7 tháng 6, 2015

LƯƠNG BỘ TRƯỞNG "KHÓ KHĂN" VÀ CHUYỆN "QUAN CÁCH MẠNG"

Kỳ Duyên
Chắc chắn, những “địa chủ, tư sản” thời mới- những ông “quan cách mạng” thời mới vẫn sẽ tiếp tục sinh sôi nảy nở, nếu như cách làm vẫn còn duy ý chí, và nửa vời như lâu nay. Nếu không có được những giải pháp chính trị- kinh tế gắn bó, hỗ trợ nhau bền chặt.
Không phải ngẫu nhiên, từ xa xưa, từ thời nhà nước phong kiến đến nay, trong ngôn ngữ Việt Nam, nói đến đồng lương, người Việt vẫn dùng nhiều cụm từ khác nhau. Đó là bên cạnh lương, còn có lương bổng, lương lậu, thu nhập. Người viết bài tạm thời định nghĩa cho phù hợp với tinh thần… thời đại
Công thức: Lương + bổng lộc + lậu
Lương là đồng tiền lĩnh hàng tháng, được nhận theo quy định của nhà nước.
Bổng (lộc) là những giá trị vật chất (tiền bạc, tài sản, đất đai) được nhà nước đó cấp theo chức sắc, ngạch bậc hoặc ban thưởng cho. Bổng (lộc) trong XH mà nền quản trị quốc gia thiếu công khai minh bạch bao nhiêu càng dễ “giao thoa” sang “đặc quyền- đặc lợi” bấy nhiêu.
Lậu là những khoản không nằm trong những quy định của nhà nước (lương, bổng lộc), mà là những khoản người ta tự kiếm được bằng mọi cách phi pháp. Có thể bằng tham nhũng, ăn hối lộ. Cái chữ “lậu” mang ý nghĩa không chính danh, mà phải kiếm kiểu chui lủi, “đi đêm” không đàng hoàng. Mặc dù cái việc “đi đêm” đó diễn ra giữa ánh ngày, vớingựa xe bóng bẩy, áo quần bảnh bao.
Thu nhập: Với những người lao động, không có bổng lộc, cũng lại không có vị thế để tham nhũng, ăn hối hộ, ngoài lương, họ kiếm thêm bằng lao động, làm thêm, gọi là thu nhập. Khác với thu nhập của người lao động, “lậu” là khoản thu nhập không chính đáng của giới có quyền thế.
Ảnh minh họa, nguồn: Baotintuc.vn
Cũng chính vì thế, không phải ngẫu nhiên, mà XH mới đây dấy lên sự ồn áo bàn tán với rất nhiều cách lý giải khác nhau trước thông tin Bộ trưởng Nội vụ Nguyễn Thái Bình đưa ra theo báo cáo thực hiện nghị quyết về chất vấn của Quốc hội.
Theo đó, mức lương cơ sở hiện hành 1.150.000 đồng/tháng thực hiện từ ngày 1/7/2013 mới đạt 44,2% so với mức lương tối thiểu vùng bình quân năm 2015 của khu vực doanh nghiệp (2.600.000 đồng/tháng).
Điều này dẫn đến các mức lương ngạch, bậc, chức vụ thấp theo, tính cả 25% phụ cấp công vụ thì mức tiền lương của người tốt nghiệp đại học hết tập sự khoảng 3,58 triệu đồng/tháng, bộ trưởng khoảng 14,4 triệu đồng/tháng. Đời sống của người hưởng lương từ ngân sách nhà nước còn nhiều khó khăn.
Có điều lạ, nếu như dư luận dễ thống nhất về mức lương của người lao động còn khó khăn, thì nhận định “lương Bộ trưởng cũng chỉ khoảng 14,4 triệu đồng/tháng còn nhiều khó khăn” của ông Bộ trưởng Nội vụ lại khá… khó khăn khi muốn nhận sự đồng cảm từ XH.
Không phải từ những người lao động một nắng hai sương, mà sự phản ứng, phản biện lại nhận định này của ông Bộ trưởng Nội vụ, lại bắt đầu từ những cựu quan chức, hoặc những ĐBQH trong guồng máy, trong nghị trường.
Ông Cao Sĩ Kiêm, ĐBQH đoàn Thái Bình thẳng thắn: Nếu nói mức lương của Bộ trưởng hiện nay khó sống thì rất vô cùng. Thực tế thì không ai khó sống, mà lại sống rất đoàng hoàng so với tiêu pha. Thu nhập “thực” của họ, tôi biết, gấp xa nghìn lần mức lương mà họ đang hưởng. Số liệu đó không phản ánh chính xác thực tế. Vì còn nhiều khoản thu nhập… ngoài không được kê khai, tính vào lương mà mình không biết, không thống kê được (VTC, ngày29/5).
ĐBQH Dương Trung Quốc thì vẫn hóm hỉnh như mọi lần: Nhìn cách sống là biết Bộ trưởng thu nhập rất cao. Nếu không, tại sao lương thấp vậy người ta vẫn muốn làm Bộ trưởng (Dân trí, ngày 29/5).
ĐBQH Dương Trung Quốc. Ảnh: VietNamNet
Còn ĐBQH Nguyễn Thị Khá (Trà Vinh) thì nhận xét: Nói lương là thế, nhưng tổng thu nhập của Bộ trưởng khác với lương, họ không khai làm sao mà biết được. Khoản này thì không có văn bản nào quy định. Cho nên, chừng nào chưa cải cách chế độ tiền lương mà chỉ sửa một cách chắp vá, tăng lương một cách nhỏ giọt như thời gian qua thì còn nhiều bất cập (LĐO, ngày 28/5).
Nói cho công bằng, những nhận xét trên của các ĐBQH vẫn chưa có tính “định lượng” cụ thể, nhưng vì sao XH tin ngay, chấp nhận ngay. Và các quan chức lại im lặng là vàng. Vì sao?
Người viết bài tin rằng, XH không ai “suy bì” tị nạnh với đồng lương cao, thậm chí rất cao được trả cho các quan chức, khi đồng lương đó tương xứng với tài đức, với cái tâm, cái tầm, với trách nhiệm XH vì nước, vì dân của các vị, nếu những thước đo về cống hiến và hưởng thụ, giữa cá nhân với cộng đồng rõ ràng, minh bạch.
Nhưng dư luận ồn ào, bàn tán, chính là bởi, dù muốn dù không, những khiếm khuyết và bất cập lâu nay của XH đã “định lượng” được những điều kiện minh chứng cho nhận định của các ĐBQH nói trên là có lý.
Đó là cơ chế quản lý XH còn thiếu minh bạch.
Đó là việc kiểm soát nguồn gốc tài sản của các quan chức, thực chất chỉ dừng ở mức thấp- kê khai, khác hoàn toàn bản chất với khái niệm công khai
Đó là tệ nạn tham nhũng đã ở mức “giặc nội xâm”, mà nhiều giải pháp hiện nay còn ít hiệu quả.
Đó là sự xử lý các hành vi sai phạm pháp luật, vi phạm tư cách đạo đức của những quan chức còn ở dạng “giơ cao đánh khẽ”, không đủ sức răn đe để những quan chức khác nhìn vào đó mà… “dọn mình”.
Và rõ ràng, có những quan chức trong XH, lương chỉ là danh chính ngôn thuận để ký tên trong sổ sách. Thực chất, “lương thật” của họ phải bao gồm: Lương (theo quy định) +bổng lộc+ lậu nữa, mới có thể xênh xang nhà lầu, xe hơi, con cái du học các nước tư bản.
Từng ấy những cái “đó” đặt trong hoàn cảnh mức lương cơ sở, mức lương tối thiểu, nhưng nhất là mức lương hưu của người lao động (chưa đến 1.000.000 đ/tháng), trong bối cảnh giá điện, giá xăng lúc tăng lên lúc tụt xuống, nợ công của mỗi người dân lên tới 21 triệu đồng, không chỉ tạo nên sự phân hóa giàu nghèo sâu sắc, mà còn tạo nên sự bất công rõ rệt giữa số đông dân chúng lao động, và bộ phận quan chức đặc quyền- đặc lợi.
Thế nên, mọi sự cải cách tiền lương của Bộ Nội vụ, nếu không có tầm nhìn chiến lược gắn với sự thay đổi, xóa bỏ những khiếm khuyết, bất cập của nền quản trị quốc gia hiện nay, thì xét cho cùng, cũng chỉ mang tính chất chắp vá, chẳng có ý nghĩa tác động gì nhiều vào việc xóa bỏ cái hố ngăn cách giầu nghèo, xóa bỏ sự phân hóa ngày càng sâu sắc. Và cái thước đo cũ kỹ, hình thức, đầy cảm tính “lương bộ trưởng 14triệu/ tháng, còn nhiều khó khăn” của Bộ Nội vụ đưa ra, chỉ làm tổn thương thêm lòng tin của người dân lao động vốn xưa nay cun cút làm ăn, toan lo nghèo khó.
Chỉ mặt đặt tên nhóm lợi ích
Khái niệm lợi ích nhóm (tiêu cực) từ lâu đã không còn xa lạ với dư luận XH. Nhưng có lẽ là lần đầu tiên được một quan chức- ông Vũ Ngọc Hoàng (Phó trưởng Ban Thường trực Ban TGTƯ), thẳng thắn nhìn nhận, và thừa nhận sức tàn phá kinh khủng của nó với những vấn đề lý luận rành mạch và hậu quả cực kỳ tai hại của lợi ích nhóm, đã gây ra sự chú ý, bàn luận trong XH, tuần qua.
Có điều, lợi ích nhóm (thực chất là những nhóm tham nhũng) cũng chỉ được dư luận XH biết đến khi những đường dây tham nhũng bị bắt, bị truy tố trước pháp luật dân biết mặt, tòa biết tên.
Còn nếu chưa bị truy tố, lợi ích nhóm luôn là một thứ kẻ thù “ảo”. Dù vậy, sự tàn phá XH của nó lại rất thật, rất ghê gớm. Vì quy mô câu kết rộng lớn, đa dạng thành phần, chiếm lĩnh trận địa ở bất cứ lĩnh vực nào, ngành nghề nào.
Ông Vũ Ngọc Hoàng. Ảnh: VietNamNet
Chả lẽ, định nghĩa về tầng lớp dân trong XH hiện nay, chỉ nên gom về 03 nhóm: Người dân lao động; cán bộ, quan chức tử tế; và các nhóm lợi ích?
Lần đầu tiên, ông Vũ Ngọc Hoàng chỉ tận tay, day tận trán những đặc điểm của các nhóm lợi ích. Người viết bài chú ý nhất đặc điểm đầu tiên, vì nó vừa nhãn tiền, vừa nguy hiểm bởi tính lâu dài ngự trị của nó mà nếu không có giải pháp chế ngự, hữu hiệu, XH sẽ bị điều chỉnh bởi những chính sách có lợi cho các nhóm lợi ích mà thôi:
Đó là có sự kết hợp cùng mục tiêu lợi ích, cùng hành động, cùng phân chia lợi ích, giữa những người có nhiều tiền với những người có quyền lực trong nhà nước và trong đảng cầm quyền. Có tiền chuyển hóa thành có quyền lực. Có quyền lực chuyển hóa thành có tiền. Người có tiền sẽ có quyền lực và người có quyền lực sẽ có tiền. Họ cùng nhau hành động để có quyền lực và có tiền ngày càng nhiều hơn. Đồng tiền cộng với quyền lực tạo thành sức mạnh khống chế, lũng đoạn tổ chức và xã hội (Tuổi trẻ, ngày 02/6)
Ngoài 04 nguyên nhân mà người viết bài (KD) phân tích ở phần trên (cơ chế quản lý XH thiếu minh bạch; việc kiểm soát nguồn gốc tài sản của các quan chức mang tính hình thức; giải pháp chống tham nhũng còn chưa hiệu quả; và xử lý sai phạm không đủ sức răn đe), có một nguyên nhân cực kỳ quan trọng, góp phần không nhỏ tạo nên các nhóm lợi ích mà ông Vũ Ngọc Hoàng nêu lên trong bài viết.
Đó là cơ chế xin- cho, mang tính ban phát tồn tại nặng nề ở khối các DNNN. Có thể nói, các vụ án khủng dính líu tới các đường dây (nhóm lợi ích) tham nhũng, đều nảy nở từ các DNNN. Các DNNN càng được… chiều chuộng, o bế, nguy cơ nảy sinh các nhóm lợi ích càng mạnh.
Chính vì thế, chưa bao giờ, tiếng nói của các ĐBQH trong kỳ họp lần này, lên án và báo động thực trạng tham nhũng lại thẳng thắn, thậm chí gay gắt đến thế. Bởi lẽ, tham nhũng thực sự đe dọa “sự tồn vong của chế độ”. Khi mà những con sâu mọt nảy nở như có… gien đột biến. Từ rất lâu, dân gian đã tổng kết sự ngoan cố của những kẻ tham nhũng bằng câu thành ngữ mới: Hy sinh đời bố, củng cố đời con.
Nhưng vỏ quýt dày, cần móng tay nhọn. Tại phiên thảo luận sửa đổi Bộ luật Hình sự chiều 26-5, Thiếu tướng Nguyễn Xuân Tỷ, Phó Giám đốc Học viện Quốc phòng, đã phải thốt lên chua xót: Làm cán bộ mấy năm mà trong nhà có vài ba trăm tỉ đồng, thậm chí cả ngàn tỉ đồng thì lấy ở đâu ra nếu không tham nhũng? Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa! (Dân trí, ngày 29/5)
Ảnh: Baophapluat.vn
Một câu hỏi và một câu trả lời- đều đích đáng, nhưng đầy sự bất bình, và có cả như sự… bất lực!
Chia sẻ những quan điểm này, Nguyên Phó Chánh án TANDTC Trần Văn Độ còn cho rằng cách hành xử đối với tham nhũng càng làm mất lòng tin của người dân: Tội tham ô, nhận hối lộ quy định hình phạt tử hình nhưng thực tế không xử lý được bao nhiêu. Dân bảo các ông hô hào thôi chứ có làm được đâu? Thậm chí có những người tham ô nhưng về mặt Đảng chỉ cảnh cáo thôi. Tức là có độ chênh giữa quy định và thực thi trên thực tiễn … (Dân trí, ngày 29/5)
Chắc chắn, những bất công, phân hóa giàu nghèo còn sâu sắc. Chắc chắn, những “địa chủ, tư sản” thời mới- những ông “quan cách mạng” thời mới sẽ vẫn tiếp tục sinh sôi nảy nở, nếu như cách làm vẫn còn duy ý chí, và nửa vời như lâu nay. Nếu không có được những giải pháp chính trị- kinh tế gắn bó, hỗ trợ nhau bền chặt.
Một cơ chế kiểm soát, quản lý công khai, minh bạch.
Một sự kiểm soát nắm tận ngọn nguồn, tận gốc những đồng tiền, tài sản, gia sản của quan chức.
Một sự khẩn trương, tích cực tái cơ cấu kinh tế, cổ phần hóa các DNNN, tạo mặt bằng môi trường kinh doanh bình đẳng, công bằng trong XH.
Một sự xử lý nghiêm khắc đúng người, đúng tội những vị cán bộ tham nhũng- thực chất là thoái hóa, biến chất.
Không ai có thể làm mất niềm tin của người dân nhanh chóng như những “vị” sâu mọt bảnh bao này.
Sự hưng thịnh, suy vong của nước Việt giờ đây không chỉ phụ thuộc vào tốc độ phát triển kinh tế- văn hóa- XH, mà chính là phụ thuộc vào sự đổi mới nền quản trị quốc gia- có công khai, minh bạch hay không, có gắn với các giải pháp kinh tế, có phản chiếu đúng các thang giá trị về đạo lý, tạo nên phẩm cách một dân tộc công minh, công bằng hay không?

TỔNG THÔNG PHILIPPINES VÍ TRUNG QUỐC NHƯ PHÁT XÍT ĐỨC

Phúc Duy
(TNO) Tổng thống Philippines Benigno Aquino III, phát biểu trong chuyến thăm Nhật Bản đã ví hành động bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông như phát xít Đức, đồng thời cho biết thế giới không thể tiếp tục nhân nhượng Trung Quốc.
Tổng thống Philippines Benigno Aquino phát biểu trong Diễn đàn Tương lai Châu Á
tại thủ đô Tokyo, Nhật Bản ngày 3.6.2015 - Ảnh: AFP
“Nếu một cường quốc như Mỹ tuyên bố “chúng tôi không quan tâm”, có lẽ không còn gì có thể ngăn chặn tham vọng bành trướng của những quốc gia khác”, ông Aquino ngày 3.6 phát biểu trước các lãnh đạo doanh nghiệp tại thủ đô Tokyo (Nhật Bản), khi được hỏi về việc Trung Quốc bành trướng sức mạnh và vai trò của Mỹ ở Biển Đông, theo AFP.
“Dù chỉ là một người không chuyên về lịch sử, nhưng tôi được nhắc nhở về cách mà Đức thăm dò (phản ứng của các quốc gia châu Âu) và cách các nước châu Âu đáp trả lại động thái của Đức”, ông Aquino nói, nhắc đến những cuộc xâm lược của phát xít Đức trong những tháng trước khi bùng nổ Thế chiến thứ 2.
“Phát xít Đức thăm dò, và sẵn sàng rút lui nếu có quốc gia nào phản ứng mạnh mẽ, chẳng hạn như Pháp. Nhưng thật không may mắn, phát xít Đức đã xâm chiếm Sudetenland của Tiệp Khắc và không ai đứng lên phản ứng, lên tiếng bảo dừng lại”, ông Aquino cho hay.
“Lúc bấy giờ, nếu ai đó lên tiếng yêu cầu trùm phát xít Đức Adolf Hitler dừng lại, chúng ta sẽ tránh được Thế chiến thứ 2”, Tổng thống Aquino nói.
Tổng thống Aquino đưa ra những tuyên bố mạnh mẽ chỉ trích Trung Quốc sau khi Tổng thống Mỹ Barack Obama hôm 1.6 cảnh báo Trung Quốc rằng những hành động xây đảo nhân tạo phi pháp trên Biển Đông là “phản tác dụng” và kêu gọi Bắc Kinh chấm dứt các hành động gây hấn ở khu vực.
Trong khi đó, chính quyền Trung Quốc vẫn ngang ngược bác bỏ đề nghị của Washington về việc ngừng hoạt động xây dựng đảo nhân tạo trái phép trại quần đảo Trường Sa của Việt Nam trên Biển Đông, ngang ngược cho rằng Bắc Kinh có chủ quyền và dùng những đảo nhân tạo trái phép để thực hiện trách nhiệm quốc tế.
Bắc Kinh còn ngang ngược khẳng định chủ quyền nuốt trọn gần cả Biển Đông, một tuyến đường hàng hải quan trọng thế giới và là nơi có trữ lượng dầu mỏ, khí đốt lớn.
Mỹ và các đồng minh châu Á, bao gồm Nhật Bản vốn có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc trên biển Hoa Đông, đã cảnh báo việc Trung Quốc xem thường luật pháp quốc tế có thể đe dọa tự do hàng hải ở Biển Đông.
Trong chuyến thăm Nhật Bản kéo dài 4 ngày, ông Aquino sẽ có buổi hội đàm với Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, tập trung vào vấn đề hợp tác an ninh và quốc phòng hai nước.
Hai lãnh đạo dự kiến sẽ ký kết một thỏa thuận về việc Nhật Bản cung cấp 10 tàu tuần tra cho lực lượng tuần duyên Philippines để tăng cường hoạt động tuần tra trên Biển Đông.
Cả Philippines và Nhật Bản đều là đồng minh của Mỹ và chia sẻ mối lo ngại trước những hoạt động bành trướng của Trung Quốc trên biển, ông Kenko Sone, người phát ngôn của Văn phòng Thủ tướng Nhật Bản cho hay.

"Món hời" lớn của Trung Quốc từ kênh đào Nicaragua

(Quan hệ quốc tế) - Trung Quốc là nước cấp phần lớn tín dụng cho dự án kênh đào Nicaragua và tập đoàn HKND được lựa chọn là đơn vị tổng thầu.
Bộ trưởng Chính sách công Nicaragua Paul Oquist ngày 5/6 cho biết, rất nhiều nhà thầu xây dựng Trung Quốc đã ngỏ ý tham gia thi công Kênh đào Nicaragua nối liền Thái Bình Dương với Đại Tây Dương.
Tuần trước, dự án có vốn đầu tư ước tính lên tới gần 50 tỷ USD này đã hoàn thành xong phần nghiên cứu tác động môi trường kéo dài gần hai năm và được coi là gây nhiều tranh cãi nhất.
Tổng thống Nicaragua Daniel Ortega và tỷ phú Trung Quốc Vương Tĩnh trong lễ ký kết xây dựng kênh đào hồi tháng 6/2013.
Ước tính, Kênh đào Nicaragua sẽ bắt đầu hoạt động từ năm 2020, với khoảng 5% hàng hóa thương mại toàn cầu sẽ lưu thông qua tuyến vận tải này, làm tăng gấp đôi GDP của quốc gia Trung Mỹ này, tạo 250.000 việc làm và giúp giảm tỷ lệ người sống dưới chuẩn nghèo từ 14,6% xuống còn 7,2%.
Theo Hiệp nghị được ký kết giữa Tổng thống Nicaragua với của tỷ phú người Hoa Vương Tĩnh, người đứng đầu HKND, công ty của Trung Quốc được ưu đãi trao cho quyền xây dựng và quản lý kênh cùng các dự án liên quan trong thời hạn 50 năm.
Tuy nhiên hợp đồng còn có những điều khoản mở có lợi cho công ty Trung Quốc. Chính quyền Nicaragua đã cho phép Công ty HKND được quyền gia hạn thêm 50 năm nữa và xây dựng dọc theo tuyến kênh này 2 khu mậu dịch tự do, 1 đường ống dẫn dầu, 1 sân bay và 1 tuyến đường sắt.
Về phía Nicaragua, họ sẽ được nhận 1% lợi nhuận trong năm đầu tiên kênh đào đi vào hoạt động và tỷ lệ lợi nhuận được hưởng sẽ tăng 10% sau mỗi thập kỷ và sẽ đạt 100% sau 100 năm. Như vậy, sau 100 năm Nicaragua mới chính thức lấy lại quyền quản lý con kênh của mình.
Ông Petr Yakovlev - người đứng đầu Trung tâm Nghiên cứu Iberia, Viện Mỹ Latinh, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga cho biết, đối với Trung Quốc, kênh đào mới có ý nghĩa chiến lược quan trọng, cả về kinh tế, quân sự và địa-chính trị. Nếu thành công, Bắc Kinh có thể cạnh tranh sòng phẳng với Washington ngay tại “sân sau” của Mỹ.
Ông nhấn mạnh: “Con kênh này sẽ giảm chi phí và mở rộng thương mại với các nước cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp của Trung Quốc như Venezuela, Brazil, Argentina và Colombia. Khả năng chuyển hướng sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Trung Quốc, do nước này sẽ điều hành kênh đào mới”.
Minh Thái (Tổng hợp)

6 tháng 6, 2015

2Đ hay 4T là cái gì?

Văn Quang - Viết từ Sài Gòn ngày 01.06.2015
Ở VN bây giờ lại có thêm một từ ngữ mới vừa được loan truyền trong dân gian. Đó là 2Đ, nghe có vẻ hơi bí hiểm, tưởng là một phát minh nào mới của VN vốn rất thiếu những phát minh mà chỉ thấy toàn tiến sĩ, kỹ sư cùng các nhà được gọi lá trí thức cao ngất ngưởng mà chẳng thấy một phát minh nào.
Hoặc người dân còn tưởng là ngành CA, mật vụ, tình báo vừa thành lập thêm một ban phòng nào đó để theo dõi, loại trừ bọn “phản động” các kiểu đang làm mất uy tín quốc gia. 
Nhưng đó chỉ là sự suy đoán của mấy “con chim đã từng bị đạn” hay nói cho rõ là nhiều anh bị bắt ngang xương, được “mời lên làm việc” lu bù hoặc câu chuyện cửa miệng của mấy ông già lẩm cẩm lắm chuyện ngồi ở quán cóc đầu chợ. 
Nhưng tới khi được chính ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang giải thích, người dân mới biết. Tiếp xúc cử tri TP Sài Gòn ngày 16.5 vừa qua, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trả lời thẳng thắn những thắc mắc, hoài nghi về công tác cán bộ rằng: 
“Ở đại hội các cấp, các cô bác anh chị, các đồng chí đừng đưa những con người 2 Đ vào cấp ủy. Cô bác anh chị, những đảng viên phải hành xử đúng với lương tâm, chức trách của mình, không nể nang thiên vị”. 
Chủ tịch Trương Tấn Sang nói tiếp: “Đất nước có nhiều mặt tốt nhưng có một bộ phận cán bộ còn hư hỏng. Dân nói cán bộ “2 Đ”: Đất và Đô la. Đây là câu chuyện có thật, sự thật Đảng và Nhà nước cũng có nói trong rất nhiều văn kiện và nhấn mạnh rằng đó là “một bộ phận không nhỏ”. Đây là điều hết sức day dứt, ai cũng rất bức xúc. Tôi cũng khẳng định lại là những điều mà người dân nói là có thật”. 
Té ra là loại cán bộ chuyên ăn đất và đô la lâu nay nằm kỹ trong các cơ quan công quyền, ai cũng biết “chỉ có vài người không biết”. 
Cán bộ “2 Đ” sờ sờ, nhưng biết làm sao đây!
Thật khó cho sự lựa chọn những người vào cấp ủy mà không phải cán bộ “2 Đ”. Bởi vì “một bộ phận không nhỏ” hư hỏng có nghĩa là bộ phận đó lớn. Lớn có nghĩa là nhiều người. Đã có lần tôi viết bài và tự hỏi: “Một bộ phận là cái chi chi?”. Cứ nghe nói hoài “một bộ phận cán bộ” tha hóa biến chất mà không biết nó là bao nhiêu người, chỉ ước lượng tạm thời thôi cũng được. Nhưng là 10% hay 80-90% đây? – Chịu! 
Biết người nào hư hỏng để loại ra, tìm người không hư hỏng để đưa vào cũng là sự thử thách bản lĩnh và trí tuệ của từng đảng viên. Có khi, tìm người liêm khiết khó hơn tìm người “2 Đ”. Cán bộ có đất, có đô la tất nhiên có thế lực, không dễ loại họ ra khỏi cấp ủy. Có đất, có đô mới có cái để chạy, mưu ma chước quỷ biến hóa khôn lường, người công chính cũng dễ lâm vào thế khốn đốn khi đối mặt với thế lực và tiền bạc. 
Biết người đó là cán bộ “2 Đ”, nhưng ngăn làm sao đây! Đảng viên còn có lá phiếu để bỏ, quần chúng thấy cán bộ “2 Đ” sờ sờ, nhưng biết làm sao đây! 
- La làng à? Đừng chơi dại. 
Bạn Nguyễn Sỹ Tỉnh (nguynstnh@yahoo.com.vn) đã cảnh báo:
“Nói chung Dân ta biết tất cả đấy, nhưng vì thấp cổ, bé họng, nói ra hoặc "vỡ mồm" hoặc "gẫy răng" nên không ai dám nói thôi”. 
Bạn Trần Minh Thuý (tran_minhthuy2002@yahoo.com) phụ họa:
“Biết cán bộ "2Đ" nhưng làm sao đây, nghe mà "chua xót" quá, bởi những người giữ trọng trách cao mà còn phải "bó tay" với loại cán bộ này thì dân làm gì được họ cơ chứ ? Và xin khẳng định một điều là chỉ có thể loại bỏ được những con sâu " 2Đ " này, một khi cử tri được trực tiếp bỏ lá phiếu mà thôi còn thì nói nhiều cũng chỉ đến nói là hết, người dân chán nghe lắm rồi”. 
Đúng là chỉ có người trong đảng giới thiệu và bầu bán với nhau thôi, anh dân đen đứng ngoài ngó vô cho.., vui cái sự đời vậy thôi. 
- Bạn Xuân Thủy xuanthuy29051982@yahoo.com còn “tố” thêm:
“Nơi tôi ở Yên Thủy - Hòa Bình còn 4Đ cơ. Đó là Đô la - Đất - Đạo đức đểu - Đục khoét”. 
Nếu tính toán như bạn Xuân Thúy chắc còn nhiều Đ nữa đấy. Chẳng hạn như “Xin đểu” là những anh có chức có quyền hỏi xin dân con gà, con heo nhưng thực chất là buộc anh phải cho. “Mượn đểu” là mượn của dân rồi “quên” luôn. Có hàng trăm thứ đểu khác nữa trong cái “thời đại đồ đểu” này. 
Từ đâu phát sinh ra những 3k, 4c…
Tôi nhớ vào khoảng những năm 1945, khi “toàn quốc kháng chiến”, các cán bộ dân vận luôn khuyên dân chúng thực hiện 3 không: “không biết, không nghe, không thấy” để giữ bí mật cho quân đội và bí mật quốc gia”. Hồi đó gọi là 3 K. 
Nhưng về sau này, sau những năm 1975, khi các cán bộ biến thành quan cai trị dân thì 3K lại là của những quan lớn ấy. Dân bị tra khảo, đánh đập oan ức, các quan thường chỉ có câu trả lời “không thấy, không nghe, không biết” nên sẽ cho điều tra xử lý sau. 
3K của anh dân nghèo là “không ruộng, không đất, không nhà cửa”. Bởi ruộng đất đều là của “Nhà Nước” hết. 
Rồi đến các cậu ấm con quan, đi đâu cũng được hậu đãi trọng vọng, người dân gọi là 4C tức là “con ông cháu cha” hoặc vào công sở nào cũng thấy 5C “con cháu các cụ cả”. 
Rồi cứ thế những 3k, 4-5 C khác cũng tuần tự ra đời. 
Lại có thêm một chữ mới 4T
Trong thời gian vừa qua, chuyện um xùm nhất tại VN là chuyện thuộc về “bản chất văn học VN”.
Các nhà văn thành lập Văn đoàn Độc Lập.
1. Nguyên Ngọc - 2. Đỗ Trung Quân - 3. Nguyễn Quang Lập - 4. Nguyễn Huệ Chi - 5. Phạm Đình Trọng - 6. Võ Thị Hảo - 7. Bùi Minh Quốc - 8. Đặng Văn Sinh - 9. Hoàng Minh Tường - 10. Lê Hiền Phương - 11. Ngô Thị Kim Cúc - 12. Nguyễn Quang Thân - 13. Thùy Linh - 14. Vũ Thế Khôi - 15. Ý Nhi - 16. Dư Thị Hoàn - 17. Trịnh Hoài Giang - 18. Dạ Ngân - 19. Nguyễn Duy - 20. Trần Kỳ Trung. 
Trong số đó, nhà thơ Đỗ Trung Quân tác giả bài thơ Quê Hương được nhiều độc giả biết, vừa công bố trên mạng internet lá thư phúc đáp văn thư của ông Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Nhà Văn VN yêu cầu ông làm hồ sơ xin tham gia giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng văn chương nhà nước. Sau đây là nguyên văn lá thư của nhà thơ Đỗ Trung Quân:
“Anh Hữu Thỉnh à,
Anh thừa biết 4T, cấm vận, cô lập, cấm tôi viết lách, xuất hiện trên truyền thông ,chỉ bằng lệnh miệng, chả có một văn bản nào, nghĩa là chơi xấu tôi từ hơn ba năm qua, thế mà anh và Hội nhà văn im như thóc không dám lên tiếng bảo vệ cho hội viên lấy nửa câu, hoặc ít ra cũng đòi cho được có cái văn bản cho nó đàng hoàng, minh bạch mà giờ còn chơi trò đạo đức giả gửi văn bản yêu cầu tôi…tự làm đơn xin giải thưởng, xin – để giao cho các anh cái quyền gạt thẳng tưng thì tôi chưa biết mở mắt ra tí nào, còn ham hố, háo danh và ngu lâu lắm. Thôi nhé các anh cứ tự nhiên vui vẻ, tôi vái dài và tránh xa những trò này”.
Nhà thơ Đỗ Trung Quân tác giả từ mới "4T".
Nhà thơ Đỗ Trung Quân lại có thêm một từ ngữ mới: 4T. Chẳng biết tại sao ông này lại gọi là 4T, đúng ra cứ theo như người bình dân hiểu thì đây là 4 Cấm, có lẽ ông sợ lầm 4 C với “con ông cháu cha” nên phải có từ ngữ mới. Vậy phải gọi 4T là 4 cấm mới đúng: cấm vận, cô lập, cấm viết lách, cấm xuất hiện trên truyền thông. Câu chuyện về những ông nhà văn nhà thơ tự ý xin rời bỏ cái gọi là “Hội Nhà Văn” còn lôi thôi lắm. Đây là câu chuyện của riêng TP Sài Gòn. 
Khai trừ cả những người đã rút lui, không còn là hội viên của mình nữa
Sáng ngày 5/5/2015, Đại hội Nhà văn Việt Nam khu vực TP. Sài Gòn chuẩn bị cho đại hội (đại biểu) lần thứ 9 đã khai mạc, chương trình làm việc là 1 ngày. Trọng điểm là việc bầu để cử những “nhà văn đại biểu” đi dự đại hội lần thứ 9 tại Hà Nội tháng 7 tới. 
Ở TP Sài Gòn có 155 hội viên, nhưng chỉ 90 người có mặt. Hầu như những người không có mặt (60 người) đều không có văn bản chính thức về sự vắng mặt của mình. 
Vào lúc phiếu bầu cử đã được phát, và đã xác định sẽ gạch tên những người không được cử, trưởng ban tổ chức Lê Quang Trang cầm micro thông báo: trong danh sách của Văn Đoàn Độc Lập có 26 người là hội viên Hội Nhà văn VN, trong đó có chín người ở TP. Sài Gòn, sau đó đọc tên 9 hội viên, gồm: Nguyễn Duy, Nguyễn Quang Lập, Dạ Ngân, Ý Nhi, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Quang Thân, Phạm Đình Trọng, Hiền Phương và Ngô Thị Kim Cúc.
Hai nhà văn Ngô Thị Kim Cúc (trái) và Dạ Ngân thuộc số chín người mà Hội Nhà văn Việt Nam yêu cầu gạch tên sáng ngày 5-5-2015 vừa qua.
Chỉ thông báo tên mà không cần giải thích, trưởng ban tổ chức mặc nhiên yêu cầu gạch tên những nhà văn này để không thể có mặt trong đại hội nhà văn sắp tới. Thật ra trong số đó là những người thành lập “Hội Nhà Văn Độc Lập”, không chịu lệ thuộc vào bất cứ hội đoàn nào. Bởi nhà văn cần có tự do sáng tác, nếu lệ thuộc, làm theo mệnh lệnh chỉ còn là những anh “lính đánh thuê, gọi dạ bảo vâng”. 
Và một sự thật khác là những nhà văn ấy đã rút lui khỏi cái hội này từ lâu rôi. Nhà thơ Ý Nhi, có tên trong danh sách bị gạch tên, thực ra đã gửi thư thông báo từ bỏ Hội Nhà văn VN từ tháng 1/2002. (Tôi được biết nhà văn Ý Nhi khi tôi đang bị CA khám xét nhà, tịch thu hết máy móc và tài liệu, chị đã từ Bình Thạnh lặn lội lên thăm và an ủi gia đình tôi trong khi tôi còn đang bị hạch hỏi ở CA Q3, vì thế tôi chưa có dịp trực tiếp gặp để cảm ơn chị, nhân ở đây xin chị nhận lời cảm ơn của tôi).
Nhà thơ nữ Ý Nhi xin rút lui từ tháng 1/2002 vẫn còn bị gạch tên?
Nhà văn Dạ Ngân đã rút khỏi Ban Vận động Văn đoàn Độc lập từ 14/12/2014. Nhà văn Nguyễn Quang Lập đã rút khỏi Ban Vận động Văn Đoàn Độc Lập từ 26/6/2014, đồng thời cũng rút tên khỏi tất cả các Hội mà anh tham gia, trong đó có Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nghệ sĩ Sân Khấu, Hội Điện Ảnh Việt Nam. Vậy việc gạch tên của họ chỉ là một trò khôi hài thôi. 
Người dân vốn ít khi quan tâm tới hoạt động của giới cầm bút bỗng vui mừng săn đón từng nhà văn trên đường phố. Trong đại hội, nhiều người dân, trong đó có những trí thức khoa bảng, đã mang tới những tâm thư, những thỉnh cầu, đề nghị các nhà văn hãy vì dân mà làm điều đó. Đừng tưởng dân ngu, người nào ra sao, họ biết cả đấy các ông các bà nhà văn ơi, đừng dùng “vải thưa che mắt Thánh”. 
Hãy có lòng tự trọng cao nhất của người cầm bút giữa thời đại nhiễu nhương này cho đúng với thiên chức của người cầm bút. 
Nay mai chẳng biết ở VN còn xuất hiện bao nhiêu từ ngữ tắt như thế nữa./-

Đại tướng quân’, anh có bằng tiến sĩ chưa?

Tác giả: Trần Văn Tuấn
‘Lâu lắm nữa, xã hội ta mới sống đúng theo những gì mình có. Khi đó sẽ có nhiều người ngẩng cao đầu cùng câu nói: Xin lỗi, tôi không phải là tiến sĩ!
————
Mất gì cũng được, không thể mất mặt
Trong truyện ngắn “cụ Chánh Bá mất giầy” của Nguyễn Công Hoan, có một chi tiết khá thú vị, đó là khi xong chầu tổ tôm, cụ Chánh thấy bỡ ngỡ đôi chút khi phát hiện ra đôi giày mà mình đang xỏ nó quá mới so với đôi mà cụ vẫn đi, nhưng cụ vẫn thản nhiên xỏ tiếp và ra về trước cái thở phào nhẹ nhõm của chủ nhà.
Ngày nay, con cháu vẫn có nhiều người tiếp tục biết nhầm mà không thắc mắc như cụ, nhưng không phải nhầm một đôi giày Nam Định, mà là nhầm về chức danh hay học vị theo xu thế cao hơn những gì họ thực có.
Trong các cuộc hội thảo hay các diễn đàn quan trọng, nơi phần lớn người tham gia là những lãnh đạo lớn hoặc học vị cao, đôi lúc ban tổ chức cảm thấy bất tiện khi giới thiệu một người nào đó không có chức danh cao hay học vị Tiến sĩ (TS) lên ngồi ghế nóng.
Chính vì vậy họ thường chủ động gắn cho người đó cái học vị TS cho nó trang trọng. Cũng thực lạ là hình như có rất ít người chủ động đính chính chuyện họ không phải là TS. Thay vào đó, cũng giống như cụ Chánh Bá, họ lờ đi vì sự nhầm lẫn có lợi này.
Tại các hội thảo BTC thường chủ động gắn học vị TS cho khách mời cho nó “trang trọng”. Ảnh minh họa
Không rõ tính háo danh của dân Việt ta có từ bao giờ nhưng có một nguyên nhân (được nhiều nhà nghiên cứu xã hội đồng tình) làm cho người Việt chúng ta thích “danh” hơn các dân tộc khác. Đó là do xã hội Việt Nam xưa kia đơn điệu và nghèo nàn quá nên có quá ít sự lựa chọn cho mỗi cá nhân trong việc tìm lấy cho mình một hướng đi phù hợp. Thay vào đó, mọi người đều có xu thế tranh giành nhau những thứ hữu hạn và ai cũng muốn mình có được phần nhiều hơn để có thể vươn lên và đứng trên người khác.
Có lẽ ít có dân tộc nào coi trọng chữ “danh” hơn người Việt. Nhu cầu được chứng tỏ bản thân, mặc dù chỉ là trong một cộng đồng nhỏ, hẹp khiến nhiều người sẵn sàng làm mọi thứ để được biết tới hay “nở mày, nở mặt” với thiên hạ.
Đặc biệt không có nơi đâu người ta bảo vệ “bộ mặt” cẩn thận như tại nước ta, nơi phần đông dân chúng luôn giữ vững nguyên tắc “mất gì cũng được chứ nhất quyết không chịu mất mặt”- một thứ vốn dĩ rất khó hình dung được một cách cụ thể và khó có thể lượng hóa!
Trong vụ việc om sòm giữa Bộ GTVT và ông Trần Đình Bá, ông Bá hẳn biết và hiểu rõ mình không phải là TS và chắc ông này cũng không đến mức ngây ngô để không hiểu được là Bộ GTVT không có chức năng cấp cho ông cái bằng TS. Tuy nhiên ông vẫn tìm mọi cách chứng minh mình là TS rồi nhưng chỉ là chưa cấp bằng mà thôi.
Có không ít người trong xã hội ta khoái được gọi nhầm hoặc đánh máy nhầm cái học vị như ông Bá bởi vì người ta không dễ gì từ bỏ cái danh mà mình đang có kể cả khi biết rất rõ nó ảo đến mức nào!
Với phần đông dân chúng ngày trước, con đường để một ai đó có thể đổi đời và thành danh hầu như chỉ có một, đó là dùi mài kinh sử để thi đỗ làm quan. Cũng bởi vì trong danh có lợi nên công cuộc lều chõng ngày xưa đó không đơn thuần chỉ là ý chí của mỗi cá nhân, mà nhiều lúc nó gánh trên mình sự kỳ vọng của cả dòng tộc, làng xã hay thậm chí là cả châu, phủ.
Nếu chẳng may, người được cả cộng đồng kỳ vọng đó không làm nên chuyện để được vinh danh trở về, thì rất có thể đang là một đứa con yêu, kẻ thất bại này nhanh chóng trở thành tội đồ, vì không thể làm rạng danh quê cha đất tổ.
Do không có nhiều lựa chọn để phân định cao thấp về kiến thức, tài năng, người Việt thời trước thường dùng thước đo thứ bậc trong các kỳ thi ở mỗi cấp (Hương, Hội, Đình) như là tham chiếu cho việc so sánh người này với người kia. Mặc dù những gì họ thể hiện chỉ phản ánh một mảng năng lực của mỗi người mà thôi.
Ông có bằng cấp chuyên môn không?
Cách tiếp cận này đã dẫn đến một hệ quả xã hội đó là “bạn cứ nói thế nào kệ bạn, còn tôi vẫn sẽ không tin nếu bạn không chìa ra cho tôi xem bạn có bằng cấp gì và tốt nghiệp ở đâu”! Đây có thể được xem là điển hình của việc chuộng bằng cấp ở nước ta và vẫn còn diễn ra đến tận ngày nay.
Một khi bằng cấp được sử dụng như là một thước đo của kiến thức, năng lực và kể cả độ tin cậy của một cá nhân, sẽ rất khó cho ai đó có thể thuyết minh, phản biện hay thực hiện những ý tưởng hoặc đề án khoa học mà không có bằng cấp chuyên môn phù hợp.
Như vậy từ sự háo danh, người Việt đã dần dần coi bằng cấp như một chỉ số quan trọng và tất yếu để đảm bảo sự thành công. Với những ai có đam mê tìm tòi, sáng tạo và tâm huyết thử nghiệm những cái mới, cửa ải đầu tiên mà họ phải vượt qua để có thể biến những ý tưởng thành hiện thực đó là câu hỏi của cơ quan quản lý “ông/bà có bằng cấp chuyên môn không”?
Những gì xảy ra với ông Hòa ở Thái Bình hay “Đại tướng Hai lúa” ở Tây Ninh và nhiều người dân đam mê khoa học trên khắp đất nước trong những năm qua đã phần nào chứng minh nhận định trên.
Tính háo danh cũng góp phần tạo nên nhiều nghịch lý trong xã hội Việt Nam và khiến cho “nhân sinh quan của” nhiều người đôi lúc bị lệch chuẩn. Ít có nơi nào người ta hay sử dụng cụm từ “trọc phú” – chỉ những người giàu nhưng học hành ít, như trong các làng, xã Việt Nam.
Tính háo danh lớn đến nỗi, mặc dù giàu có hơn nhiều ngươi khác, nhưng nhiều người bị coi là trọc phú này vẫn bị chi phối bởi tâm lý “mình tuy có giàu mà chưa có sàng” vì chưa có được một cái “danh” cho nó tương xứng. Trong tầng lớp khá giả đó, những ai không có khả năng học tập để có được tấm bằng, họ sẽ chọn con đường dễ dàng nhưng tốn kém hơn – mua danh.
Cũng chỉ vì háo danh nên nhiều người cứ hay cười trừ mỗi khi có ai gọi họ là TS nhưng cũng không sẵn sàng lên tiếng để nói với mọi người rằng: Xin lỗi, tôi không phải là Tiến sĩ!
Trở lại câu chuyện ông Trần Đình Bá, khi quyết định xác minh tấm bằng TS của ông Bá, Bộ GTVT đã tự đưa mình vào hoàn cảnh khó khi sử dụng hình thức vốn bị coi là “chơi xấu” (sai nguyên tắc) trong các cuộc tranh biện – hạ thấp danh dự của đối thủ.
Cho dù một lãnh đạo của bộ này đã lên tiếng chính thức xin lỗi, nhưng việc này cho thấy họ quá “nóng vội” trong xử lý khủng khoảng truyền thông.
Nhìn cảnh các cháu học sinh vừa “tốt nghiệp đại học chữ to” cùng ước muốn (từ cha mẹ) cùng chụp ảnh khoe thành tích học tập với các anh chị cấp 3 ở Quốc Tử Giám, mới thấy tâm lý “sính” khoe sự học hành của dân ta thế nào.
Có thể thấy rất lâu, lâu lắm nữa, xã hội chúng ta mới sống đúng theo những gì mình có. Khi đó, mỗi công dân sẽ tự hào vì những gì mình làm được và cống hiến, thay vì các giá trị ảo do bằng cấp tạo nên.
Khi đó sẽ có nhiều người ngẩng cao đầu cùng câu nói: Xin lỗi, tôi không phải là tiến sĩ!

Niềm tin & sự ổn định xã hội

Tác giả: Hoàng Độ (Văn hóa Phật giáo)
KD: Nhưng trước hết, những quan niệm thang giá trị đã khác nhau, thì khó có một niềm tin chung. Sự bất an tâm lý, bất ổn XH cũng từ đó mà ra… :
————
Cuộc sống luôn thay đổi, luôn sinh sôi nảy nở bất chấp mọi cản trở. Trước sự thay đổi đó, cái được thích nghi và tồn tại lâu dài không phải là những điều đối phó mà là sự nắm bắt được nguyên lý vận hành của lịch sử và thời đại. Để nắm được nguyên lý ấy thì điểm tham chiếu quan trọng là quá khứ của dân tộc.
Tìm về với lịch sử dân tộc không phải là nhắc lại, điểm qua và hệ thống các sự kiện theo kiểu biên niên mà phải tìm cho ra cái tiềm ẩn bên dưới những sự kiện, không chỉ những thành công mà cả thất bại. Thành công hay thất bại đều là những kết quả của mồ hôi, nước mắt và xương máu của bao thế hệ, nói cách khác, đó những bài học về việc huy động sức mạnh của dân tộc và trí tuệ của toàn dân.
Lịch sử thăng trầm qua các thời đại của dân tộc cho thấy, lúc nào nhà cầm quyền hiểu được lòng dân, nói cho dân hiểu để nhận thức rằng vận mệnh của dân tộc chính là vận mệnh của mình, của gia đình mình, dòng họ mình; dân tin nhà cầm quyền, tin ở khả năng và cách ứng xử, tin ở chính sách cởi mở và khoan dung; tin rằng mọi người Việt là anh em mình … thì lúc đó sẽ huy động được mọi nguồn lực và trí tuệ trong nhân dân.
Còn ngược lại, khi người dân không có niềm tin, mất niềm tin ở người đại diện chính quyền, ý kiến và quyền lợi của người dân không được đếm xỉa tới, thì lúc đó xã hội luôn tiềm ẩn nguy cơ biến động, mất ổn định. Niềm tin là yếu tố căn bản trong các giá trị. Phật giáo gọi nó là nguồn gốc của mọi phẩm tính.
ng thế kỷ XX, lịch sử ghi nhớ đến hai cuộc huy động sức mạnh và trí tuệ của dân tộc, của toàn dân vĩ đại, đó là sự vận động trong các cuộc kháng chiến hào hùng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Trong hai cuộc vận động lớn ấy, không một lực lượng yêu nước nào đứng ngoài, tất cả cùng một niềm tin, tin ở ngọn cờ chính nghĩa và cũng là một khao khát mãnh liệt của mỗi người Việt Nam: giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Niềm tin đó đã đưa đến đại đoàn kết và những thành công vĩ đại.
Điều đó cần được nhắc lại, không phải chỉ để tự hào và kiêu hãnh, bởi vinh quang dẫu huy hoàng như thế nào cũng chỉ hiện hữu trong giây lát, con đường đến đỉnh cao ấy thì lắm chông gai, ghập ghềnh, gian nan. Nhắc lại điều đó để nói đến nguyên lý xưa như trái đất, bài học vỡ lòng của lịch sử: lòng dân, niềm tin của nhân dân.
Đất nước đang đi vào một thời đại mới đầy những thách thức và cạm bẫy, xã hội lại đang ngổn ngang với nhiều vấn đề về văn hóa, suy thoái đạo đức, giá trị tâm linh một thời bị xem nhẹ nay có những biểu hiện biến tướng tiêu cực. Điều này là do đâu? Cũng từ niềm tin mà ra.
Niềm tin không phải tự nhiên có mà xuất phát từ nhận thức. Khi có được niềm tin, thì chính nó sẽ dẫn dắt hành động. Hành động làm hại bản thân, gia đình và xã hội của một người, là dân thường hay quan chức, chứng tỏ nhận thức của người đó có vấn đề. Anh ta đã không tin sâu sắc vào bản thân mình.
Anh ta không tin vào quy luật gieo nhân nào gặt quả đó vốn có lâu đời trong gia tài văn hóa truyền thống. Anh ta không tin rằng hạnh phúc, sự thanh thản mà mỗi người mưu cầu xuất phát từ thái độ sống, từ nội tâm chứ không phải từ sự sung túc của vật chất. Anh ta không tin đời sống là luân hồi tái sinh mà chỉ có một đời này thôi nên mặc sức sống hưởng thụ một cách thực dụng và ích kỷ…
Thiết tưởng cần nhắc đến một thiên tài chính trị 700 năm trước: vua Trần Nhân Tông. Sau những chiến công lẫy lừng đánh đuổi quân xâm lược Nguyên, Mông, vua đã nhường ngôi cho người kế thừa khi tuổi chưa vừa 50 tuổi, trở thành người cố vấn, giữa nhiều vấn đề của đất nước sau thời chiến cần giải quyết, thì ổn định niềm tin để xây dựng nền tảng văn hóa bền vững là điều cần thực hiện ngay.
Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông đã đích thân đi vào các làng xã để khuyến dụ dân chúng phá bỏ các dâm từ, thực hành theo năm giới, mười thiện(1). Trần Nhân Tông đã thấy được sự cấp thiết cần phải xây dựng những chuẩn giá trị căn bản trong đời sống văn hóa, đạo đức cho toàn dân để có được sự ổn đinh lâu dài.
Trong kháng chiến, niềm tin của toàn dân đặt vào một mục tiêu duy nhất: chiến thắng ngoại xâm, giành lại độc lập dân tộc. Thời bình, muốn xã hội ổn định, niềm tin phải được định hướng căn bản vào các giá trị đạo đức truyền thống, hướng thiện. Niềm tin ấy cần được củng cố bằng sự minh định khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc là gì, hơn bao giờ hết, điều đó cần được nói rõ, cụ thể, tránh cách nói chung chung dẫn đến nhận thức mơ hồ, mông lung.
Nhận thức lệch lạc, không đúng, không rõ ràng sẽ dễ dẫn đến hành động nguy hại. Mà nguy hại trong văn hóa sẽ ảnh hưởng lâu dài, mất nhiều công sức và của cải để khắc phục, điều chỉnh, trong đó điều nguy hại nhất là tác nhân gây nên hội chứng thờ ơ thậm chí lãnh cảm ở người dân. Và đó là nguyên nhân sâu xa gây nên sự mất ổn định trong đời sống xã hội, phá vỡ mối đoàn kết dân tộc.
Giữa cuộc sống luôn thay đổi, luôn sinh sôi nảy nở, thì niềm tin ở mỗi cá nhân trong giá trị chung, giá trị căn bản của nền văn hóa dân tộc được đúc kết từ mấy ngàn năm qua sẽ làm nên mối dây liên thông giữa các cá nhân với nhau, giữa các cộng đồng, giữa hiện tại với truyền thống, góp phần điều hòa giữa mới và cũ, tạo nên sự ổn định bền vững cho xã hội.
(1)-Năm giới: Không giết hại vì tôn trọng mạng sống của mình và người khác; không trộm cắp vì tôn trọng của cải của người khác; không tà dâm vì tôn trọng tiết hạnh và hạnh phúc của chính mình và người khác; không nói dối vì tôn trọng sự thật; không sử dụng rượu (cùng các chất gây nghiện ngập) vì giữ gìn sự sáng suốt của đầu óc.
– Mười thiện: Không giết hại, không trộm cắp, không tà dâm, không nói lời không đúng sự thật, không nói lời xấu ác, không nói lời đâm thọc hai chiều, không nói lời gây chia rẻ căm thù, không tham lam, không sân hận và không si mê.

Dân trí có hạn hay quan trí có vấn đề?

Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn
KD: Xã hội nào dân trí đó. Dân trí nào, quan trí đó. Quan trí nào, phát ngôn đó. Phát ngôn nào, ấn tượng đó :
Thú vị nhất là GS Nguyễn Văn Tuấn phát hiện một điều: “Khi nói về thành tựu giáo dục thì các quan chức thích nói rằng nền giáo dục ưu việt đã thành công xoá mù chữ, rằng dân ta thông minh và sáng tạo. Nhưng khi có ai đề nghị cải cách thể chế, phục hồi các quyền căn bản của công dân (như tự do báo chí, tự do ngôn luận, trưng cầu dân ý) thì chính những cán bộ này lại nói rằng trình độ dân trí còn thấp, chưa thể cải cách được”.
Cha ông ta từ xưa có câu tổng kết thâm thúy: Lưỡi không xương lắm đường lắt léo :
————
Cứ mỗi lần Quốc hội nhóm họp là người dân có dịp nghe những lời hay ý đẹp của các đại biểu, và năm nay cũng không phải là ngoại lệ. Chẳng hạn như trong cuộc thảo luận về trưng cầu dân ý một ông dân biểu Hà Nội nói rằng cần phải xem “lòng đảng” ra sao. Tôi đọc đi đọc lại mà không hiểu cái “lòng đảng” là cái gì mà cần phải xem xét.
Mượn ý cụ Nguyễn Du, có ai lấy thước mà đo … lòng đảng được? Một ông khác thì nói “dân trí thấp, không thể tuỳ tiện trưng cầu” . Hi vọng là báo chí tường thuật đúng những gì ông nói. Ông là một quan chức trong Hội nhà báo, tức là thuộc nhóm có học, mà nói như thế thì quả là đáng ngạc nhiên.
Vì ngạc nhiên, nên tôi tò mò kiểm tra xem tình hình dân trí của ta như thế nào, và kết quả có lẽ sẽ làm bạn ngạc nhiên. Sau đây là vài số liệu chính dựa vào điều tra dân số năm 2009 (tức là hiện nay đã khá hơn) 
Gần 94% người dân biết đọc, biết viết;
Khoảng 1/4 người Việt xong trung học hay cao hơn;
Ở người trên 15 tuổi, 4.2% có bằng cử nhân và 0.2% có bằng sau đại học;
Việt Nam có hơn 100 ngàn thạc sĩ, 24 ngàn tiến sĩ, 10 ngàn giáo sư và phó giáo sư . Ngoài ra, chúng ta còn biết rằng Việt Nam có nhiều tướng lãnh có bằng tiến sĩ và học hàm giáo sư.
Niên học 2011-2012, Việt Nam có 215 trường cao đẳng, 204 trường đại học, với 756 ngàn học sinh cao đẳng và 1.4 triệu sinh viên đại học.
Nói chung, nhìn qua những con số trên, rất khó nói rằng dân trí Việt Nam còn thấp. Nếu nhìn vào con số giáo sư và tiến sĩ, Việt Nam còn cao hơn cả Thái Lan (vốn chỉ có 5414 phó giáo sư và 708 giáo sư).
Ở VN có một nghịch lí rất đáng chú ý. Khi nói về thành tựu giáo dục thì các quan chức thích nói rằng nền giáo dục ưu việt đã thành công xoá mù chữ, rằng dân ta thông minh và sáng tạo. Nhưng khi có ai đề nghị cải cách thể chế, phục hồi các quyền căn bản của công dân (như tự do báo chí, tự do ngôn luận, trưng cầu dân ý) thì chính những cán bộ này lại nói rằng trình độ dân trí còn thấp, chưa thể cải cách được. Hiếm thấy các quan chức Việt Nam khinh thường dân như thế. Ấy thế mà họ lúc nào cũng oang oang nói là đầy tớ của nhân dân!
Nhưng những dữ liệu tôi vừa trình bày trên đây cho thấy dân trí Việt Nam khá tốt. Tuy nhiên, hãy giả dụ rằng người dân thiếu thông tin, thì nhiệm vụ của Nhà nước là phải cung cấp cho họ thông tin đa chiều để nâng cao nhận thức và “dân trí”. Nhưng rất tiếc là các cán bộ trong chính quyền chưa làm (hay chưa dám làm) việc nâng cao dân trí bằng cách cung cấp thông tin cho người dân.
Thật ra, những người mở miệng nói dân trí thấp chính là “suy bụng ta ra bụng người” — chính cái quan trí của họ mới thật sự thấp.

Một bức thư ngỏ làm rung động mọi người: sự thật về vụ thảm sát Thiên An Môn

Tác giả: theo Đại Kỷ Nguyên
KD: Mãi mãi, vụ Thiên An Môn là một vết nhơ không thể tẩy rửa trong lịch sử hiện đại Trung Quốc. Về cái giá phải trả của tuổi trẻ nước này khi dám khao khát dân chủ, tự do…. 
————–
Thứ năm, ngày 4 tháng 6, hàng triệu người Trung Quốc trên thế giới đã tổ chức kỷ niệm 26 năm vụ thảm sát ở quảng trường Thiên An Môn – Bắc Kinh, khi chế độ cộng sản đã điều xe tăng đến đối phó với những sinh viên không có vũ khí và ôn hòa.
Ngày 7/6/1989, một nhóm người dân Bắc Kinh nhìn về phía quảng trường Thiên An Môn nơi những chiếc xe tăng đang chiếm giữ (Ảnh: Internet)
Một bức thư ngày 20 tháng 5 có chữ ký của một số những người đã tham gia vào sự kiện khi đó đang lưu truyền trên internet và trên những trang báo, đã gây sốc cho mọi người.
Trong một thế giới thiếu lý tưởng, thiếu mất giá trị, một thế giới đánh mất lý trí, kể cả lý trí để tồn tại như một con người bình thường, có lẽ bức thư này sẽ gây ấn tượng với bạn cũng như nó đã gây ấn tượng với rất nhiều người.
Bức thư viết bằng tiếng Trung, đã lưu truyền thông qua các hòm thư điện tử và trên phương tiện truyền thông xã hội. Gần đây, tờ Thời báo Hoàn cầu (Global Times) do Đảng Cộng sản Trung Quốc kiểm soát, đã quảng cáo miễn phí cho bức thư này (hãy click vào đâyvào đây để xem thư)
***
Chúng tôi là một nhóm sinh viên Trung Quốc sinh ra trong những năm 1980 và 1990, hiện đang học ở nước ngoài. Cách đây 26 năm, vào ngày 4 tháng 6, những sinh viên trẻ, đang trong mùa xuân của cuộc đời, với một tình yêu vô hạn đối với đất nước mình, giống như chúng tôi ngày hôm nay, họ đã bị giết chết bởi những viên đạn của Quân giải phóng nhân dân (PLA) trên đường phố Bắc Kinh. Kể từ đó, sự kiện lịch sử này đã được che giấu một cách cẩn thận, khiến cho nhiều người trong chúng ta ngày hôm nay biết rất ít về nó. Hiện nay ở bên ngoài Trung Quốc, chúng ta có thể truy cập ảnh, video clip và tin tức những người sống sót. Chúng tôi cảm thấy các cơn dư chấn của thảm kịch này trong suốt một phần tư thế kỷ. Càng hiểu biết nhiều, chúng tôi càng cảm thấy một trách nhiệm trọng đại trên hai vai. Chúng tôi viết bức thư ngỏ này cho các bạn sinh viên bên trong Trung Quốc, để chia sẻ về sự thật với các bạn và để vạch trần những tội ác đã phạm phải trong vụ thảm sát ở Thiên An Môn năm 1989.
Chúng tôi không có quyền áp đặt suy nghĩ của các bạn, cũng không yêu cầu các bạn phải làm một cái gì đó, nhưng chúng tôi có một ước mơ: rằng trong một tương lai không quá xa, mỗi người trong chúng ta có thể sống trong một đất nước không có sự sợ hãi, nơi sự thật lịch sử được phục hồi và công lý phải được thực hiện
Khoảng 21:30 đêm 3 tháng 6 năm 1989, tiếng súng đã vang lên trên những đường phố đang rất căng thẳng ở Bắc Kinh. Trong ngày hôm đó, quân đội áp đặt thiết quân luật đã nổ súng vào sinh viên và những người dân đã phản đối một cách ôn hòa qua gần hai tháng. Các cuộc biểu tình do sinh viên khởi xướng đã được mọi tầng lớp xã hội tham gia – với hơn 300.000 người trong giai đoạn cao điểm. Khu vực trung tâm của cuộc biểu tình ôn hòa là Quảng trường Thiên An Môn. Đã có thời điểm khi đất nước được khuyến khích bởi bầu không khí chính trị tương đối tự do và cởi mở trong suốt thập niên 80, khi người dân đã có sự tin tưởng nhất định đối với Đảng Cộng sản và họ đã đặt hy vọng vào một chính phủ tự nhận là “của nhân dân”. Vào thời điểm khi cuộc khủng hoảng kinh tế đang đe dọa và tham nhũng đang trở nên trầm trọng, giới sinh viên và người dân cảm thấy cần bắt đầu một cuộc đối thoại với các nhà lãnh đạo của đất nước để làm cho đất nước này thành một nơi tốt hơn. Nhưng những người biểu tình ôn hòa lại không thể ngờ rằng đang đợi họ là một cuộc tàn sát đã được lên kế hoạch.
Hành động theo lệnh của Đặng Tiểu Bình, Lý Bằng và các nhà lãnh đạo khác của Trung Quốc, quân đội Trung Quốc đã phong tỏa các con đường dẫn tới Quảng trường Thiên An Môn để dọn sạch những sinh viên đang chiếm giữ địa điểm này. Họ đưa xe tăng với súng máy gắn trên tháp xe tăng và binh lính thì hét lên: “Tôi sẽ không tấn công trừ khi bị tấn công”, trong khi nổ súng vào sinh viên và dân thường. Trên tuyến đường dẫn đến Mộc Tê Địa, vài trăm người không vũ trang đã ngã xuống, tạo nên một dòng sông máu trong khi hét lên “đồ phát xít!”, “quân giết người!” Trong số đó có Yến Văn, một sinh viên 23 tuổi khoa toán ở Đại học Bắc Kinh, bị chết bởi đạn bắn vào đùi. Cậu ta đang ở đó với một máy ảnh để ghi lại những hình ảnh lịch sử. Một học sinh trung học khác, Tưởng Thiệp Liên, 17 tuổi, quyết định đi vào quảng trường để sát cánh cùng các anh các chị của mình. Vương Nam, 19 tuổi, đã trở thành một liệt sĩ khác. Chiếc mũ anh đội, với một lỗ thủng, đang được trưng bày tại Hong Kong. Ngô Hướng Đông, 21 tuổi, mang trong mình một bức thư, được viết: “Vì dân chủ và tự do, vì số phận của dân tộc, mỗi người đều có trách nhiệm”.
Một nhóm sinh viên, trong đó có 1 cô gái cầm máy ảnh, đang giằng co với quân đội PLA tại Thiên An Môn, 1989 (Ảnh: Internet)
Theo lời kể của các nhân chứng, quân đội tiến vào Quảng trường đã đánh sinh viên bằng dùi cui, ngay cả khi sinh viên đã đồng ý rút lui; những chiếc xe tăng đã đuổi theo và cán lên những sinh viên đang rời quảng trường và đang đi bộ trở về khuôn viên của trường. Phương Chính, một sinh viên của Đại học Thể thao Bắc Kinh, đã bị cụt hai chân dưới xích sắt của xe tăng.
Có những báo cáo chưa được kiểm chứng cho biết những nhóm người biểu tình đã bị bao vây và bị hành quyết tập thể. Trong ngày 4 tháng 6, thảm sát đã diễn ra ở Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, và các nơi khác.
Vào giữa và cuối tháng 6 năm đó, chính phủ đã ban hành ba phiên bản của một “báo cáo về cuộc đàn áp bạo loạn”. Trong đó, những người dân thường được mô tả như mafia đang tiến hành bạo loạn. Báo cáo này đưa ra chính xác số người chết và bị thương trong quân đội, về số xe quân sự bị hỏng, nhưng rất mơ hồ và mâu thuẫn về số thường dân thiệt mạng.
Nhiều câu hỏi tới nay vẫn chưa được trả lời: vì sao các lực lượng vũ trang không thể kiểm soát được tình hình [nếu thực sự có một cuộc bạo loạn]? Nếu họ không thể tự bảo vệ mình, thì làm cách nào họ vượt qua được sự phong tỏa của hàng trăm ngàn người dân? Vì lý do gì mà các đám đông tụ tập trên đường phố thủ đô ngăn chặn quân đội tiến vào quảng trường?
Bản báo cáo cho rằng chỉ có vài người dân thường bị chết. Nếu vậy, tại sao báo cáo lại nhiều lần thay đổi con số người chết và không công bố một số chính xác? Nếu báo cáo là đáng tin cậy, thì dân thường phải là lực lượng đã tấn công quân đội trước. Nếu vậy, tại sao mãi ba giờ sau khi quân đội nổ súng thì cái chết của người lính đầu tiên mới được báo cáo và lúc đó máu đã chảy ở Mộc Tê Địa? Trong thời gian biểu tình, cảnh sát đã thông báo cho Chu Phong Tỏa, một trong những lãnh đạo sinh viên tại Quảng trường, rằng “trật tự công cộng ở Bắc Kinh chưa bao giờ tốt” như trong hai tháng cuối cùng của “rối loạn” và “bạo loạn”. Theo hồi ký của Hầu Đức Kiện [ca sĩ Đài Loan], người đã ở quảng trường đến giây phút cuối cùng, các sinh viên đã trung thành với nguyên tắc bất bạo động, thậm chí cho đến phút cuối cùng buộc phải rút đi, họ đã ném bỏ lại bất kỳ đồ vật nào có thể dùng để tấn công.
Trong khi đó, sự tàn bạo của quân đội đã được ghi lại trong các bức ảnh với những người bị thương chảy máu, những thân người xếp chồng lên nhau, video clip quay cảnh bắn vào dân thường, nhận dạng các xác chết trong bệnh viện và số xác chết, phóng sự gây sốc của Vũ Tiểu Dũng từ Đài phát thanh nhân dân Trung ương, đó là chưa nói đến những câu hỏi dai dẳng của các bà mẹ có con chết ở Thiên An Môn trong hai mươi sáu năm qua. Nếu tất cả những điều này đều là dối trá, như tuyên bố của chính phủ, thì họ sẽ trả lời như thế nào với các bậc cha mẹ này, những người cho đến tận bây giờ vẫn đang đi tìm công lý sau nhiều năm như vậy?
Năm ngoái ở Capitol Hill, Washington DC, tác giả của bức thư đã gặp gỡ một số trong những người sống sót trong vụ thảm sát. Người điều hành lễ kỷ niệm đã đọc to một phần danh sách của những người chết, và mọi người tham dự đã xếp thành một hàng dài, trên tay là những bông hoa để tưởng niệm. Từ hàng trăm và lên đến hàng ngàn, đã có các con số khác nhau, và bạn có thể không bao giờ biết chính xác có bao nhiêu người bị giết chết năm đó tại Bắc Kinh.
Sinh viên biểu tình trên Thiên An Môn (Ảnh: Internet)
Nhưng người Trung Quốc đã chứng kiến ​​nhiều tội ác gây sốc, và có lẽ nhiều tội ác đã xảy ra tại những nơi xa lạ mà không có nhân chứng. Một số nhân chứng đã già đi, số khác đã chết, một số khác nữa thì không dám nói, mặc dù bây giờ họ đang sống ở nước ngoài một cách an toàn. Chính phủ Trung Quốc chưa bao giờ dám công bố con số chính xác người chết, và trước một sự kiện lịch sử lớn như vậy, họ đã chủ trương đóng khung sự kiện này, coi đó như một “cuộc bạo loạn phản cách mạng”, và sau đó, suốt những năm qua đã giảm thiểu tối đa ảnh hưởng của nó, coi như một “làn sóng chính trị”, nhằm xóa bỏ sự kiện này một cách có hệ thống trong trí nhớ của các thế hệ.
Hàng năm, ngày 4 tháng 6 đã trở thành một ngày “nhạy cảm”, một ngày không thể gọi tên. Một điều cấm kỵ như vậy là một bằng chứng cho thấy sự tàn bạo chống lại dân thường vào năm 1989 là một cái gì đó mà Đảng Cộng sản sẽ tiếp tục giữ im lặng, vì đây là một đảng có một lịch sử tội ác với cuộc nội chiến, với các phong trào chính trị chống lại hữu khuynh và với cuộc cách mạng văn hóa.
Một người bạn của tác giả bức thư này cho rằng các sự kiện cách đây 26 năm là quá xa, Trung Quốc ngày nay đã ngày càng tốt hơn, và anh ta có một cuộc sống rất hạnh phúc. Hai năm trước, tôi đã đi trên Đại lộ Hòa bình Vĩnh cửu. Tôi không thấy bất cứ dấu vết nào của máu hay đạn, chỉ thấy những tòa nhà chọc trời và một đường phố nhộn nhịp với người và xe. Chúng ta sống trong thịnh vượng, nhưng là loại thịnh vượng gì, là sự thịnh vượng mà chúng tôi không thể tưởng tượng được bởi sự phất lên đáng ngờ của các quan chức cả cấp cao và cấp thấp, bởi sự câu kết giữa quyền lực và tiền bạc. Vì những biểu hiện này mà sinh viên đã tiến hành phản đối cách đây 26 năm, thế mà ngày nay nó đã trở thành phổ biến.
Chế độ của Tập Cận Bình giương cờ chống tham nhũng, nhưng những người dân thường đang bị ném vào tù vì mang biểu ngữ đòi các quan chức phải kê khai tài sản. Phe cánh của Đặng Tiểu Bình và Lý Bằng, với bàn tay đã nhuốm máu của sinh viên, đã trở nên giàu có một cách bẩn thỉu. Chúng tôi bị sốc khi phát hiện ra rằng chúng ta đang bị dẫn dắt bởi các quan chức có người thân sống ở nước ngoài. Nói cách khác, chúng ta bị chi phối bởi một nhóm người nước ngoài, còn Trung Quốc chỉ là con ngỗng đẻ ra những quả trứng vàng cho họ.
Cách đây 26 năm, những sinh viên đã muốn tự do báo chí; và 26 năm sau, tất cả các phương tiện truyền thông vẫn đang bị cơ quan tuyên truyền của đảng kiểm soát, còn các luật sư và nhà báo bị ném vào tù vì những tội do chính quyền tưởng tượng ra và gán cho họ. Tội của Cao Du là làm rò rỉ bí mật quốc gia. Một số bạn bè của tôi nghĩ rằng những người bị bắt vào tù bởi vì họ đã lên án những sai trái của đảng cầm quyền. Chúng tôi chỉ là những người bình thường không quan tâm đến chính trị. Nhưng những người bình thường liệu có được an toàn trước cái xấu? Hãy nghĩ tới Hạ Tuấn Phong, Từ Thuần Hợp, và con gái của Đường Huệ. Không ai được an toàn trong một chế độ độc tài.
Khi những người lính Bắc Triều Tiên đã vượt qua biên giới và giết những người Trung Quốc, người Miến Điện vô tội, hoặc khi máy bay đã ném bom lãnh thổ Trung Quốc, thì lúc đó chính phủ chỉ lên tiếng “phản đối”. Vì thế, có thể khẳng định rằng chiến thắng quân sự duy nhất của PLA trong ba mươi năm qua chính là đã đàn áp và gây nên dòng sông máu trên đường phố Bắc Kinh vào ngày 4 tháng 6 năm 1989!
Đây là một sự thịnh vượng mong manh và méo mó. Chi phí để duy trì sự ổn định và an ninh trong nước cũng cao như ngân sách quân sự; sự kiểm duyệt và ngăn chặn trực tuyến, do đảng dựng lên với sự giúp đỡ của hãng Cisco đang gia tăng. Tất cả điều này chỉ ra rằng, bất cứ lúc nào, sự thật sẽ được đưa ra ánh sáng, và sự thịnh vượng có thể sụp đổ.
Một tiếng nói từ bên trong Trung Quốc cho rằng vụ thảm sát Thiên An Môn là rất đáng tiếc và Đảng Cộng sản Trung Quốc đã học được một bài học, và Đảng không muốn bị ám ảnh vì điều đó nữa. Nhưng sự thật về ngày 4 tháng 6 vẫn còn bị ém nhẹm, người chết vẫn không được minh oan, một số người sống sót đã trải qua những năm dài tù đầy, còn những bà mẹ có con chết ở Thiên An Môn vẫn bị lực lượng an ninh ngăn cản tới thăm nơi chôn cất con cái họ.
Năm ngoái, một nhóm các nhà nghiên cứu bị bắt vì đã tổ chức một cuộc hội thảo trong một căn hộ để kỷ niệm ngày này; một sinh viên đến từ Đại học nghiên cứu Quốc tế Bắc Kinh đã biến mất sau khi đề xuất việc phát triển phần mềm để lưu truyền sự thật về sự kiện Thiên An Môn.
Trong khi đó, kẻ đã ra quyết định nổ súng vào sinh viên và dân thường lại được ngưỡng mộ và tôn vinh là kiến trúc sư trưởng [của tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc], và không có sĩ quan, không có binh lính nào gây ra các tội ác trên bị đưa ra tòa án. Các bạn đừng hy vọng chế độ này nhận tội. Họ đã không thú nhận bất kỳ lỗi lầm nào họ đã làm sau khi kết thúc cuộc Cách mạng Văn hóa, bởi vì họ biết rất rõ rằng một khi thừa nhận tội ác, họ có thể bị đánh đổ bởi cơn thịnh nộ của người dân. Họ nghĩ rằng họ có quyền làm như vậy và họ đã dựng những bức tường lửa trên Internet, và ngồi ẩn trong phòng tối để xóa đi tin tức và ý kiến bình luận không có lợi cho họ.
Đây là một chế độ đầy tội lỗi. Súng đã nổ trong ngày 4 tháng 6, và những gì chính quyền này đã thực hiện từ sau ngày 4 tháng 6 đến nay không quan trọng. Chúng tôi không yêu cầu Đảng khắc phục những hậu quả của các sự kiện trong mùa xuân năm đó, cũng không đòi hỏi bọn tội phạm phục hồi lại tên các nạn nhân của chúng. Nhưng chúng tôi không quên, không tha thứ, cho đến khi công lý được thực hiện và chính sách khủng bố hiện nay ngừng lại.
Tác giả của bức thư và những người cùng ký tên trong thư biết rất rõ có thể có những hậu quả cho việc viết và ký bức thư này. Nhưng đó là trách nhiệm của chúng tôi và chúng tôi hy vọng rằng những người hiện đang sống ở Trung Quốc biết được sự kiện này, và xem xét lại bạo lực và tội ác từ khi Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập năm 1921. Từ Tỉnh Cương Sơn [một trong những cơ sở đầu tiên của Đảng Cộng Sản Trung Quốc ở tỉnh Giang Tây] tới Quảng trường Thiên An Môn, hàng triệu người dân vô tội đã chết và họ cần được mọi người ghi nhớ.
Sinh viên dựng lều tạm trước quảng trưởng Thiên An Môn. Một tấm biển với dòng chữ: “Chiến thắng mãi thuộc về chúng ta”. (Ảnh: Internet)
Chúng ta cũng nên suy nghĩ về những khổ đau vô tận. Chúng tôi không có quyền áp đặt suy nghĩ cho các bạn, không yêu cầu các bạn phải làm một cái gì đó, nhưng chúng tôi có một ước mơ: rằng trong một tương lai không xa, mỗi người chúng ta có thể sống mà không có sự sợ hãi trong một đất nước mà sự thật lịch sử được khôi phục và công lý phải được thực hiện. Đây là ước mơ Trung Quốc của chúng tôi – chúng tôi, một nhóm sinh viên Trung Quốc đang học tập ở nước ngoài.
Được viết bởi:
Yi Gu ( Đại học Georgia, slmngy@uga.edu)
Đồng ký tên bởi:
Feng Yun ( University of Central Lancashire)
Chuangchuang Chen ( Đại học Columbia)
Dan Zheng ( Adelphi University)
Chen Bingxu ( Đại học bang Missouri)
Meng Jin ( State University ở tây bắc Missouri)
Lu Yan ( Đại học Albania, SUNY)
Xiaoyue Wang ( Đại học Albania, SUNY)
Wang Jianying ( Đại học Missouri)
Meng Li (Đại học St. John)
Lebao Wu ( Melbourne, Australia).

Ba kẻ đại khôn và đại ngu

Tác giả: Nguyễn Tất Thịnh (Giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia).
Tể Tướng quì xuống, dướn cổ lên về phía Vua nói: Bệ Hạ đáng ra phải lao Tâm lo việc Quốc Kế thì lại bắt Tể Tướng đi tìm kẻ Đại Ngu trong Thiên Hạ, thì đó có thể coi là Đại Ngu – là Ngu Trí được không a? Muôn tâu, kẻ Ngu Tâm có thể chữa, Ngu Tài như Thần đây có thể thay, nhưng Bệ Hạ không thể Ngu Trí, bởi như thế thì báo hại Xã tắc mất thôi!
—————–
Thưa các Bạn, không biết xưa kia ở đâu đó có chuyện tương tự như câu chuyện nhỏ tôi sáng tác này không? Điều quan trọng không ở chỗ việc có hay không mà chúng ta cùng suy ngẫm về Thế Sự…
Ảnh chỉ mang tính minh họa. Nguồn: Trên mạng
Có Ông Vua rất phù phiếm, một ngày kia nổi hứng triệu Tể Tướng đến đòi phải đi tìm bằng được ba người Đại Khôn đến.
Tể Tướng đi vài ngày ra ngoài Kinh Thành tìm được một người đàn ông đói rách ở nơi Kẻ Chợ, luôn tự coi mình là Kẻ Sĩ, mang về gặp Vua.
Nhà Vua rất ngạc nhiên hỏi: Tại sao hắn ta lại có thể coi là người Đại Khôn được cơ chứ?
Tể tướng bẩm: Bệ Hạ có thể hỏi anh ta mọi điều mà Người chưa được biết, anh ta có thể nói rành mạch đâu ra đấy ạ.
Quả nhiên như vậy, Vua đồng ý mà hỏi tiếp: Thế người Đại Khôn thứ hai là ai?
Tể Tướng khiêm nhường: Thưa, đó chính là Thần đây ạ!
– Ô, sao lại không phải là người khác nhỉ?
Tể tướng đáp: Nếu Thần không phải là người Đại Khôn thì sao có thể biết mà tìm được hắn ta là Đại Khôn mà đưa về đây yết kiến ạ!?
– Ừ nhà Ngươi nói đúng lắm. Thế còn người thứ ba?
Tể Tướng lễ phép: Muôn tâu… đó chính là Bệ Hạ ạ!
Nhà Vua quá ngạc nhiên ngả hẳn người ra sau Ngai vàng – Thật kinh ngạc là Đức Vua lại rất ngạc nhiên về điều ấy – nên hỏi: tại sao Ngươi lại nghĩ thế?
Tể Tướng đáp: Bệ Hạ phải là Đại Khôn mới có thể biết Thần là xứng đáng mà bổ nhiệm trọng trách Tể Tướng! Ồ…
Nhà Vua cảm thán: Ngươi đã hoàn thành việc Ta yêu cầu!
Một thời gian sau, Vua lại thấy buồn buồn mà đòi Tể Tướng phải đi tìm về cho mình ba kẻ Đại Ngu. Tể Tướng đi vài ngày ra ngoài Kinh thành tìm người đàn ông đói rách nơi Kẻ Chợ, luôn coi mình là Kẻ Sĩ kia mang về. Vua quá ngạc nhiên nhỏm người lên Ngai vàng hỏi: Cớ sao lại coi hắn ta là Đại Ngu nhỉ?
-Thưa Bệ Hạ, hắn luôn tự coi mình là Kẻ Sĩ mà chịu phận đói rách nơi đầu đường xó chợ mà mong chút cơm thừa canh cặn thì có đúng là Đại Ngu không đây?
Vua cười nói: Đúng, thật thảm hại, hắn ta đúng là Ngu Tâm. Thế còn kẻ thứ hai?
Tể Tướng cui đầu đáp: Dạ thưa chính là Ngu Thần đây ạ! Ngươi nói gì? Một người như Ngươi sao tự nhận mình kém cỏi đến thế?
– Tâu Bệ Hạ, Ngu Thần nhận trọng trách lo việc Dân Sinh mà không chuyên chú lại mất thời gian, tâm sức lang thang ngoài Kẻ Chợ cốt tìm về đây được một kẻ Đại Ngu, rồi để những Kẻ Sĩ phải đói rách thì chính Thần là Ngu Tài rồi!
Vua buồn buồn ngả người sâu và Ngai vàng, một lúc sau nói: Đúng, một Tể Tướng như thế thì thật ăn hại. Rồi nhướn mắt về Tể Tướng trầm giọng hỏi: Kẻ thứ ba, ý của Ngươi là …? … Đúng không nhỉ?
Vâng – Tể Tướng quì xuống, dướn cổ lên về phía Vua nói: Bệ Hạ đáng ra phải lao Tâm lo việc Quốc Kế thì lại bắt Tể Tướng đi tìm kẻ Đại Ngu trong Thiên Hạ, thì đó có thể coi là Đại Ngu – là Ngu Trí được không a? Muôn tâu, kẻ Ngu Tâm có thể chữa, Ngu Tài như Thần đây có thể thay, nhưng Bệ Hạ không thể Ngu Trí, bởi như thế thì báo hại Xã tắc mất thôi!
Kết của câu chuyện này là gì tùy các Bạn sau khi đọc nó. Với tôi, Ngu hay Khôn của một kẻ, một người không là vấn đề lắm. Điều quan trọng là Nhận thức của mọi người như thế nào các Bạn ạ, để đi đến hành động chung mà mọi người mong ước…

Không suy thoái mới là lạ

Tác giả: Tô Văn Trường
KD: Ts Tô Văn Trường vừa gửi cho mình bài viết này. Một bài viết khá gai góc, nhìn vào sự thật, với mong ước, sự đổi mới sẽ chấn hưng đất nước, dân tộc. Nhưng bao giờ?
Xin đăng bài viết lên để bạn đọc chia sẻ. Bài đã được biên tập một số chỗ cho phù hợp tinh thần Blog KD/ KD. Blog KD/KD sẵn sàng đăng những bài viết mang tính phản biện bài viết này, trên tinh thần có trách nhiệm XH, công bằng, công tâm và văn hóa
Cảm ơn Ts Tô Văn Trường
————
Khái niệm bản năng gốc là cội nguồn có ý nghĩa cơ sở để xem xét khách quan mọi vấn đề, của mỗi cá nhân và của toàn xã hội. Nó luôn là động lực cho sự tồn tại và phát triển của muôn loài, trong đó có loài người.
Trong mỗi con người đều có 5 bản năng gốc bao gồm: bản năng sống (tồn tại), bản năng sinh sản (duy trì nòi giống), bản năng bày đàn ( đám đông), bản năng đầu đàn (quyền lực) và bản năng sáng tạo (tư duy). Riêng bản năng sáng tạo chỉ con người mới có, nhờ nó mà con người có văn hoá. Nên nhớ rằng văn hoá là tất cả những gì con người sáng tạo ra.
Thu vén, tham lam, tham ô là hệ quả của bản năng sống. A dua, tôn giáo, đảng phái…. là bản năng bày đàn. Tham quyền cố vị, triệt hạ lẫn nhau, hám danh….là bản năng quyền lực.
Ngoại tình, đam mê tình dục… là hệ quả của bản năng sinh sản.
Cường độ và mức độ thể hiện của các bản năng đó khác nhau. Ví dụ như bên Ấn Độ, bên Phi Châu bản năng tình dục lại phát triển nhiều, còn ờ Việt Nam có lẽ sĩ diện cá nhân lại… nổi trội. Hiểu được những đặc điểm đó ở mỗi cộng đồng, mỗi vùng là đã chiếm được nhiều ưu thế. Nhưng chọn thời điểm để tác động phải là một nghệ thuật.
Theo tôi hiểu, khái niệm bản năng gốc này là cội nguồn có ý nghĩa cơ sở để xem xét khách quan mọi vấn đề, của mỗi cá nhân và của toàn xã hội. Nó luôn là động lực cho sự tồn tại và phát triển của muôn loài, trong đó có loài người.
Bản năng gốc như 5 mômen lực, nếu đồng pha thì phát triển, dị pha thì lụi tàn. Xã hội là tổng hoà các mômen trung bình của từng nhóm lợi ích, và mômen nhóm là tổng hoà của mỗi thành viên.
Thế giới, trong đó có Việt Nam đang trong tình trạng có chỉ số Entropia (nhiệt động) cực đại, đây là thời điểm đăc biệt, sớm muộn cũng bị phá vỡ để chuyển về trạng thái cân bằng mới. Khi nội năng càng lớn thì sự cân bằng càng mỏng manh. Đây là thuộc tính của xã hội đương đại. Nhờ bản năng sáng tạo con người sinh ra văn hoá, nhưng văn hoá hình thức, bề nổi đang thịnh hành ở ta và nhiều nơi khác sẽ sớm lụi tàn, điều ấy chỉ còn là thời gian.
Những bản năng đó gắn với những lợi ich trong “tháp lợi ích” 5 tầng của Abraham Maslow. Rất đáng tiếc, tất cả chỉ gắn với “tầng 1″ của tháp. Entropia chính là đấu tranh giai cấp theo cách lý giải của chủ nghĩa khoa học biện chứng. Xã hội Việt Nam hiện nay, cũng giống như trước đây luôn nằm trong các trạng thái cân bằng , mất cân bằng rồi tự lấy lại cân bằng vv… Trong các chu kỳ sau của cân bằng và mất cân bằng thường cao hơn các chu kỳ trước và mang tính văn minh hơn.
Ở Việt Nam, có hàng ngàn thứ không chỉ “rất lạ”, mà phải nói “vô cùng lạ”! Đơn cử như: Không biết có những quốc gia nào trên thế giới ghi vào Cương lĩnh tổ chức chính trị của mình mệnh đề sau đây: “Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc.” (Cương lĩnh năm 2011).
Trong khi đó, theo Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thì xây dựng chủ nghĩa xã hội còn lâu dài lắm, đến hết thể kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay không? Vậy hóa ra còn khoảng 100 năm nữa nước ta mới có độc lập dân tôc! Phần lớn các nước trên thế giới vẫn giữ được độc lập dân tộc còn vững chắc hơn ta mà không hề theo chủ nghĩa xã hội, chúng ta giải thích thế nào về hiện tượng phổ biến này!?
Ngày 23 tháng 6 năm 1990, trên tờ “Sự thật”, ông A. Iakovlev, ủy viên Bộ chính trị, nhà lý luận của Đảng cộng sản Liên Xô đã nêu lên đặc trưng của hệ thống chính quyền nhà nước Liên Xô lúc bấy giờ là: “một nền kinh tế trì trệ, phản dân chủ một cách trắng trợn, quan liêu và tham nhũng. Các cơ quan của Đảng, trên thực tế, đã thay thế tất cả các tổ chức khác, nhưng lại không chịu bất kì trách nhiệm về kinh tế hay pháp lý nào về các chỉ thị và nghị quyết của mình”.
Và chỉ 14 tháng sau khi tuyên bố này được đưa ra, ngày 19 tháng 8 năm 1991 Đảng cộng sản Liên Xô tan rã trong nháy mắt và Liên Xô sụp đổ sau 74 năm tồn tại.
Ở Việt Nam khác với hầu như các nước trên thế giới rất ít khi nhắc tới từ “công lý”, báo chí có nhắc tới chỉ nhắc trong cụm từ “Danh hài Công lý”, còn trong các bộ luật hình sự, dân sự, ngay trong các bản án đều vắng bóng thuật ngữ “công lý”. Mở đầu bản án bao giờ cũng có dòng chữ in đậm “Nhân danh nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, chứ không phải “Nhân danh công lý”, như thiên hạ vẫn làm. Và còn vô số điều “vô cùng lạ” lạ khác nữa….
Có lần tôi được nghe trực tiếp một vị trí thức (tướng công an) nhận xét về quy hoạch nhân sự ở Việt Nam, người nào bộ mặt thông minh quá thì đó lại là khiếm khuyết. Mới nghe thấy rất lạ, tưởng đùa nhưng ngẫm suy thì đó là sự thật. Đối với “Văn hóa làng chài” của Việt Nam thì người tài khó thể hội nhập, đăc biêt, khi đất nước không còn hiểm họa ngoại xâm.
Việt Vương Câu Tiễn (Vua nước Việt) sau khi diệt nước Ngô, hai mưu lược gia thân cận kỳ tài là Phạm Lãi phải bỏ nước ra đi, còn Văn Chủng bị bức hại vì quá giỏi. Khi điểu đã bay xa thì cung quý chẳng để làm gì, khi thỏ quý đã được bắt, thì chó quý giết thịt mà ăn.
Hiện tượng lịch sử này được lặp lại vào thời nhà Hậu Lê. Phạm Văn Sảo, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi là những công thần lập quốc, nhưng họ cũng bị Lê Lợi xử trảm và bất tín không dùng, đến thời nhà Nguyễn, thì Nguyễn Ánh cũng không khác các tiền nhân xưa mấy.
Điểm yếu của Văn hóa Làng chài vẫn tồn tại từ rất xa xưa không dễ thay đổi, ngay cả trong cách chọn nhân tài đất Việt. Cơ chế của ta trong lựa chọn nhân sự nhiều khi là một bộ lọc “ngược” kỳ lạ. Càng có kiến thức sâu rộng, càng có chủ kiến riêng, càng vô tư và lòng tự trọng thì càng khó được… tuyển dụng?
Không phải ngẫu nhiên trong dân gian truyền khẩu “giàu người ta ghét, nghèo ngươi ta khinh, thông minh ta cho chết” nên linh tinh ta cho quyền . Cụ Nguyễn Du đã phán ” chữ tài liền với chữ tai một vần”. Và như một quy luật tâm lý đời sống khá phổ biến, lãnh đạo giỏi thu phục người tài, lãnh đạo kém dùng đám xu nịnh cơ hội và gây chia rẽ để nắm quyền.
Trong bất kỳ một cuộc lột xác thay đổi nào đều không tránh khỏi nỗi đau đớn về thể xác và tinh thần. Mục tiêu tối thượng phải làm sao để không hao tổn hiền tài và nguyên khí quốc gia. Muốn tránh được điều này, đổi mới nền quản trị quốc gia, đoàn kết dân tộc và thực hiện dân chủ phải thực sự bắt đầu từ trong đảng.
Có thể nói chưa có lúc nào đất nước ta lại lâm vào cơn khủng hoảng lòng tin, cùng với nguy cơ lớn từ phía Trung Quốc đe dọa độc lập và chủ quyền quốc gia như hiện nay.
Việt Nam đã thống nhất đất nước nhưng chưa hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng con người. Hệ thống tổ chức trở nên nặng nề, cồng kềnh, chồng chéo, kém hiệu lực, góp phần làm cho năng suất lao động vốn đã thấp, lỗi hệ thống này, cùng với “văn hóa làng chài” nếu cứ để vậy thì không suy thoái mới là lạ.
Thiết nghĩ sự suy yếu đối với ngôi nhà có nền móng không tựa trên 5 cái trụ cơ bản của động lực con người nên vecto lực tổng hợp bị triệt tiêu đi nhiều. Tuy nhiên, đó mới chỉ là cách nhìn nhận mang tính Logic, nếu nhìn vào lịch sử thì các chế độ ( kể cả các nhà nước Phong kiến Á châu trước kia) đều giống nhau ở chỗ chúng không thèm đoái hoài tới cái Vecto tổng lực kia.
Các chế độ đó rất dẻo dai, tồn tại hàng ngàn năm và chỉ buộc phải thay đổi, biến báo để thích nghi. Ngày nay toàn cầu hóa, hội nhập chính là áp lực mạnh từ mọi phía khiến các xã hội phải thay đổi.
Với người lãnh đạo thông minh, có viễn kiến và bản lĩnh thì việc cải cách thể chế đúng lúc, đúng hướng sẽ cứu vãn sự suy thoái, thế nhưng ở Việt Nam- bao giờ?

4 tháng 6, 2015

Những lời tiên tri đúng đến kinh hãi của nhà tiên tri Nostradamus

Nhà tiên tri Nostradamus tuyên bố rằng, những dự đoán của ông về tương lai đều dựa trên những cách tính toán của các hành tinh và các vì sao với trái đất.
Nhà tiên tri Nostradamus (1503-1566) là dược sĩ và nhà tiên tri người Pháp. Ông còn được biết đến với biệt danh “đầy tớ của ma quỷ” bởi tất cả những lời tiên tri của Nostradamus đều không được viết bằng thứ ngôn ngữ phổ thông minh bạch mà đều được viết theo kiểu ẩn ngữ, chơi chữ, hoặc dùng tiếng Hy Lạp, Do Thái, Ả Rập, Italy… là những ngôn ngữ khó. Đó là một lựa chọn thận trọng bởi Nostradamus không muốn bị kết tội dị giáo, phù thủy, mê tín dị đoan…
Những lời tiên tri đúng đến kinh hãi
Trong suốt cuộc đời của mình, Nostradamus đã tiên đoán chính xác rất nhiều thảm họa như dịch bệnh, động đất, chiến tranh, lũ lụt, hạn hán và những trận giao tranh. Những người hâm mộ Nostradamus đã ghi lại những sự kiện trong lịch sử thế giới được dự đoán đúng bao gồm: cách mạng Pháp, chiến tranh thế giới thứ I và thứ II, cái chết của Napoleon, Hitler, công nương Diana và thậm chí là thành tựu khoa học tàu Apolo xuống mặt trăng…
Nostradamus tuyên bố rằng, những dự đoán của ông về tương lai đều dựa trên những cách tính toán của các hành tinh và các vì sao với trái đất. Điều này bắt nguồn từ các nhà sử học cổ điển cũng như những biên niên từ thời trung cổ để lại.
Trong thực tế, nhiều học giả tin rằng, Nostradamus diễn giải ngày tận thế của trái đất từ những lời tiên tri cổ xưa (chủ yếu là từ Kinh Thánh), sau đó thông qua các bài đọc chiêm tinh trong quá khứ để dự báo những sự kiện xảy ra trong tương lai.
Một trong những người đầu tiên kinh hãi trước lời tiên tri của Nostradamus là hoàng đế Henry II của Pháp. Ông vua 46 tuổi khi thấy sức khỏe sa sút đã gọi Nostradamus vào cung để hỏi về số phận mình, và nhận được lời tiên đoán: “Có một ngày, đầu của bệ hạ sẽ bị đâm bởi một vật sắc nhọn và đó là nguyên nhân khiến người băng hà. Điều đó sẽ xảy đến trong 10 năm nữa”.
Ông đã cảnh báo nhà vua nên tránh một cuộc đấu ngựa. Thế nhưng đến tháng 6/1559, phớt lờ những lời cảnh báo của Nostradamus, vua Henry II vẫn tham gia vào cuộc đấu với Bá tước Montgomery trong ngày cưới của cô em gái. Hai đối thủ cùng đeo chiếc khiên khắc nổi hình sư tử và Montgomery trẻ hơn Henry 6 tuổi. Trong khi chơi, một chiếc thương đã xuyên qua tấm khiên che mặt của nhà vua, đâm qua mắt và xiên vào thái dương. Vua Henry II từ trần ở tuổi 51 sau 10 ngày nằm trên giường bệnh.
Nostradamus tiên đoán đúng cái chết của vua Henry II.
Sự kiện đó đã được ghi trong cuốn “Những thế kỷ” của Nostradamus xuất bản trước đó một năm
Vận mệnh của một vị hoàng đế khác sống sau đó 2 thế kỷ cũng được Nostradamus đoán đúng là Napoleon – người bách chiến bách thắng nhưng thất bại ở Nga, rồi mất vương quyền: Những vần thơ của Nostradamus chỉ rõ: “Hoàng đế vĩ đại sẽ khởi đầu với một vị trí thấp kém/Và nhanh chóng trở nên lớn mạnh/Khi ông giành được quyền lực tối cao/Ông hoàng chiến bại bị lưu đày ở Elba/Sẽ trở về Marseilles qua vịnh Genoa/Nhưng không vượt qua được các thế lực ngoại bang/Tuy thoát chết nhưng vẫn phải đổ máu”.
Những tội ác của Hitler, vụ ném bom nguyên tử ở Nagasaki và Hirosima, phi thuyền con thoi của Mỹ bị nổ năm 1985, tổng thống Mỹ Kennedy bị ám sát… đều được cho là Nostradamus tiên tri trong những bài thơ của mình.
Những lời tiên tri sấm truyền
Năm 1554, Nostradamus và ông quyết định dành tất cả những năng lượng của mình vào các tác phẩm. Ông dự định mỗi cuốn sách sẽ gồm 10 chương, mỗi chương là 100 dự đoán viết dưới dạng thơ tứ tuyệt.
Năm 1555, ông xuất bản cuốn Les Prophéties (Lời tiên tri) bao gồm một bộ sưu tập các dự đoán lớn, lâu dài của mình. Để tránh bị soi xét, ông đã nghĩ ra một phương pháp làm giảm đi ý nghĩa của những lời tiên tri bằng cách sử dụng thơ văn và các loại ngôn ngữ khác nhau như Hy Lạp, Ý, Latin và Provencal cùng một số phương ngữ của người miền Nam nước Pháp.
Ông hầu như không bao giờ chỉ rõ thời gian, địa điểm xảy ra các sự kiện nên chẳng ai có thể dựa vào những lời tiên tri của ông mà đoán biết trước được điều gì sắp đến. Trong hầu hết các trường hợp, người ta chỉ có thể sử dụng chúng để chiêm nghiệm sau khi sự việc đã diễn ra.
Cuốn sách đã gây ra rất nhiều tranh cãi, một số người cho rằng Nostradamus là một người đầy tớ của ma quỷ. Những người khác thì lại nghĩ ông là đồ giả tạo hoặc mất trí nhớ. Tuy nhiên, vẫn rất nhiều người tin rằng những lời tiên tri đó được xuất phất từ thần linh. Nostradamus ngày càng trở nên nổi tiếng và được tầng lớp thượng lưu châu Á trọng vọng. Catherine de Medici, vợ vua Henri II của Pháp là một trong những người hâm mộ lớn nhất của Nostradamus.
Sau khi đọc niên giám 1555, thấy bài thơ số 35 ám chỉ một mối đe dọa chưa được đặt tên về gia đình mình, Catherine de Medici đã gọi No
Trong suốt 400 năm qua, những lời tiên tri của Michel de Nostradamus đã khiến các nhà khoa học bối rối. Trong số hơn 1.000 lời tiên đoán của ông, có đến quá nửa đã trở thành sự thật. Các nhà nghiên cứu Nostradamus cho biết, ông đã nhìn thấu tương lai của nhân loại đến tận năm 7000, rằng theo ông thì nào năm 3979, sa mạc Gobi sẽ thành biển cả. Bây giờ mới là năm 2014, vì thế nhân loại sẽ còn rất nhiều thời gian để tiếp tục chiêm nghiệm độ đúng sai trong những lời tiên tri của ông.
Theo kiến thức.

Trang