm kia mà thân hình đã mủn cả ra trên mặt nước?
Tôi đứng nhìn ông già lấy gạch dồn cá mà nghĩ đến cách kiếm sống của con người hiện nay. Nào ông có khác với nhiều thanh niên trai trẻ háo hức vào đời, nhất là những thanh niên nông thôn đang đổ lên đô thị: Tay trắng lập nghiệp. Nghề ngỗng chẳng có. Đồ nghề không tức là công cụ không. Có miếng ngon miếng sốt thì lớp người đi trước giành hết cả rồi. Thành thử có gì là lạ khi họ chỉ còn cách lăn xả vào bất cứ việc gì người ta thuê mướn dù là mồ hôi đổ ra nhiều mà đồng bạc thu về chẳng khác mấy con cá trôi nổi trên mặt hồ.
Thế nhưng cái đáng sợ nhất vẫn là cái “triết lý” toát lên từ cái việc kiếm sống đơn giản này.Nhìn đống gạch được ném xuống nước, tôi cứ định nói với ông già rằng như thế tức là trực tiếp phá hủy môi trường. Ai cũng thích thì làm, hôm nay mươi viên mai vài chục viên, hỏi còn gì là cái mặt nước thân yêu? Chẳng phải là chỉ mấy năm nay nước hồ đã đen dần vì nước cống, lòng hồ đã bồi cao lên vì các loại phế thải xây dựng và rác rưởi? Nhưng tôi không mở miệng nổi. Từ cái việc mà ông già thản nhiên và hào hứng theo đuổi, tự nó đã toát ra một lời tuyên bố. để kiếm sống, con người ta có quyền làm bất cứ việc gì họ có thể làm, bất kể là có hại cho người chung quanh hoặc tàn phá môi trường sống chung quanh đến như thế nào.
Lại nhớ nhà văn Nga Tchékhov (1860 – 1904) từng có một đoản thiên kể chuyện một người mugich hồn nhiên tháo đinh bù loong trên đường sắt về rèn mấy cái đinh thúc ngựa. Sắt ê hề ra đấy mà làm gì, tháo một vài cái có sao, không tàu hỏa thì đi bộ đã chết ai? Còn ở ta những năm chiến tranh có những người coi kho phá cả một cỗ máy để lấy mấy cái vít.
Xét về mặt lý lẽ mà người trong cuộc đưa ra để biện hộ, giữa những việc đó với việc người ta rải đinh trên đường cao tốc, bán đủ các loại rau quả vừa phun thuốc trừ sâu, đá bóng vào lưới nhà để thực hiện hợp đồng bán độ, rồi chặt phá rừng vô tội vạ, rồi mua bán bằng cấp và chức sắc, rồi kê đơn cho bệnh nhân toàn những thuốc đắt tiền để ăn hoa hồng, rồi đưa ma túy vào trường học rủ rê con nhà lành vào con đường nghiện ngập cốt bán được ít hàng quốc cấm… có khác nhau là bao? Ở đâu thì cũng cùng một lý lẽ ấy, lý lẽ của ông già ném gạch dồn cá, vốn đã bắt rễ trong tiềm thức nhiều người chúng ta. Khi độ nguy hiểm của nó ta còn chưa cảm thấy rõ ràng thì làm sao đủ sức để chống lại?

“Lợi ích nhóm” và “chủ nghĩa tư bản thân hữu” - cảnh báo nguy cơ

* VŨ NGỌC HOÀNG
Lợi ích chính đáng (của một người, một nhóm) là lợi ích phù hợp với lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, góp phần và bổ trợ cho lợi ích chung; không mâu thuẫn, không gây thiệt hại cho lợi ích chung. Lợi ích chính đáng luôn là mục tiêu và động lực đối với hoạt động của con người, cần được tôn trọng, bảo vệ và khuyến khích. Quên điều này, không quan tâm đến lợi ích chính đáng của con người, ngăn cản các lợi ích chính đáng ấy, thì sự lãnh đạo và quản lý xã hội không thể thành công, trước sau cũng nhất định thất bại.
Ngược lại, “lợi ích nhóm” (theo nghĩa tiêu cực) thì mâu thuẫn với lợi ích chung của quốc gia, dân tộc; gây hại cho lợi ích chung, cho cộng đồng, làm suy yếu và gây tổn thất nghiêm trọng đối với lợi ích chung. “Lợi ích nhóm” là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc hình thành các “nhóm lợi ích”. Đặc điểm của các “nhóm lợi ích” là có sự kết hợp cùng mục tiêu lợi ích, cùng hành động, cùng phân chia lợi ích, giữa những người có nhiều tiền với những người có quyền lực trong nhà nước và trong Đảng cầm quyền. Có tiền chuyển hóa thành có quyền lực. Có quyền lực chuyển hóa thành có tiền. Người có tiền sẽ có quyền lực và người có quyền lực sẽ có tiền. Họ cùng nhau hành động để có quyền lực và có tiền ngày càng nhiều hơn. Đồng tiền cộng với quyền lực tạo thành sức mạnh khống chế, lũng đoạn tổ chức và xã hội. Nhận thức sự quan trọng của thông tin, “nhóm lợi ích” còn móc nối, “kết nạp”, kết hợp với một số nhóm truyền thông không lành mạnh để tác động chi phối dư luận theo hướng có lợi cho “nhóm lợi ích” và xuyên tạc vu cáo những người, những doanh nghiệp không cùng nhóm để tranh quyền lực và lợi ích. “Lợi ích nhóm” sẽ kéo theo và song hành với tham vọng quyền lực cùng với tham vọng tiền bạc.
Ảnh minh họa - Wb ĐCSVN và wb Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang
Ở nước ta, trong lãnh đạo, người đầu tiên công khai hóa và nêu lên sự cần thiết phải đấu tranh với “lợi ích nhóm” là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đồng chí đã phát biểu tại Hội nghị Trung ương 3 (khóa XI), và sau đồng chí, một vài đồng chí lãnh đạo khác của Đảng và Nhà nước cũng có nói đến, mặc dù chỉ mới thoáng qua và nhìn chung, chưa có chỉ đạo gì quyết liệt trong việc ngăn ngừa, phòng chống “lợi ích nhóm”. Trong giới khoa học của Việt Nam đã có một số nghiên cứu, nhưng chưa nhiều, và mới ở dạng lý thuyết chung, chưa gắn với thực tế tình hình nước ta. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã có nhiều tài liệu nghiên cứu vấn đề này, gắn với quá trình phát triển của một số quốc gia. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI của Đảng Cộng sản Việt Nam về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã xác định nhiệm vụ quan trọng phải đấu tranh chống “lợi ích nhóm”.
Hiện nay, “lợi ích nhóm” và hoạt động của “nhóm lợi ích” ở nước ta đã và đang diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực quan trọng. Đó là trong quản lý doanh nghiệp nhà nước, quản lý dự án đầu tư, nhất là đầu tư công; trong quản lý ngân sách, thuế, quản lý ngân hàng – tín dụng; trong quản lý các nguồn vốn và chương trình đầu tư về xã hội, trong quản lý tài sản, đất đai, bất động sản, tài nguyên khoáng sản, xuất nhập khẩu; trong công tác cán bộ, quản lý biên chế; trong quản lý các loại cấp giấy phép; kể cả trong các vụ án, trong tham mưu về chủ trương, chính sách và trong điều hành. Đi sâu vào nghiên cứu các vụ tiêu cực, tham nhũng có tổ chức, các vụ việc mà dư luận có nhiều ý kiến thì sẽ có nhiều thông tin cụ thể về tình hình “lợi ích nhóm” ở Việt Nam. Tức là tình hình xấu đã lan rộng, khá phổ biến và khá ngang nhiên, nghiêm trọng đến mức báo động.
“Lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” có tác hại gì? Trước nhất là nó làm cho đất nước bị tổn thất các nguồn lực và giảm hiệu quả đầu tư, bị kìm hãm không thể phát triển nhanh, thậm chí không thể phát triển bình thường, mất sức sống, nền kinh tế sẽ bị khiếm khuyết, dị tật, kinh tế “ngầm”, thị trường “ảo”, chụp giật, hoang dã, khống chế và “thanh toán” lẫn nhau để giành độc quyền, làm hỏng môi trường phát triển lành mạnh và bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp. Hầu hết các nước bị “bẫy” thu nhập trung bình kéo dài nhiều thập kỷ, thậm chí kéo dài hàng thế kỷ, loay hoay mãi, lùng nhùng mãi, không làm sao thoát ra được để trở thành một quốc gia phát triển, là do “lợi ích nhóm” – nguyên nhân trực tiếp và hàng đầu. Với sự chi phối của các “nhóm lợi ích”, nguồn lực quốc gia bị phân bổ và sử dụng không vì lợi ích chung của quốc gia, mà nhằm hướng phục vụ cho “lợi ích nhóm”; việc bố trí đầu tư, sắp xếp dự án và kể cả ban hành chính sách, điều hành xử lý công việc cũng vậy.
Nước ta sau mấy chục năm công nghiệp hóa, đến nay năng suất lao động xã hội vẫn quá thấp, vào loại thấp nhất khu vực Đông Á, hiệu quả đầu tư rất kém, nợ nần nhiều mà chưa rõ trả bằng cách nào, khi mà hiệu quả đầu tư (sử dụng nguồn vay ấy) quá kém; thu nhập rất thấp, sản phẩm công nghiệp xuất khẩu hầu như không có, các chương trình nội địa hóa không thành công, chủ yếu là làm thuê và cho thuê mặt bằng, nền kinh tế Việt Nam đang rơi vào “bẫy” thu nhập trung bình thấp. Nhìn lại nguyên nhân các nước bị “bẫy” thu nhập trung bình và nhìn lại tình hình nền kinh tế của ta thì đáng lo ngại.
Hậu quả thứ hai do “nhóm lợi ích” gây ra là nhất định sẽ chệch hướng khỏi mục tiêu xã hội chủ nghĩa chân chính (và cũng xa lạ với chủ nghĩa tư bản hiện đại), đất nước đi theo một con đường khác, sang CNTB thân hữu, đó là con đường không có tiền đồ và nguy hiểm, không có tự do và dân chủ (vì bị nhóm lợi ích độc quyền về kinh tế và chính trị thâu tóm, lũng đoạn), để lại hậu quả lâu dài mà dân tộc phải gánh chịu. Chúng ta mong muốn xây dựng một xã hội trên nền tảng của các giá trị nhân cách thì “nhóm lợi ích” lại thúc đẩy đồng tiền cộng với quyền lực chiếm địa vị thống trị. Thực chất “nhóm lợi ích” là đồng tiền (tư bản) chi phối quyền lực, trực tiếp tham gia giành và chiếm giữ quyền lực, làm cho quyền lực không còn là của nhân dân, cũng có nghĩa là chệch khỏi mục tiêu XHCN (chân chính). “Lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” có từ rất sớm, ít nhất là từ buổi đầu của thời kỳ phong kiến; nhưng sang thời kỳ TBCN thì nó phát triển và diễn biến phức tạp hơn, kể cả trình độ, quy mô và tính chất. Trong Chủ nghĩa tư bản “hoang dã”, “mông muội”, các “nhóm lợi ích” hoạt động phổ biến, công khai, tích lũy và tập trung tư bản bằng mọi thủ đoạn, kể cả bạo lực và giết người.
Nhân đây, trước khi nói đến hậu quả thứ ba do “nhóm lợi ích” gây ra, xin nói rõ hơn về CNTB thân hữu. Suốt mấy trăm năm nay, qua quá trình cạnh tranh, qua đấu tranh xã hội, chịu sự tác động của các quy luật khách quan về kinh tế và xã hội, CNTB buộc phải liên tục điều chỉnh, nhờ vậy mà tiến bộ dần. Ngày nay CNTB hiện đại đã có những tiến bộ đáng ghi nhận; họ đã tạo ra nhiều thành tựu và một số nước phát triển cao, tính chất xã hội hóa cao hơn, đang dần dần từng bước tạo ra các nhân tố mới của xã hội tương lai (XHCN). Đồng thời với quá trình tiến hóa tự nhiên ấy, trong thực tiễn thế giới tư bản còn xuất hiện một khuynh hướng khác, một khuynh hướng không lành mạnh, không bình thường, một khuynh hướng tha hóa, đó là CNTB thân hữu, một loại hình nguy hại cho sự phát triển của các quốc gia. Nước nào rơi vào “CNTB thân hữu” thì không ngóc đầu lên được. CNTB thân hữu thực chất là sự bành trướng, biến dạng, biến tướng, sự thoái hóa cao độ của “nhóm lợi ích” gây ra. Đây là một loại hình rất lạc hậu, khác xa so với CNTB hiện đại (CNTB hiện đại cũng có nhiều mặt tiến bộ, mà chúng ta cần nghiên cứu để học tập kinh nghiệm của họ) và tất nhiên là càng xa lạ với CNXH văn minh.
CNTB thân hữu còn có các cách gọi khác nhau, là “CNTB lợi ích”, “CNTB bè phái”, “CNTB bè cánh”, “CNTB lũng đoạn”… CNTB thân hữu không phải là một giai đoạn của CNTB, mà là một hiện tượng, một khuyết tật, một sự tha hóa của CNTB. Đây là loại hình “phát triển” mà trong đó các doanh nghiệp dựa vào ưu thế về mối quan hệ với những người có quyền lực để tạo ra nguồn thu tài chính cho cá nhân và đơn vị mình. Các doanh nghiệp này tập trung đầu tư vào “quan hệ”, vào “quan chức” để từ đó mà dùng quyền lực tạo ra lợi nhuận siêu ngạch. Đặc trưng của “CNTB thân hữu” là có sự cấu kết, xâm nhập lẫn nhau giữa nhóm đặc quyền kinh tế và nhóm đặc quyền chính trị, người kinh doanh cũng đầu tư vào quyền lực và người có quyền lực cũng tham gia “kinh doanh”, làm quan chức để làm giàu, họ cùng nhau bóc lột “mềm” toàn xã hội, bóc lột cả dân tộc, họ thâu tóm các nguồn tài chính, của cải và thâu tóm quyền lực chính trị, biến bộ máy nhà nước thành công cụ của một nhóm người (nhân danh nhà nước và đảng cầm quyền) thực hiện độc quyền kinh tế kết hợp với độc quyền chính trị. Nói họ thực hiện bóc lột “mềm” là vì không có hình thức tổ chức sản xuất – kinh doanh cụ thể để trực tiếp bóc lột giá trị thặng dư của lao động, sự bóc lột của họ tinh vi hơn, nhưng tai hại hơn, gây hậu quả rất nghiêm trọng. Sự bóc lột ấy thực hiện thông qua các dự án, các chương trình đầu tư; thông qua các cơ chế, chính sách (không phục vụ cho toàn xã hội mà phục vụ cho một nhóm người) và thông qua cách điều hành, cách quản lý mập mờ, không minh bạch, gây tiêu cực, tham nhũng… Họ thu lợi thông qua các công ty “sân sau”, công ty con, công ty cháu, công ty nhánh của gia đình, của “cánh hữu”. Nó ra đời trong (và gắn với) CNTB “man rợ”, CNTB “dã man”, chứ không phải CNTB văn minh.
Rất đáng lưu ý là, “CNTB thân hữu” không chỉ có trong xã hội tư bản (yếu kém và tha hóa) mà còn có trong các xã hội khác, ở các nước mới bắt đầu vận hành nền kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường, khi mà ở đó “lợi ích nhóm”, “nhóm lợi ích”, “lợi ích bè phái”, “tính thân hữu vì lợi ích” đang nổi lên và hoành hành; khi mà đảng cầm quyền cùng nhà nước do nó lãnh đạo bị suy thoái về đạo đức, tham nhũng trở nên phổ biến và pháp luật không được tuân thủ trong sự quản lý đất nước, quản lý xã hội (tức là trình độ quản trị quốc gia yếu kém). Thực tiễn thế giới cho thấy, CNTB thân hữu kìm hãm sự phát triển của quốc gia, làm cho đất nước rơi vào “bẫy” thu nhập trung bình hàng thế kỷ không ra được, làm băng hoại đạo đức xã hội (do lệch chuẩn giá trị); làm méo mó, biến dạng các chủ trương đường lối; gây nên các khuyết tật của nền kinh tế và của xã hội, để hậu quả lâu dài. CNTB thân hữu xuất phát từ các nguyên nhân, nguồn gốc: “Lợi ích nhóm” tiêu cực, các dạng Maphia, tham nhũng có tổ chức, sự suy thoái đạo đức của cán bộ có chức quyền, không có cơ chế kiểm soát quyền lực, để quyền lực tha hóa và không có cơ chế tốt để dân làm chủ, để nhân dân có quyền lực thật sự, trình độ và năng lực quản trị quốc gia yếu kém, luật pháp còn nhiều kẽ hở và việc chấp hành pháp luật không nghiêm, bảo kê, bao che và dung túng cho các sai phạm. Ở đâu và khi nào mà “nhóm lợi ích” không bị ngăn chặn có hiệu lực, hiệu quả, mà để nó phát triển mạnh, lan tràn, hoành hành, vai trò của nhà nước lành mạnh bị vô hiệu hóa, thì ở đó, tất yếu sẽ kéo theo, CNTB thân hữu xuất hiện và tồn tại, không thể tránh được, không thể khác được, dù có muốn hay không.
Lâu nay Đảng ta đã nhiều lần lưu ý nguy cơ chệch hướng. Nếu chệch hướng thì sẽ chệch đi đâu? Chắc không thể trở lại chế độ phong kiến, vì trình độ phát triển đã vượt qua. Cũng không thể chệch sang CNTB phát triển văn minh, vì trình độ phát triển của nước ta chưa đạt đến, và nếu vậy thì có ý kiến cho rằng cũng không đáng sợ, bởi chúng ta sẽ gần hơn với CNXH. Khả năng lớn nhất, hiện hữu, và cũng đáng sợ nhất, nguy hiểm nhất, là chệch hướng sang CNTB thân hữu, con đường nguy hại cho sự phát triển của quốc gia, dân tộc, đồng thời cũng nguy hại cho chế độ chính trị xã hội.
Trở lại hậu quả của “nhóm lợi ích”. Hậu quả thứ ba do “nhóm lợi ích” gây ra là sự suy đồi về văn hóa, đạo đức xã hội, do hệ giá trị bị đảo lộn (đồng tiền và quyền lực chiếm vị trí trung tâm và cao nhất, trong khi nhân cách bị đẩy sang bên cạnh và xuống hàng thứ yếu) và do tha hóa quyền lực (tác nhân mạnh nhất). Việc phân hóa giàu – nghèo sẽ ngày càng lớn, tạo ra bất bình đẳng và mâu thuẫn xã hội. Hỏng văn hóa và gây ra mâu thuẫn xã hội thì hậu quả khôn lường, thâm sâu và lan tỏa rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, ảnh hưởng đến nền tảng xã hội và sức mạnh nội sinh của dân tộc.
Hậu quả thứ tư do “nhóm lợi ích” gây ra là làm lẫn lộn thật – giả, đúng – sai, khác nhau giữa lời nói và việc làm, đường lối đúng không vào được cuộc sống…; làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng cầm quyền và đối với nhà nước, tức là làm hỏng nền tảng chính trị, dẫn đến mất ổn định chính trị, mất sức mạnh của một quốc gia, và từ đó các thế lực xâm lăng từ bên ngoài có thể lợi dụng thời cơ để xâm lấn, chèn ép, dẫn đến nguy cơ mất độc lập, thậm chí là mất nước.
Hậu quả thứ năm do “nhóm lợi ích” gây ra là chính sách sử dụng cán bộ méo mó, phát triển nạn chạy chức chạy quyền, “buôn quan”, “buôn vua”, sắp xếp cán bộ trên cơ sở “quan hệ, tiền tệ, hậu duệ”, chứ không phải sử dụng người có tài đức, làm hư hỏng đội ngũ cán bộ; là sự phát triển, sự gia tăng các hoạt động bè phái, mất đoàn kết nội bộ, phá vỡ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng cầm quyền, từ đó dẫn đến Đảng cầm quyền mất vai trò lãnh đạo, tan rã hoặc bị “nhóm lợi ích” thâu tóm làm thay đổi hoàn toàn về bản chất, không còn là Đảng phục vụ nhân dân, và nhà nước cũng hư hỏng, biến chất, không còn là nhà nước của dân, mà thành bộ máy cai trị, tham nhũng và bóc lột nhân dân, từ đó, nòng cốt chính trị đổ vỡ, bất ổn định chính trị từ bên trong.
Tình hình “nhóm lợi ích” ở Việt Nam đã đến mức độ nào? đang và sẽ đi về đâu? Như chúng ta đã biết, trước đây, trong lịch sử nhiều lần các triều đại phong kiến Việt Nam phải sụp đổ, kể cả có lúc phải chia cắt đất nước là do “nhóm lợi ích” gây nên. Ngày nay, tuy chưa có các công trình nghiên cứu cấp quốc gia một cách thật đầy đủ và khoa học về “lợi ích nhóm ở Việt Nam”, tuy nhiên, qua thông tin, qua dư luận xã hội, qua nghiên cứu của một số chuyên gia và cảm nhận của nhiều người, thì tình hình “lợi ích nhóm” đã khá nghiêm trọng, tương đối phổ biến, ở cấp nào cũng có, cấp cao hơn thì bệnh nặng hơn, ở lĩnh vực nào cũng có, kể cả ở những nơi mà xưa nay trong tiềm thức xã hội thường cho rằng đó là nơi luôn trang nghiêm, trong sạch. “Lợi ích nhóm” cũng chính là một kiểu tham nhũng nghiêm trọng nhất, tham nhũng có tổ chức. Mặc dù Đảng và nhà nước ta đã có nhiều cố gắng trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, nhưng thực tế xã hội vẫn diễn ra một tình hình rất đáng lo ngại là ở nước ta đang có nguy cơ chuyển biến dần dần sang “CNTB thân hữu”, do hoạt động của “nhóm lợi ích” gây nên. Thậm chí có ý kiến cho rằng nước ta đã rơi vào trong CNTB thân hữu rồi(?). Ở các nước, việc quản lý nhà nước và việc điều hành kinh tế tách biệt rành mạch, và ở họ doanh nghiệp nhà nước cũng ít hơn ta. Còn ở ta, với đặc điểm cơ quan nhà nước vừa quản lý về mặt nhà nước, vừa trực tiếp điều hành kinh tế, doanh nghiệp nhà nước nhiều, lại yếu kém trong quản lý, không ít trường hợp đằng sau cái vỏ doanh nghiệp nhà nước là tư nhân núp bóng, vì vậy, đề phòng “lợi ích nhóm” ở Việt Nam còn phức tạp hơn các nước, nếu không đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả. Đây là nguy cơ lớn nhất đang hiện hữu dần, đe dọa sự phát triển lành mạnh của đất nước và sự tồn vong của chế độ theo định hướng XHCN (lành mạnh). Nguy cơ này bao trùm, đáng lo hơn bất kỳ sự đe dọa nào, tác động chi phối chính, làm trầm trọng các nguy cơ khác, tạo điều kiện cho các nguy cơ khác phát triển và gây tác hại. Đây là điểm lớn nhất, cốt lõi nhất của cuộc đấu tranh về quan điểm lập trường; là trọng tâm trong chống “tự diễn biến”. Nếu Đảng và Nhà nước ta không ngăn chặn được hoạt động của “nhóm lợi ích”, để nó tiếp tục phát triển, dẫn đến lũng đoạn ngày càng lớn hơn thì sự phát triển của đất nước bị nguy khốn và chế độ chính trị cũng biến chất, cũng thay đổi theo chiều hướng xấu, chắc chắn không còn là con đường XHCN chân chính nữa, mà sẽ là nơi phát triển CNTB thân hữu, mong muốn của hàng triệu đảng viên cộng sản và nhân dân đã chiến đấu và hy sinh xương máu sẽ trở nên xa vời và vô vọng, mong muốn thiết tha của Bác Hồ cũng không thực hiện được, Đảng chân chính sẽ không còn và Nhà nước sẽ biến chất, dân tộc sẽ bị bóc lột, bị tước đoạt quyền lực và tài sản của cải, chế độ xã hội sẽ là một chế độ không có dân chủ và tự do, không có bình đẳng. Lúc này, hơn lúc nào hết, các cấp ủy và toàn Đảng phải nhận thức rõ nguy cơ và quyết tâm bảo vệ quyền lợi dân tộc, thành quả cách mạng và bảo vệ chính Đảng ta, không để Đảng bị “nhóm lợi ích” và CNTB thân hữu thao túng, làm hư hỏng, biến chất, dẫn đến đổ vỡ.
Chống “lợi ích nhóm” là công việc hết sức khó khăn, phức tạp, vì không rõ “chiến tuyến”, thường ở trong trạng thái lẫn lộn trắng đen, trong nó có ta và trong ta có nó, vừa là ta lại vừa là nó. Ngoài việc cần nhận thức đầy đủ và sâu sắc tình hình và nguy cơ, cần thảo luận rộng rãi trong Đảng và trên công luận; Đảng và cả hệ thống chính trị phải kiên quyết đấu tranh chống “lợi ích nhóm”, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, hết sức hệ trọng và cấp bách; tập thể lãnh đạo từ cấp cao nhất cần có quyết tâm chính trị và thật sự gương mẫu trong việc đấu tranh chống “lợi ích nhóm”, sử dụng tất cả các biện pháp có thể; khẩn trương nghiên cứu ban hành bổ sung, điều chỉnh các cơ chế kiểm soát quyền lực (bằng quyền lực nhà nước, bằng quyền lực của nhân dân và bằng công luận); cơ chế thực thi dân chủ rộng rãi, minh bạch thông tin và qui định rõ trách nhiệm giải trình, điều trần; tạo hành lang pháp lý chặt chẽ cho báo chí vào cuộc, cho nhân dân thực hiện quyền tham chính; đổi mới căn bản công tác cán bộ, thực hiện tranh cử trước nhân dân đối với các chức danh bầu cử và thi tuyển công khai đối với các chức vụ quản lý, đồng thời thực hiện cơ chế giám sát hoạt động, kết quả công việc, thi hành việc bãi miễn và thay đổi vị trí công tác của cán bộ khi xét thấy không có lợi cho cuộc đấu tranh chống “lợi ích nhóm”.
TS. V.N.H (Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương)

CHỌN CHỖ ĐỨNG CỦA LƯƠNG TRI HAY CHỖ NGỒI CỦA TRÍ NGỦ ?

 * BÙI MINH QUỐC
Đam San, người dám nghĩ điều không ai dám nghĩ
Đam San, người dám làm điều không thể làm!
(Trường ca Đam San).
Tôi đứng về phía những người chưa bao giờ khuất phục
Về phía những người đàn ông và đàn bà
mà tính khí không bao giờ khuất phục
(Walt Whiman).
Đại hội 4 Hội nhà văn Việt Nam (mà tôi có tham dự, họp tháng 10 năm 1989 tại Ba Đình) hội trường nóng lên từng giờ. Ngay phút đầu, khi nghe giới thiệu xong danh sách đoàn chủ tịch, tiến sĩ Phan Hồng Giang liền đứng dậy chất vấn: “Ông Tô Hoài ngày mai bay đi Cairô họp hội nghị nhà văn Á-Phi, tại sao lại để ngồi ở đoàn chủ tịch? Cần dành vị trí ấy cho người khác thực sự làm việc”. Đại hội dấy lên làn sóng phản đối. Thế là ông Tô Hoài phải tuyên bố rút khỏi đoàn chủ tịch. Theo đề cử và biểu quyết tức thì của đại hội, nhà thơ nữ Ý Nhi được bổ sung vào đoàn chủ tịch. Sự kiện này là cú đột phá chưa từng có, bứt ra khỏi một cái nếp cố hữu bấy lâu - mọi việc từ nội dung đến nhân sự đều được sắp đặt trước dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Ban bí thư trung ương Đảng, còn những người dự đại hội chỉ là những con rối bỏ phiếu hoặc giơ tay để hợp thức hoá cho sự sắp đặt ấy (Vào giờ giải lao, đã diễn ra một cuộc đối thoại bình đẳng cởi mở thẳng thắn giữa nhà thơ Ý Nhi với cố vấn Lê Đức Thọ - một nhân vật đầy quyền uy chi phối chính trường Việt Nam nhiều thập niên - về vấn đề đại hội nên hay không nên bầu trực tiếp Tổng thư ký Hội).
Không khí đại hội càng nóng dữ bởi lời lẽ không chút kiêng dè của nhà văn nữ Dương Thu Hương nhằm thẳng vào điều cấm kỵ số 1: “Cần nhấn mạnh rằng Đảng phải biết ơn Nhân Dân chứ không nên chỉ nói Nhân Dân biết ơn Đảng!” (Ít năm sau, Tổng bí thư Lê Khả Phiêu có nhắc lại, rằng công ơn của Nhân Dân đối với Đảng là công ơn sinh thành, nhưng ông nói chỉ để mị dân chứ chưa bao giờ tiến hành sinh hoạt đảng thật rốt ráo cho đảng viên, trước hết là đảng viên thuộc bộ phận mà cựu chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An gọi là “Vua tập thể ” thấm nhuần tư tưởng cực kỳ quan trọng này, nên bao năm ròng chỉ thấy “Vua tập thể ” trả ơn đấng sinh thành bằng hành động dùng công an quân đội và ngầm kết hợp cả xã hội đen cướp đất Dân, bịt miệng Dân).
Nhà thơ Trần Mạnh Hảo lên diễn đàn chất vấn: Nhà văn đâu phải con gà con vịt mà Đảng khi thì trói, khi thì cởi trói, rồi lại trói trở lại, bằng chứng nóng hổi là vụ khai trừ cách chức cắt lương hai cán bộ chủ chốt của Hội Văn nghệ Lâm Đồng -.nhà thơ Bùi Minh Quốc và nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự - chỉ vì đi lấy chữ ký đòi đổi mới triệt để, không đổi mới nửa vời, đòi chấm dứt tình trạng lời nói không đi đôi với việc làm. Nhà văn Trần Thùy Mai lên diễn đàn tập trung nói (trong nước mắt uất ức) về vụ kỷ luật phi lý nhà thơ Bùi Minh Quốc, nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự và yêu cầu Đảng phải tôn trọng tính độc lập về tổ chức của các hội đoàn (như chính nghị quyết trung ương 6 khoá 6 đã đề ra…
Đến đại hội 5 họp tháng 3 năm 1995, nhà thơ Trần Mạnh Hảo cùng các nhà văn Hoàng Minh Tường, Hoàng Bình Trọng vẫn kiên trì tiếp tục nhắc lại vụ này). Liên tiếp dậy lên những tràng vỗ tay rầm rộ dành cho những tiếng nói mạnh mẽ của lương tri lần đầu tiên cất lên tại một đại hội của Hội nhà văn Việt Nam. Rồi nhà văn Bửu Tiến lên diễn đàn xin lỗi anh em nhóm Nhân văn - Giai phẩm vì ông đã tham gia viết bài “đánh” Nhân văn. Ồng thành tâm bộc bạch: “Tôi đã cao tuổi, tôi phải nói lên được những lời này trên chính diễn đàn này cho được nhẹ lòng khi nhắm mắt xuôi tay…”. Rồi một sự kiện đặc biêt: Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh, Phó trưởng Ban Văn hoá Văn nghệ Trung ương lên diễn đàn với bài phát biểu của Trưởng ban Trần Độ vì vắng mặt nên ủy nhiệm cho ông đọc. Hơn một lần bài phát biểu của Trưởng ban Trần Độ bị ngắt quãng bởi những tràng vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt và kết thúc với một tràng vỗ tay dài nhất, vang động nhất. Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh nói lớn: “Tôi thấy tại đại hội này hiện ra sự thức tỉnh lương tri của một bộ phận dân tộc ta, bộ phận tinh hoa của dân tộc, là các nhà văn chúng ta !”.
Sự thức tỉnh của lương tri dân tộc biểu thị qua các nhà văn, tại đại hội của Hội nhà văn vốn bao lâu đã trở thành chốn ngủ lịm của lương tri! Thật là một tín hiệu đáng mừng, lại càng đặc biệt đáng chú ý là xuất hiện không lâu sau khi “Vua tập thể ” đàn áp lực lượng đổi mới bằng biện pháp buộc nhà văn Nguyên Ngọc thôi giữ chức Tổng biên tập báo Văn Nghệ, tờ báo đi đầu trong đổi mới, đồng thời khéo léo vô hiệu hoá Trưởng ban Trần Độ bằng thủ đoạn sáp nhập Ban Văn hoá Văn nghệ vào Ban Tuyên huấn trung ương.
Sự thức tỉnh của lương tri tại đại hội 4 đã đạt được một kết quả quan trọng: Xác định Hội nhà văn Việt Nam là tổ chức xã hội nghề nghiệp chứ không phải tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, đồng thời (lẳng lặng) bãi bỏ nguyên tắc “văn nghệ phục vụ chính trị”.
Nhưng từ sau đại hội 4, sự thức tỉnh của lương tri trong Hội nhà văn Việt Nam mạnh lên hay lịm dần đi ?
Đại hội 5 trở lại xác định Hội nhà văn Việt Nam là tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp và đến nay vẫn thế. Đáp lại các ý kiến đề nghị Hội trở lại là tổ chức xã hội nghề nghiệp như đại hội 4 đã xác định, chủ tịch Hội Hữu Thỉnh cho biết: Phải khó khăn lắm ông mới xin cho Hội được là tổ chức chính trị vì tổ chức chính trị được cấp kinh phí cao hơn nhiều các tổ chức xã hội nghề nghiệp (!?) Nhiều nhà văn hội viên gạo cội tỏ ra phấn hứng về việc đó và bảo nhau: Hữu Thỉnh xin tiền giỏi, nên ủng hộ Hữu Thỉnh làm khoá nữa. Quả nhiên, sau hai khoá 6 và 7, đến đại hội 8 (họp tháng 8.2010) Hữu Thỉnh tiếp tục ngồi ghế chủ tịch thêm khoá thứ ba. Mới đây, tại đại hội của Hội nhà văn Việt Nam khu vực miền Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long họp ở Mỹ Tho hôm 04.05.2015, khi phát biểu về chuẩn bị nhân sự lãnh đạo Hội cho khoá 9, chủ tịch Hữu Thỉnh nêu tấm gương bên Hội Văn nghệ Dân gian: Giáo sư Tô Ngọc Thanh đã làm Tổng thư ký, Chủ tịch 4 khoá nay ngoài 80 tuổi vẫn đang làm tốt chức trách chủ tịch khoá thứ năm và có thể làm tiếp khoá thứ sáu. Có vẻ Hữu Thỉnh đang chuẩn bị tâm lý cho các hội viên được bầu đi đại hội đại biểu toàn quốc sẵn sàng chấp nhận ông - một người được coi là giỏi xin tiền - làm chủ tịch khoá thứ tư.
Vậy đó, chính trị của Hội nhà văn Việt Nam hiện nay là như thế.
Chưa cần phải là những tinh hoa của dân tộc, chỉ với một lương tri bình thường, cũng đủ thấy rõ rằng nơi đây không còn chút gì của truyền thống VĂN HOÁ CỨU QUỐC - tổ chức tiền thân của Hội nhà văn Việt Nam, không còn chút gì của chính trị yêu nước vì dân, nơi đây không một ai dám khẳng định lập trường chính trị TỔ QUỐC TRÊN HẾT QUYỀN DÂN TRÊN HẾT nữa.
Với một lương tri bình thường cũng đủ thấy rõ rằng: Cái tổ chức chính trị này - Hội nhà văn Việt Nam - mà “Vua tập thể ” lấy tiền thuế của dân để chăm nuôi hậu hĩnh là cốt dùng nó làm bệ đỡ cho chiếc ngai quyền lực của mình (hãy nhấp chuột một giây vào mạng mà ngắm cựu Tổng bí thư Nông Đức Mạnh ngồi ngai rồng, ông này làm Tổng tới hai khoá đấy). Nhân dân coi Hội NVVN là tổ chức nô bộc của “Vua tập thể”, có oan không ? Với một lương tri bình thường cũng đủ thấy rõ rằng: Không oan !
Với một lương tri bình thường, tha thiết muốn bớt đi một gánh nặng chi phí lớn cho nhà nước (lấy từ tiền dân đóng thuế), tại đại hội 8 (tháng 8 năm 2010) có 28 nhà văn đứng đầu là giáo sư Nguyễn Huệ Chi (tiếp theo là các nhà văn Lại Nguyên Ân, Trần Nhương, Trần Thùy Mai, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Quang Hà, Nguyễn Khắc Phê, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ, Bùi Minh Quốc, Ngô Minh, Đoàn Tử Huyến, Võ Văn Trực, Võ Thị Hảo, Trần Kỳ Trung, Dư Thị Hoàn, Trịnh Hoài Giang, Nguyễn Khắc Thạch, Nguyễn Đắc Xuân, Cao Duy Thảo, Trần Công Tấn, Nguyễn Võ Lệ Hà, Hoàng Tiến, Thanh Thảo, Nguyễn Quang Lập, Trần Ninh Hồ, Thái Thăng Long) đã cùng nhau ký kiến nghị yêu cầu đại hội quyết định dứt khoát rời bỏ cơ chế bao cấp, chuyển từ hội xin tiền nhà nước thành hội tự nuôi tự quản. Báo Văn Nghệ khăng khăng nhất định không chịu đưa thông tin cực kỳ quan trọng này mặc dù hai nhà văn Tô Nhuận Vỹ, Bùi Minh Quốc nhiều lần gặp trực tiếp tổng biên tập Nguyễn Trí Huân yêu cầu đăng.
Chỉ với một lương tri bình thường, các đảng viên hội viên Hội NVVN Nguyễn Thị Ngọc Trai, Hà Nội, vào Đảng năm 1963, nhà báo, nhà văn, nguyên Phó Tổng biên tập báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam; Tô Nhuận Vỹ, TP. Huế, vào Đảng năm 1967, nhà văn, nguyên Bí thư Đảng Đoàn kiêm Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên – Huế, Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, nguyên Giám đốc Sở Ngoại vụ tỉnh Thừa Thiên – Huế; Nguyễn Đắc Xuân, TP. Huế, vào Đảng năm 1973, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa, nguyên Trưởng Đại diện báo Lao Động tại khu vực Miền Trung - Tây Nguyên; Ngô Minh, Hà Nội, vào Đảng năm 1975, nhà báo, nhà văn, TP. Huế; Trần Đình Sử, vào Đảng năm 1986, Giáo sư Tiến sĩ Ngữ văn, đã tham gia ký Thư ngỏ của 61 đảng viên phản đối đường lối cách mạng XHCN, khẳng định lập trường cách mạng dân tộc dân chủ của mình…
Chỉ với một lương tri bình thường, giờ đây các hội viên Hội NVVN hẳn phải thấy rõ rằng “Vua tập thể ”đang lôi cả cái đảng cầm quyền này cùng các tổ chức nô bộc của nó vào một cuộc tự sát về chính trị và văn hoá.
Chỉ với một lương tri bình thường, giờ đây các hội viên Hội NVVN hẳn phải thấy rõ rằng mình đang lâm vào cảnh nếu giữ tư cách hội viên thì mất tư cách của người cầm bút có lương tri.
Đã đến lúc các hội viên Hội NVVN phải dứt khoát chọn chỗ đứng của lương tri hay chỗ ngồi của trí ngủ (thực ra phần lớn là giả vờ ngủ) !

Khi ông Sự cáo quan về vườn

* TRẦN TUẤN
Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố Hội An (Quảng Nam), ông Nguyễn Sự vừa quyết định “cáo quan hoàn dân” khi còn hơn 2 năm nữa mới đến tuổi nghỉ hưu.Không quá bất ngờ, khi câu chuyện cáo quan của ông từng xảy ra từ 2 năm trước, nhưng giờ mới toại nguyện. “Làm lãnh đạo lâu quá cũng là cái “tội”…”, ông trầm ngâm bộc bạch.
Không chỉ giới nghệ sĩ, mà ngay với chính khách, nhiều người có số nhất cử nhất động thiên hạ đều tò mò muốn biết, muốn hay, hóng cả ngày không chán. Gọi là nhân vật của báo chí cũng được, mà nói kiểu mê tín thì những vị ấy bị sao “truyền thông” bổ/rọi xuống đầu, cách gì cũng nổi nênh đường dư luận. Nhiều quan rất to, nhưng thiếu sức hấp dẫn với truyền thông, nên có vẻ “khuất lấp” đâu đâu ấy. Còn những người “tỉnh lẻ” (từng một thời) như ông Nguyễn Bá Thanh của Đà Nẵng, Nguyễn Sự ở Hội An, thì hắt hơi phát, thiên hạ đều biết.
Nhân nhắc đến hai chữ “tỉnh lẻ”, bây giờ mà gọi Đà Nẵng, Hội An là tỉnh lẻ, chắc sẽ bị hứng đá không ít, không chỉ từ dân ở những nơi trên. Hội An giờ đã là “Ngôi làng toàn cầu”, đến nỗi những đêm giao thừa dương lịch, đứng bên sông Hoài chờ đếm ngược thời gian, thấy cả rừng Tây từng cặp ôm hôn nhau say đắm đúng giây phút bước sang năm mới, mà ngỡ như đang ở quảng trường nào đó giữa châu Âu ! Từ khóa hai chữ “Hội An” trong bản đồ du lịch, văn hóa không kém cạnh bất cứ địa danh nổi tiếng bậc nhất nào trên thế giới. Còn Đà Nẵng riêng mấy ngày nghỉ lễ 30/4 vừa rồi đón gần nửa triệu du khách, bằng nửa dân số thành phố ! 
Ông Sự và ông Bá Thanh giống nhau ở chỗ luôn giàu có về sức nghĩ, sức sáng tạo, khả năng biến ý tưởng thành hiện thực. Và đều đặc biệt hấp dẫn bởi cách nói năng dân dã, thẳng thừng, nhưng ẩn chứa nhiều triết lý, thông điệp khiến người ta giật mình. Như cái cách ông Sự ví von mình không muốn làm cái tàu lá chuối đã già nhưng vẫn đeo bám mãi trên thân cây, phải đợi đến khi người ta lấy dao cắt bỏ đi, trong khi các loại cây khác lá khi già đều tự động buông mình rơi về đất. Quan chức “lá chuối” kiểu ấy giờ ở đâu cũng gặp. Còn ông Bá Thanh nổi tiếng với bài thơ “Sinh ra vốn dĩ là dân…”. Có điều ông Bá Thanh đã vội ra đi khi chưa kịp một ngày “hoàn dân”, còn ông Sự thì có cơ hội “trả mũ áo về vườn”.
Nhưng về kỹ trị, thì hai ông Thanh và ông Sự trái ngược nhau hoàn toàn. Hẳn nhiên là do đặc thù Đà Nẵng và Hội An quá khác nhau. Nếu với Đà Nẵng, ông Bá Thanh Khai phá - Xây dựng, thì với Hội An, ông Sự buộc phải Chèn chống – Giữ gìn. Như cách nói của ông, rằng “Hội An đổi thay nhờ… không thay đổi”. Sự “không đổi” trong cốt lõi đời sống văn hóa tinh thần, nếp sống, cung cách ứng xử với thiên nhiên và con người của người Hội An đã khiến đô thị cổ này có một sức hút mãnh liệt. Người Hội An không phá tự nhiên, nhà cửa luôn có khoảng sân vườn, sông ngòi không lấp lấn,…, nhờ thế mà sống chung và vượt qua bão lũ, giữ gìn khu dự trữ sinh quyển thế giới. Điều đó làm cho Hội An phát triển. Người Hội An biến vườn rau, đồng ruộng thành sản phẩm du lịch chứ không hề lấp ruộng, phá bờ. Nên mới có những tour hút khách du lịch về làng Trà Quế trồng rau, tổ chức cho khách Tây cưỡi trâu, trồng lúa, chài lưới ven sông… Ông Sự rất khôn ngoan, sáng suốt để nhận ra rằng “hiện nay, nơi nào thỏa mãn được nhu cầu tinh thần thì nơi đó thu hút, thời buổi hiện đại phải có cách làm hiện đại trên nền truyền thống” 
Ông Sự tổ chức cho khách ra đảo Cù Lao Chàm đốt lửa hát nhạc…boléro, trong sản phẩm du lịch “Đêm Cù Lao” vừa ra mắt. Nhưng Tây thì cũng rất Tây. Như cái cách cho học sinh từ lớp 2 đến lớp 7 các trường tiểu học trình diễn đàn piano phục vụ du khách vào các tối thứ Sáu tuần thứ 1 và tuần thứ 3 hàng tháng tại nhà cổ 78 Lê Lợi, trong chương trình mang tên Cung đàn tuổi thơ, với các tác phẩm kinh điển thế giới. 
Ông Sự phát động phong trào Nói không với bao nilon tại Cù Lao Chàm, tháng 5.2009
… Nên cái sự đột nhiên cáo quan của ông Sự, tất chẳng phải chuyện vừa. Nhất là khi cánh báo chí to nhỏ, choai chíp là bạn chí cốt với ông ở xứ này còn “đông hơn quân Nguyên”. Lại nữa, khi khắp nơi đang mùa đại hội, chộn rộn nóng ran chuyện ghế bàn, nhân sự. Ai cũng xuýt xoa tiếc rẻ, khâm phục. Nhưng cũng có người thẳng thừng, vì tính ra ông Sự chỉ còn…29 tháng nữa là đến tuổi hưu, không đủ điều kiện tham gia cấp ủy ! Hỏi chuyện ấy, ông cười, bảo từ đầu năm 2013 ông đã xin nghỉ rồi cơ mà. Nhưng không được. “Hơn 40 năm nay họ quyết định mình rồi. Bây giờ mình phải tự quyết định mình. Nguyễn Sự phải quyết định Nguyễn Sự thôi”.
21 năm làm lãnh đạo Hội An, từ khi còn là cái thị xã quê mùa bé xíu, ông trầm ngâm: “Nghiệm lại, thất bại của mình là làm lãnh đạo lâu quá, âu cũng là một cái “tội”, không đào tạo được kế cận, anh em có phần dựa dẫm…”. Ông muốn Hội An có tư duy mới mẻ, đột phá hơn. Có vẻ như những năm qua ông chờ đợi, tìm kiếm người thay thế mình. Hồi đầu năm 2005, ông Sự được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới. Nghĩ, bây giờ không biết còn có thể phong anh hùng Lao động cho một lãnh đạo đương chức là Phó Bí thư Thị ủy, Chủ tịch HĐND như ông Sự không ?. Chơi với nhau 20 năm, tôi biết, với Nguyễn Sự, khi nào không có ý tưởng mới là bứt rứt lắm, không chịu được. “Cũng có nhiều anh em tốt kế cận, không lo. Có điều mong muốn anh em thêm kinh nghiệm, và bản lĩnh hơn nữa. Bản lĩnh chịu đựng mọi áp lực, có dũng khí đấu tranh lại cả với cấp trên nếu có những quyết định không phù hợp với địa phương, và chịu áp lực trước sự phê phán của dân nếu mình làm đúng. Và tất nhiên phải có dũng khí từ chức nếu làm sai”. 
Nên giờ ai cũng hỏi lý do thực khiến ông Sự nghỉ ngang. Thì chỉ vì ông muốn nghỉ, và được nghỉ thôi, chứ có gì đâu. Như có lần ngồi cà phê tán gẫu, ông bảo kiểm điểm lại cuộc đời công tác của mình, “khuyết điểm” lớn nhất là trong nhiều cuộc họp ông… “quát mắng” cấp trên của mình nhiều quá ! 
Cách điều hành của ông Sự sát sạt từng việc một, y như ông Bá Thanh ở Đà Nẵng dạo trước, chẳng việc gì qua mắt nổi. Nhưng kiểu cách ông Sự lại có vẻ thong dong. Có lẽ bởi cái vóc dáng cò hương, ông mặc đồ gì cũng khó ra dáng ông quan đứng đầu, mà lại giống anh giáo làng. Giờ về vườn rồi, ngó bộ ông sẽ lại càng thong dong, vì ông bảo khi làm việc đã làm hết mình, thì nay nghỉ cũng sẽ “nghỉ hết mình”. 
Trong ngôi nhà thanh bạch mạn Cẩm Thanh của ông đến giờ vẫn nuôi gà nuôi vịt, chim chóc, trồng rau. Về đọc sách, câu cá, nuôi chim, trồng cây…, toàn là những thú vui từ nhỏ. Ông vẫn đạp xe túc tắc, như hồi còn đương chức đạp xe đi làm, trừ mấy bữa nắng nóng quá. Ông bảo có câu của Lão Tử “Công thành thân thoái, thiên chi đạo” (Công thành nên thoái lui về, đó là đạo trời). Người xưa dạy rồi, cố giữ làm gì, có đầy mãi được đâu. Cứ mài cho bén nhọn, chắc gì đã bền đâu. 
Nhớ ra ông Sự là em con cô cậu ruột với bậc túc nho Vũ Ngọc Liễn xứ Bình Định. Mấy năm trước, nhân báo nhà có đăng bài sai sót (của cộng tác viên) về cụ Liễn lúc sinh thời, tôi vào Quy Nhơn cáo lỗi cụ. Lão ngoan đồng họ Vũ khi ấy tuổi ngót cửu tuần, phẩy tay cười như không có chuyện chi, rót liền mấy chung rượu mời khách. Rồi nhân chuyện nói về xứ Quảng, cụ hỏi ngoài ấy “thằng Sự” làm quan có “được” không. Còn ông Sự, khi nghe tôi hỏi về cụ Liễn, bèn gật gù, nói khâm phục khí khái của ông anh hơn mình hơn ba chục tuổi. Bị oan ức, dèm pha vẫn thản nhiên vô chấp, không hề lấy đó làm điều. “Ổng hơn tau món uống rượu – ông Sự cười khà - Năm kia, trước khi mất ổng về Hội An thăm mộ ông bà, tau cấm rượu ổng ba ngày, ổng bó tay, xin về, rồi sau đó “đi” luôn”.
Hỏi về chuyện được mất, ông Sự nói, “mình nghỉ rồi, có mất chăng là mất tiếng dạ thôi, còn lại chẳng mất gì”. Đúng thật, chẳng mất gì. Còn ba thứ vâng dạ giả dối chốn quan trường ấy, mất đi là may lắm rồi. Nhưng ông vẫn luôn còn những người bạn. Ông kể sáng nay, Trương Duy Nhất điện cho ông. Trò chuyện thế nào Nhất khóc tu tu… 
Rồi ông cười lớn, khoe nhà ông có 3 “cục vàng” chưa kê khai tài sản, đó là 3 thằng cháu nội con của hai cậu con trai. Hai con trai ông Sự sau khi tốt nghiệp đại học ở TP HCM, giờ sống đời làm dân, thuê nhà mở cơ sở kinh doanh, sửa chữa điện tử, máy tính đúng nghề đã học. Thế cho nhẹ lòng…
Ông quan đi xe đạp
Ông Sự thị sát tình hình bão lụt Hội An tháng 11.2007
Ông Sự bảo, thứ Bảy ngày 13/6 tới ông sẽ thôi chức Bí thư Thành ủy, để BCH họp bầu Bí thư mới. Tuy nhiên ông vẫn tham gia công tác chuẩn bị cho Đại hội Đảng bộ Hội An (diễn ra ngày 23/7/2015) với tư cách Thành ủy viên, và sau đại hội sẽ nghỉ hẳn. 

Những con số giả tạo không thể làm đẹp bộ mặt xã hội

... 90% học sinh đạt loại giỏi trong ngành giáo dục, 95% du khách nước ngoài hài lòng với du lịch Việt Nam kể cả những người suýt chết ở trên tàu du lịch bốc cháy ở Vịnh Hạ Long, bị móc túi ở chợ Bến Thành, bị “chặt chém” ở phố cổ Hà Nội…
Tu hú kêu, hoa phượng đỏ báo hè về cùng với những con số siêu đẹp từ ngành giáo dục khi người ta công bố tỷ lệ học sinh giỏi là 90%. Ai cũng một thời cắp sách và đều biết rằng, mỗi lớp chỉ có dăm ba học trò giỏi thật sự. Lấy đâu ra trò giỏi nhiều đến nỗi tìm không ra học sinh trung bình, học sinh yếu kém!
Qua rồi cái thời thầy Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân tuyên chiến với bệnh thành tích trong giáo dục. Thái độ quyết liệt của người đứng đầu ngành giáo dục khi ấy đã khiến tỷ lệ tốt nghiệp THPT trở về đúng thực chất như chưa bao giờ đúng như vậy.
Nay vắc-xin chống bệnh thành tích hết hiệu năng rồi. Tỷ lệ giáo dục nào cũng cao, cũng đẹp và việc biến học trò thành “chuột bạch” thí nghiệm lại tiếp tục. Chẳng hạn cấm thi tuyển sinh lớp 6 ở các trường THCS công lập do không có số liệu cụ thể học sinh lớp 6 trên các xã, phường. Việc thi tuyển chỉ xảy ra ở trường tư thục, trường điểm, chắc không đến 5% hoc sinh cần học lớp 6. Nay tuyển mà không có tiêu chí thì tuyển cách gì?
Và không chỉ ngành giáo dục, xu thế làm đẹp số liệu phổ biến ở nhiều ngành, nhiều cấp, đến nỗi Quốc hội phải cho sửa đổi Luật Thống kê. 90% học sinh đạt loại giỏi trong ngành giáo dục, 95% du khách nước ngoài hài lòng với du lịch Việt Nam kể cả những người suýt chết ở trên tàu du lịch bốc cháy ở Vịnh Hạ Long, bị móc túi ở chợ Bến Thành, bị “chặt chém” ở phố cổ Hà Nội…
Tại rất nhiều diễn đàn kinh tế, cử tọa đều hơn một lần ngạc nhiên bởi các số liệu vênh nhau đến kỳ quặc. Ngay cả các số liệu chính thức của Nhà nước cũng không chuẩn và đặc biệt quan tâm là tình trạng “vênh” kinh khủng giữa GDP cả nước với GDP các tỉnh vì nhiều tỉnh đạt cao gấp rưỡi cả nước. Xu hướng làm đẹp số liệu dẫn đến những bất cập trong chính sách kinh tế xã hội vĩ mô.
Tổng cục Thống kê cũng bó tay vì các số liệu đẹp, siêu đẹp kiểu này. Còn nhớ có lần chúng tôi dự cuộc họp khẩn cấp về khắc phục hậu quả bão lụt ở một tỉnh miền Trung. Về đến Hà Nội đọc tin tổng hợp của bộ, số liệu về thiệt hại vật chất của tỉnh này đã tăng thêm vài chục tỉ. Bấm điện thoại gọi về thì được nghe câu trả lời tỉnh queo: Các tỉnh nó đều tăng mức thiệt hại, tỉnh em cũng không thể khác.
Sau 12 năm đi vào cuộc sống Luật Thống kê 2003 đã tỏ ra không còn thích hợp, cần sửa đổi.
Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đang tiến hành việc này. Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đã trình Quốc hội Dự án Luật Thống kê (sửa đổi).
Theo Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Nguyễn Văn Giàu, Luật Thống kê (sửa đổi) đã được soạn thảo, chuẩn bị công phu, đầy đủ trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành Luật Thống kê năm 2003 và rà soát các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán. Hồ sơ Dự án Luật cơ bản tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Đa số ý kiến đại biểu Quốc hội tán thành phạm vi điều chỉnh dự thảo Luật, quy định nội dung hoạt động thống kê, sử dụng thông tin thống kê Nhà nước; quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức cá nhân trong hoạt động thống kê, đồng thời quy định mục đích, nguyên tắc, yêu cầu, phạm vi của hoạt động thống kê ngoài Nhà nước và giá trị của thông tin thống kê ngoài Nhà nước.
Theo dự thảo, phạm vi điều chỉnh bao gồm thống kê Nhà nước và thống kê ngoài Nhà nước cho thấy sự hoàn thiện khuôn khổ pháp lý toàn diện của Dự thảo Luật đối với hoạt động thống kê của toàn xã hội. Đặc biệt, việc quy định thống kê ngoài Nhà nước bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo quy định của Hiến pháp, đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và nhu cầu của tổ chức, cá nhân.
Có ý kiến cho rằng, thống kê là loại hình dịch vụ đặc biệt mà sản phẩm của thống kê có thể tác động lớn đến kinh tế - xã hội, có tính chất dẫn dắt, định hướng xã hội, do vậy nhiều ý kiến đề nghị nên đưa hoạt động thống kê ngoài Nhà nước vào loại hình kinh doanh có điều kiện. Cũng có ý kiến khác đề nghị Dự thảo Luật chỉ nên điều chỉnh hoạt động thống kê Nhà nước, còn hoạt động thống kê ngoài Nhà nước nên được điều chỉnh bởi pháp luật chuyên ngành khác.
Về hệ thống thông tin thống kê Nhà nước, đa số ý kiến tán thành với quy định dự thảo, hệ thống thông tin thống kê Nhà nước gồm 4 cấp: hệ thống thông tin thống kê quốc gia; hệ thống thông tin thống kê bộ, ngành; hệ thống thông tin thống kê cấp tỉnh và hệ thống thông tin thống kê cấp huyện.
Về hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và điều chỉnh, bổ sung hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, đa số ý kiến tán thành với quy định hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia kèm theo danh mục trong Luật và phân công cơ quan có trách nhiệm thu thập, tổng hợp chỉ tiêu thống kê. Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia phản ánh đầy đủ các chỉ tiêu cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước do Quốc hội quyết định, đồng thời xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia cần phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
Có ý kiến đề nghị xem xét tính kết nối thống nhất trong quá trình phân cấp thực hiện nhằm khắc phục sự chênh lệch số liệu, nhất là chỉ tiêu GDP cả nước và GDP địa phương, chỉ tiêu việc làm mới, chỉ tiêu giảm hộ nghèo giữa bộ quản lý chuyên ngành và cơ quan thống kê trong thời gian vừa qua, phù hợp với phương pháp thống kê thế giới để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Về bảo mật thông tin thống kê Nhà nước, đa số ý kiến tán thành với quy định của dự thảo về bảo mật thông tin thống kê Nhà nước, tuy nhiên đề nghị xem xét quy định rõ việc bảo mật thông tin thống kê phải tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật Nhà nước trong quá trình thực hiện hoạt động thống kê.
Về thẩm định hệ thống chỉ tiêu thống kê, đa số ý kiến nhất trí với Dự thảo Luật quy định việc cơ quan thống kê trung ương có trách nhiệm thẩm định hệ thống chỉ tiêu thống kê của bộ, ngành; thẩm định phân loại thống kê ngành, lĩnh vực; thẩm định phương án điều tra thống kê; thẩm định chế độ báo cáo thống kê cơ sở và chế độ báo cáo thống kê tổng hợp cấp bộ, ngành trước khi ban hành nhằm khắc phục sự chênh lệch số liệu thống kê giữa cơ quan thống kê trung ương và bộ, ngành. Tuy nhiên, cần làm rõ cơ quan chịu trách nhiệm pháp lý đối với số liệu thống kê khi công bố trong trường hợp phát hiện sai sót khi thẩm định.
Hy vọng với Luật Thống kê sửa đổi được thông qua trong kỳ họp này sẽ chấm dứt tình trạng “ông nói gà bà nói vịt” trong đánh giá tình hình kinh tế xã hội do số liệu “vênh” ở những trường hợp không phải do bệnh thành tích mà do không thống nhất cách tính toán, thống kê.
(Petro times)

Người dân đang phải gánh hơn 300 loại phí, lệ phí

Người dân è cổ vì đủ thứ phí, lệ phí, vào túi ai?
Danh mục các loại phí và lệ phí, Chính phủ quy định chi tiết 301 khoản thu trong đó 171 khoản phí và 130 khoản lệ phí.
Ba cơ quan có thẩm quyền ban hành các loại phí, lệ phí là: Chính phủ, Bộ Tài chính và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
Báo Dân trí dẫn lời ông Phạm Đình Thi, Vụ trưởng Vụ Chính sách Thuế (Bộ Tài chính) cho biết, pháp lệnh hiện hành quy định các khoản lệ phí, phí gắn với dịch vụ công do cả Nhà nước và doanh nghiệp cung cấp. Mức thu, quản lý và sử dụng phí, lệ phí do Nhà nước quy định. 
Tuy nhiên, theo ông Thi, điều này chưa khuyến khích doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ công. Để đẩy mạnh xã hội hoá, thu hút nguồn lực tham gia cung cấp dịch vụ công, dự kiến sẽ quy định phạm vi điều chỉnh theo hướng Danh mục các khoản phí và lệ phí gắn với dịch vụ công do Nhà nước cung cấp; trường hợp dịch vụ đó do doanh nghiệp cung cấp thực hiện giá dịch vụ theo quy định của Luật Giá.
Trước nhiều ý kiến cho rằng người dân đang phải chi trả quá nhiều khoản phí, lệ phí, đại diện Vụ Chính sách thuế cho rằng, người dân cần phân biệt rõ đâu là phí, lệ phí và đâu là giá dịch vụ.
“Khi đi vào một khu du lịch phải mua vé vào cửa, vào trong khu du lịch phải trả vé sử dụng các dịch vụ… Khoản tiền trả để mua vé đó đều được người dân gọi là phí nhưng thực ra là giá dịch vụ do các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng khu du lịch đưa ra. Mà giá dịch vụ thì được thực hiện theo cơ chế thị trường và không được điều chỉnh trong các văn bản quy phạm về phí và lệ phí”, ông Thi nói.
Ông Thi khuyến nghị: “Khi ở đâu đó đề ra một khoản thu thì các tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan, cá nhân tổ chức thu cần giải thích rõ cho đối tượng trả khoản tiền đó bản chất đấy là giá chứ không phải phí, lệ phí do Nhà nước thu để tránh hiểu nhầm”.
TP.HCM: 
ĐBQH vừa đề nghị xem lại phí đường bộ, TP đã thu
Theo Sở GTVT TP.HCM, trong tháng 7/2015, toàn bộ các phường, xã ở TP.HCM sẽ triển khai đại trà thu phí đường bộ đối với xe gắn máy.
Thông tin này được đưa ra chỉ sau một tuần khi thảo luận tổ về Luật phí và lệ phí chính các đại biểu QH đoàn TP.HCM đề nghị Bộ Tài chính rà lại phí bảo trì đường bộ dành cho xe máy, nếu không phù hợp thực tiễn nên bỏ.
Khi đó đại biểu Trương Thị Ánh, Phó Chủ tịch HĐND TP HCM cho rằng: "Muốn vận hành được xe máy, người ta phải đổ xăng mà khi mua xăng, người dân đã trực tiếp đóng một khoản phí cho nhà nước. Nếu cứ thu thêm một khoản nữa, sợ rằng đó là tận thu của dân”.
Với hơn 6 triệu xe máy đăng ký trên địa bàn, 
số tiền phí sử dụng đường bộ TP.HCM dự kiến thu được khoảng 307 tỷ đồng.
Ngoài ra, ĐB Ánh cũng nếu một thực tế khác là xe máy là phương tiện gắn nhiều với đời sống người nghèo. Nhiều khi chiếc xe máy chỉ mấy triệu đồng. “Như vậy có tính hợp lý hay không”, bà Ánh đặt câu hỏi và đề nghị Bộ Tài chính rà soát lại các loại phí để khi ban hành phù hợp với thực tế.
Trước việc các đại biểu vừa nêu kiến nghị được 1 tuần thì địa phương lên tiếng thu phí đồng loạt, trao đổi với Đất Việt bên hành lang Quốc hội ngày 5/6, bà Ánh bình luận: "Đây là chuyện bình thường vì phí đường bộ đã quy định từ lâu".
"Trước mắt chúng ta cứ thực hiện theo như quy định của Chính phủ nhưng về trách nhiệm của chúng tôi khi lắng nghe ý kiến của người dân thì phải phản ảnh tới Quốc hội, với Bộ GTVT nghiên cứu xem xét lại vấn đề này. Về phí đường bộ đối với xe máy hiện nay chưa hợp lý thì cần phải nghiên cứu xem xét thêm", bà Ánh nói.
(Theo Dân trí/ ĐVO)

7 tháng 6, 2015

"TRONG NÓ CÓ TA, TRONG TA CÓ NÓ"

Lê Chân Nhân
(Dân trí) - Chân dung của nhóm lợi ích tuy không rõ nét, “trong nó có ta và trong ta có nó”, thật giả lẫn lộn, tà chính bất minh nhưng cho dù ma quái cỡ nào, cũng rất dễ nhận diện.
(Minh họa: Ngọc Diệp)
Trong bài viết “Lợi ích nhóm và chủ nghĩa tư bản thân hữu – cảnh báo nguy cơ” đăng trên báo Đảng Cộng sản Việt Nam, TS Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng,Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương nói về chân dung của nhóm lợi ích: “Chống “lợi ích nhóm” là công việc hết sức khó khăn, phức tạp, vì không rõ “chiến tuyến”, thường ở trong trạng thái lẫn lộn trắng đen, trong nó có ta và trong ta có nó, vừa là ta lại vừa là nó”.
Trước hết, thử đặt ra câu hỏi ai tạo ra được nhóm lợi ích?
Dân thường không tạo ra được, cán bộ công chức quèn không tạo ra được, chỉ có những cán bộ có chức quyền thì mới tạo ra được nhóm lợi ích để khai thác lợi ích nhóm. Cán bộ có chức quyền, cán bộ lãnh đạo ở vị trí càng cao thì nhóm mà họ tạo ra càng cao, lợi ích thu lại càng lớn, thế và lực càng mạnh. Tiền và quyền tuy hai nhưng tồn tại song hành, nó như là một mục tiêu, có cái này thì sẽ có cái kia, TS Vũ Ngọc Hoàng chỉ rõ: “Có tiền chuyển hóa thành có quyền lực. Có quyền lực chuyển hóa thành có tiền. Người có tiền sẽ có quyền lực và người có quyền lực sẽ có tiền”.
Cán bộ lãnh đạo, quan chức tất nhiên là “ta”. Cũng những cán bộ đó, lên tiếng chống tham nhũng, nhưng có người lại đứng đầu các nhóm lợi ích, vậy thì ông ta lại là “nó”. Rõ ràng, “nó“ không phải sau lưng, không phải đâu xa, mà ngay trong nhà, ngay trong lực lượng quản lý điều hành bộ máy nhà nước và quản lý xã hội.
Lý luận về lợi ích nhóm rất sâu xa, nhưng tạm lấy một ví dụ cho dễ hiểu. Người ta dùng quyền, không phải của một người, mà phối hợp từ nhiều cá nhân trong một nhóm để triển khai một dự án, công trình. Sau đó, cũng bằng quyền lực đó, giao lại cho các đối tác thực hiện, các đối tác đó là sân sau của các nhóm lợi ích. Như vậy, dự án gần như thuộc quyền định đoạt của một số người, một phần số tiền đầu tư cho dự án chảy vào túi của họ mà không có tổ chức, cá nhân nào có thể kiểm soát được, bởi vì họ đã kiểm soát tất cả. Những vụ án tham nhũng từng bị phanh phui, đã cho thấy có sự hiện diện của lợi ích nhóm. Còn nhiều hình thức khác của lợi ích nhóm, không thể kể ra hết.
Lý luận về sự nguy hiểm của lợi ích nhóm cũng rất sâu xa, nhưng dễ hiểu nhất là quyền lực, tiền bạc của quốc gia rơi vào tay của một số người. Bất công xã hội, khoảng cách giàu nghèo, suy thoái đạo đức, triệt tiêu nguồn lực kinh tế, hủy hoại tài nguyên con người từ lợi ích nhóm mà ra.
Và tất cả những sự nguy hiểm đó dẫn đến điều nguy hiểm nhất mà TS Vũ Ngọc Hoàng chỉ ra: “làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng cầm quyền và đối với nhà nước, tức là làm hỏng nền tảng chính trị, dẫn đến mất ổn định chính trị, mất sức mạnh của một quốc gia, và từ đó các thế lực xâm lăng từ bên ngoài có thể lợi dụng thời cơ để xâm lấn, chèn ép, dẫn đến nguy cơ mất độc lập, thậm chí là mất nước”.
Lời cảnh báo và hiện thực sờ sờ trước mắt, không dẹp được lợi ích nhóm này thì sẽ lâm nguy.

Trang