8 tháng 1, 2015

Tại sao người Việt không thể ngồi cùng nhau

Con chim Flappy đã khiến cho một thanh niên người Việt trở nên nổi tiếng và giàu có. Tuy nhiên để trở thành một ông “Flappy Corps” giống như Bill Gate đã làm được cho Microsoft hay Mark Zuckerberg đã làm cho Facebook của ngày hôm nay thì một mình Nguyễn Hà Đông là không thể.
Trong đám cưới con trai một đồng nghiệp vừa rồi, tôi gặp lại rất nhiều đồng nghiệp và người quen cũ. Sau bao năm không gặp, dù nhiều người mà tôi đã từng rất ngưỡng mộ về chuyên môn một thời, nay đã về hưu, nhưng khi bàn đến công việc, tôi vẫn cảm nhận được rất rõ là họ vẫn như xưa – không phục và không công nhận các thế mạnh của nhau!
Họ không phục nhau không hẳn là vì đố kị, cũng không hẳn là vì họ không biết đủ về nhau sau bao năm cùng chinh chiến trong nghề. Tôi đã nhiều lần tự hỏi phải chăng là vì cái tôi của mỗi người quá lớn? Hay họ theo các trường phái khoa học khác nhau? Hay bởi vì họ từng được đào tạo ở những môi trường khác nhau?
Choáng ngợp bởi nền văn hóa khác
Con chim Flappy đã giúp Nguyễn Hà Đông trở nên nổi tiếng và giàu có. 
Văn hóa có thể được truyền tải và ảnh hưởng đến cộng đồng khác thông qua nhiều con đường khác nhau, bao gồm (i) xâm lược, cai trị; (ii) Tôn giáo (truyền đạo); (iii) du lịch, thương mại; và (iv) giao lưu, học tập. Ngoài TQ và Pháp do các vấn đề đặc thù về lịch sử ra thì trong thời kỳ hiện đại, có thể nói văn hóa (và kể cả ý thức hệ chính trị) của các nước khác ảnh hưởng đến Việt Nam do một phần đóng góp không nhỏ của các thế hệ nhân sĩ, trí thức người Việt từng được đào tạo ở nước ngoài.
Thường thì sau quãng thời gian sống và học tập nơi nước bạn, mỗi người dù ít hay nhiều cũng đều bị ảnh hưởng (theo hướng tích cực) bởi nền văn hóa và kể cả môi trường thể chế của nước đó. Về cơ bản thì đây có thể được xem là các nhân tố tích cực giúp chúng ta có cái nhìn đa dạng và so sánh để qua đó gạn lọc những cái hay, cái văn minh từ các nền văn hóa khác làm phong phú thêm văn hóa người Việt.
Vấn đề nằm ở chỗ người Việt hình như rất dễ bị choáng ngợp bởi những cái hay, cái ưu việt của những nước mà mình du học. Người học ở Nhật thì tôn sùng và ca ngợi “tinh thần Võ sĩ đạo” của người Nhật. Người học ở Mỹ thì đề cao và thán phục tinh thần khai phóng cũng như tính thực dụng của văn hóa Mỹ. Người ở Đức về luôn ngợi ca tính kỷ luật, tinh thần thép và tư duy triết học sâu sắc của dân tộc German, trong khi những ai có điều kiện ăn màn thầu và học chữ Hán thì luôn cổ súy cho văn hóa ngàn năm của Trung Hoa.
Khi trở về, đúng như mong đợi (được xem là sâu xa) của nước đã đào tạo mình, những trí thức Việt, bên cạnh công việc về chuyên môn vẫn vô tình hay hữu ý, công khai hay âm thầm giúp truyền bá hình ảnh và một phần văn hóa của đất nước họ từng mang ơn.
Sẽ không có gì để nói nếu như câu chuyện chỉ dừng lại ở đây. Vấn đề là rất nhiều người có xu hướng tôn sùng (có thể trong vô thức) những cái hay của đất nước đào tạo họ và sử dụng như là quy chuẩn để đánh giá các giá trị hay văn hóa của các nước khác (thường là những người học ở Âu, Mỹ). Đối với họ, đấy chính là những thứ mà mọi người Việt cần hướng tới, bởi vì đây là quy chuẩn, là tương lại của chúng ta, là khoa học, là tân tiến và là “miễn bàn”(!),v,v.
Đối với những ai được học ở những nước được cho là kém văn mình hơn, nghèo hơn hay lạc hậu hơn, có thể họ sẽ cảm thấy bị mặc cảm đôi chút. Dù sao thì xét về tương đối, đất nước mà họ từng học cũng có khối thứ cái hay ho hơn – những thứ mà người Âu, người Mỹ có nằm mơ cũng không có được. Điều này sẽ tạo nên hiệu ứng phản vệ trong từng cá nhân khiến cho họ cảnh giác, dè chừng và không hợp tác với những ai được biết là từng học tại những nước tiên tiến hơn. Đây có lẽ là một trong những nguyên nhân khiến cho sự đoàn kết, hợp tác và làm việc theo nhóm của nhiều trí thức Việt bị hạn chế như hiện nay.
Con chim Flappy đã giúp một thanh niên người Việt trở nên nổi tiếng và giàu có. Tuy nhiên để có thể trở thành một ông “Flappy Corps” giống như Bill Gate đã làm được cho Microsoft hay Mark Zuckerberg đã làm cho Facebook của ngày hôm nay thì một mình Nguyễn Hà Đông là không thể.
Vai trò của cá nhân trong sáng tạo và ý tưởng là không thể phủ nhận, tuy nhiên để hiện thực hóa ý tưởng và giúp chúng lớn mạnh, cần sức mạnh của tập thể, trong đó mỗi người ngoài làm tốt công việc của mình thì còn phải biết hợp tác và kết nối với nhiều người khác. Phải chăng chúng ta đang rất yếu ở khâu này – tính kết nối và tình thần sẵn sàng hợp tác, mà nguyên nhân một phần quan trong nằm ở những người có ít nhiều ảnh hưởng tại mỗi công đoạn – vốn thường được đào tạo ở nước ngoài(!).
Gấp rút thay đổi
Bài học từ lịch sử và các vấn đề đang diễn ra cho thấy có rất nhiều thứ cần phải gấp rút thay đối để đáp ứng các yêu cầu của thời đại mới – Toàn cầu hóa, khi không ai có thể sống một mình. Để sức mạnh Việt không chỉ được ngợi ca trong chiến trận, thì tình thần cầu thị, chấp nhận các khác biệt của nhau để cùng nhau hợp tác và phát triển là vô cùng quan trọng.
Mỗi người vẫn có thể giữ cho riêng mình, sự kính phục và tình yêu với đất nước đã cho mình tương lai, nhưng quan trọng hơn cả chúng ta vẫn là người Việt Nam, là con Lạc, cháu Hồng và bên cạnh trách nhiệm mang tính tự nguyện với đất nước mà mình từng du học, thì trách nhiệm với dân tộc và đất nước mình vẫn quan trọng hơn tất thảy.
Học ở đâu, cái gì có thể chỉ là thứ yếu nếu chúng ta không thể cùng nhau phát huy những cái hay, cái ưu việt mà mình học được từ nước ngoài để phục vụ gia đình và phụng sự đất nước. Sẽ mất mát một nguồn lực chất xám đáng kể nếu như vẫn không thể kết nối trí tuệ của một bộ phận không nhỏ những người được đào tạo bài bản từ nước ngoài như hiện nay.
Trong khi chờ đợi những thay đổi có thể đến trong nay mai từ các chính sách của Nhà nước, mỗi người hãy tự làm mới mình bằng cách kết nối với nhau nhiều hơn, hợp tác cùng nhau để cho ra đời nhiều hơn các sản phẩm kết tinh trí tuệ đoàn kết Việt.
Chúng ta sẽ làm được và thay đổi được thực trạng và hình ảnh đất nước ngày mai nếu chịu thay đổi tư duy từ hôm nay. Hãy nhìn ra xung quanh để tạo cho mình tinh thần cởi mở, có cái nhìn đa chiều cho cùng một vấn đề và đôi lúc chấp nhận thiệt thòi vì đại cục của quốc gia.

11 bài phát biểu trong lịch sử làm thay đổi thế giới

Tờ Time bình chọn 11 bài phát biểu của những nhà lãnh đạo đại tài trong hai thế kỷ 19 và 20 đã làm thay đổi thế giới.
Tiến sĩ Martin Luther King với bài phát biểu "Tôi có một giấc mơ" ở thủ đô Washington ngày 28 tháng 8 năm 1963.
Sự giả dối của chế độ nô lệ
Tác giả: Frederick Douglass
Thời gian: ngày 04 tháng 7 năm 1852.
Vào ngày Quốc Khánh của nước Mỹ, Frederick Douglass đã có một bài phát biểu ngắn tố cáo xã hội nước Mỹ. Trong bài phát biểu, ông lên án việc làm thế nào mọi người lại có thể tự hào về sự tự do và ăn mừng vì quyền bình đẳng trong khi hàng triệu người ngoài kia vẫn phải sống trong kiếp nô lệ. Frederick Douglass thẳng thắn gọi mỗi người Mỹ mà đang vui mừng kia là những kẻ đạo đức giả và thậm chí mỉa mai cả ngày đánh dấu nền độc lập của quốc gia này.
Trích dẫn: “Đối với một nô lệ người Mỹ, ngày 4/7 là ngày gì?” Tôi trả lời: “Là ngày mà anh ta phát hiện ra rằng, anh ta sẽ mãi là một nạn nhân của sự bất công và tàn ác, rõ ràng hơn tất cả các ngày còn lại trong năm.”
Diễn văn Gettysburg
Tác giả: Tổng thống Abraham Lincoln
Thời gian: ngày 19 tháng 11 năm 1863
Bài diễn văn được Tổng thống Lincoln viết và phát biểu trong thời Nội chiến Mỹ, và trở thành một trong những bài diễn văn bằng tiếng Anh hay nhất trong suốt bề dày lịch sử nhân loại. Lincoln khẳng định cuộc Nội chiến là một sự đấu tranh không chỉ cho Liên bang mà để "sản sinh một nền tự do mới", sẽ mang đến cho mọi công dân một sự bình đẳng thực sự. Bài diễn văn không đề cập đến chế độ nô lệ, các phe phái trong cuộc Nội chiến mà thay vào đó, ông nhấn mạnh định nghĩa của chính phủ Mỹ là “một chính phủ của dân, do dân và vì dân”.
Trích dẫn: “Tám mươi bảy năm trước, ông cha ta đã tạo dựng trên lục địa này một quốc gia mới, được thai nghén trong Tự do, được cung hiến cho niềm xác tín rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng.”
Quyền bầu cử của nữ giới
Tác giả: Susan B. Anthony
Thời gian: Năm 1873
Bà Susan B. Anthony đã bị phạt vì tội đi bỏ phiếu trong cuộc bầu cử năm 1872. Chính vì thế, bà đã đứng lên vận động đấu tranh cho quyền bầu cử của nữ giới. Bà cũng cho rằng sẽ không có hy vọng cho tiến bộ xã hội tại Mỹ chừng nào phụ nữ chưa được trao đầy đủ các quyền như nam giới. Các quyền đó phải bao gồm cả quyền đi bỏ phiếu bầu cử. Và cuối cùng, Tu chính hiến pháp số 19 đã được thông qua ngày 20 tháng 08 năm 1920, công bố quyền bầu cử không được từ chối bất kỳ ai chỉ vì giới tính.
Trích dẫn: “Toàn dân là chúng ta, chứ không phải là những công dân da trắng, cũng không phải những công dân nam giới. Chúng ta là toàn dân, là người gây dựng nên đất nước này,bảo vệ đất nước này, phụ nữ cũng bình đẳng như nam giới.”
Diễn văn "Mười bốn Điểm"
Tác giả: Tổng thống Woodrow Wilson
Thời gian: ngày 08 tháng 1 năm 1918
Bài phát biểu của Tổng thống Wilson tuyên bố rằng việc Hoa Kỳ tham gia vào Thế chiến I là do các nguyên nhân về đạo đức. Trong bài phát biểu, ông đã đề xuất 14 điểm tập trung vào các nguyên tắc theo hơi hướng tự do chủ nghĩa. Các đề xuất của ông sau đó đã trở thành nền tảng cho chính sách đối ngoại của nước Mỹ.
Trích dẫn: “Mọi dân tộc trên thế giới thực tế đều là các đối tác phục vụ lợi ích này, và về phần mình chúng ta hiểu rõ ràng rằng nếu không tạo ra được công lý cho người khác thì sẽ không thể có được công lý cho chính mình.”
Diễn văn nhậm chức lần thứ nhất
Tác giả: Tổng thống Franklin Delano Roosevelt
Thời gian: ngày 04 tháng 3 năm 1933
Khi một trong những cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nhất lịch sử nước Mỹ đang làm tê liệt nền kinh tế của quốc gia này, Franklin Delano Roosevelt cho biết ông đang có ý định giải quyết cuộc khủng hoảng này. Ông đã thông báo ý định của mình với chính quyền và sử dụng các quyền hạn của chính phủ liên bang để giải quyết khủng hoảng. Trong bài phát biểu, Roosevelt tuyên bố bắt đầu cuộc chiến tranh chống lại Đại khủng hoảng.
Trích dẫn: “Điều duy nhất mà chúng ta phải sợ hãi chính là nỗi sợ hãi.”
Chúng ta sẽ chiến đấu trên biển
Tác giả: Winston Churchill
Thời gian: ngày 04 tháng 6 năm 1940
Bài phát biểu đã truyền cảm hứng cho những người Anh và gây ấn tượng với người Mỹ bởi quyết tâm đối mặt với sự xâm lăng của nước Đức của Chính phủ Anh. Bài phát biểu được đưa ra sau khi quân đôi Anh đã lật ngược tình thế một cách đáng kinh ngạc khi rút khỏi Dunkrik thành công.
Trích dẫn: “Chúng ta sẽ đi tới kết thúc. Chúng ta sẽ chiến đấu ở Pháp, chiến đấu trên những bãi biển và đại dương bao la…Chúng ta sẽ chiến đấu để bảo vệ hòn đảo của chúng ta, bằng bất cứ giá nào, chúng ta sẽ chiến đấu trên các đường phố, trên các ngọn đồi, chúng ta sẽ không bao giờ đầu hàng. Dù đói rét, dù không có lòng tin, dù sắp mất hết tất cả, chúng ta sẽ không bao giờ đầu hàng.”
Hẹn hò với định mệnh
Tác giả: Jawaharlal Nehru
Thời gian: ngày 14 tháng 8 năm 1947
Trong Tuyên ngôn Độc lập của Jawaharlal Nehru, Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, ông đã ca ngợi tư tự do, nền độc lập của Ấn Độ sau hơn một thế kỷ bền bỉ chống lại ách thống trị của người Anh. Bên cạnh đó, ông cũng nhắc nhở mọi người phải tỉnh vì trước mắt còn nhiều khó khăn như nguy cơ xung đột sắc tộc hay phân chia quyền lợi của các tiểu quốc.
Trích dẫn: “Một thời điểm đang đến, chỉ đến rất hiếm hoi trong lịch sử, khi chúng ta bước ra khỏi cái cũ để đến với cái mới, khi một thời đại kết thúc, và khi linh hồn của một quốc gia, từ lâu đã bị đàn áp, tìm được tiếng nói.”
“Chúng tôi chọn đi tới mặt trăng”
Tác giả: Tổng thống John F. Kennedy
Thời gian: ngày 12 tháng 9 năm 1962
“Chúng tôi chọn đi tới mặt trăng” là minh chứng thuyết phục nhất của Tổng thống John F. Kennedy về tầm quan trọng của việc khám phá chinh phục không gian và tài trợ cho Đề án Apollo. Ông Kennedy khẳng định rằng Hoa Kỳ cần phải có những nhà lãnh đạo trong việc thăm dò không gian, và đánh dấu bước tiến quan trọng đầu tiên của lĩnh vực này khi được Tổng thống quan tâm đến.
Trích dẫn: "Chúng ta chọn đi lên Mặt Trăng và tiến hành những chương trình khác không phải vì đây là những việc dễ làm, nhưng bởi vì đây là những sứ mạng khó khăn…”
Tôi có một giấc mơ
Tác giả: Martin Luther King, JR.
Thời gian: ngày 28 tháng 8 năm 1963
Trong bài diễn văn, Luther King đã nói lên ước mơ cháy bỏng của mình cho một tương lai của nước Mỹ, tương lai mà ở đó, người da đen và người da trắng được đối xử bình đẳng, chung sống hoà thuận. Cuộc tuần hành, cùng với bài diễn văn lay động này đã gây áp lực lên chính quyền Tổng thống Kennedy, thúc đẩy việc thông qua đạo luật dân quyền tại Quốc hội Mỹ.
Trích dẫn: “Tôi có một giấc mơ sẽ có một ngày mọi thung lũng sẽ được nâng cao, và mọi đồi núi sẽ bị hạ thấp, chỗ lồi lõm sẽ được ban bằng, và chỗ quanh co sẽ thành ngay thẳng, và “sự vinh hiển của Thiên Chúa sẽ hiển lộ để mọi loài xác thịt cùng nhau chiêm ngưỡng.”
Tôi sẵn sàng để chết đi
Tác giả: Nelson Mandela
Thời gian: ngày 20 tháng 4 năm 1964
Lời phát biểu này là của Nelson Mandela, cựu Tổng thống Nam Phi, nhà hoạt động chống phân biệt chủng tộc trong phiên tòa tại tòa án Rivonia năm 1964, khi ông đối mặt với một án tử hình vì âm mưu lật đổ chính quyền.
Trích dẫn: “Tôi đã chiến đấu chống lại sự thống trị của người da trắng, và tôi đã chiến đấu chống lại sự thống trị của người da đen. Tôi yêu mến lý tưởng về một xã hội dân chủ và tự do, trong đó mọi người dân sống với nhau hòa thuận, có những cơ hội bình đẳng. Đó là lý tưởng mà tôi hy vọng sẽ sống vì nó và đạt được nó. Nhưng nếu cần, tôi cũng sẵn sàng chết vì lý tưởng đó."
Hãy phá đổ bức tường này
Tác giả: Tổng thống Hoa Kỳ, Ronald Reagan
Thời gian: ngày 12 tháng 6 năm 1987
Trong bài diễn văn đọc tại Cổng Brandenburg cạnh Bức tường Berlin, Reagan đã thách thức Gorbachyov (lúc đó là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên xô) hãy phá bỏ bức tường để biểu hiện sự ước muốn của Gorbachyov trong việc làm gia tăng sự tự do trong khối Xô Viết. Bài phát biểu của ông được xem là một bước ngoặt lớn trong cuộc Chiến tranh Lạnh.
Trích dẫn: "Ông Gorbachev, hãy phá đổ bức tường này!"
Thu Phương(Theo Rachel Rolnick/ Time)

6 tháng 1, 2015

Văn hóa “Sợ vợ”

Tác giả:.KD: Chít cười. Bạn bè iu quí gửi cho. Không rõ tác giả. Xin cứ đăng lên để bạn đọc thư giãn :
————
.Theo một nghiên cứu mới nhất “Sợ Vợ” là một truyền thống, một thói quen, một môn khoa học, và trên hết, một đặc trưng văn hoá mang tính phổ quát toàn nhân loại….
Bài học đầu tiên sau khi rước vợ về nhà…:
Tại các trường đại học danh tiếng trên thế giới hiện nay đều bắt đầu đưa vào chương trình đào tạo môn “Sợ vợ học”, do những giáo sư danh tiếng giảng dạỵ..
Nhiều công trình nghiên cứu của họ đang được hội đồng xét giải Nô-ben chú ý. Chẳng hạn như viện sĩ A. Tylor người Anh với tập sách “Ảnh hưởng của tính sợ vợ trong phong cách kiến trúc Hy Lạp cổ đại”, giáo sư H. Barbus người Pháp với luận án “Hội hoạ ấn tượng – một trường phái sợ vợ tiêu biểu”, hoặc tiến sĩ V.V. Lu-ca-nốp người Nga với khảo cứu mang tựa đề “Sợ vợ và những ứng dụng của nó trong công nghệ sản xuất rượu vốt-ca”.
Các chuyên gia cũng chỉ ra rằng có sự liên quan chặt chẽ giữa tỷ lệ người sợ vợ và nhịp độ tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt, sự phát triển của nhiều ngành khoa học mũi nhọn đang phụ thuộc vào những hiện tượng liên quan đến việc sợ vợ tới mức khó hiểu. Chẳng hạn, công nghệ biến đổi di truyền chỉ mạnh ở những nước nào có nhiều người đàn ông sợ vợ trên 50 tuổi. Hoặc những thử nghiệm về tàu ngầm mang năng lượng hạt nhân đều thất bại khi thuyền trưởng chỉ sợ vợ vào ban ngày chứ không sợ vào ban đêm.
Vai trò của sợ vợ, vì thế, hiện nay là không thể bàn cãi. Các nhà sử học đang thảo luận về đề án phân chia lại lịch sử nhân loại thành bốn thời kỳ: thời kỳ đồ đá, thời kỳ đồ đồng, thời kỳ đồ sắt, và thời kỳ sợ vợ :
Các nhạc sĩ lại đòi chia âm nhạc thành hai thể loại: loại cổ điển và loại cao cấp dành cho đàn ông sợ vợ. Còn các nhà xã hội học thì định chia xã hội ra thành ba loại: xã hội nô lệ, xã hội phong kiến, và xã hội sợ vợ :
Khi áp dụng phương pháp hệ thống – loại hình vào nghiên cứu thì người ta thấy rất rõ sự khác biệt mang tính loại hình trong cách nhận thức, cách tổ chức và cách ứng xử về việc sợ vợ trong các truyền thống văn hoá khác nhau. 
Để thống kê đầy đủ và phân tích cặn kẽ các hành vi này, hàng ngàn nhà văn hoá học với sự hợp tác của các nhà khoa học chuyên ngành khác, đang miệt mài thực hiện ngày đêm hàng trăm đề tài khoa học trọng điểm các cấp. 
Trong giai đoạn đầu, các nhà khoa học nhất trí tập trung nghiên cứu văn hoá sợ vợ ở các dân tộc Châu Âu. Ở phương Đông thì tạm thời mới chỉ xét trường hợp Việt Nam là dân tộc có truyền thống văn hoá sợ vợ tiêu biểu.
Sau đây là những kết quả nghiên cứu sơ bộ được tổng kết và công bố trong Hội thảo quốc tế về sợ vợ học:
Đàn ông Pháp khi sợ vợ thường chui vào hầm rượu vang, uống cho thật say và nằm im. Đến khi tỉnh lại, họ đi kiếm một chai sâm-banh mang về tạ lỗi.
Đàn ông Anh khi sợ vợ thường kiếm một đám sương mù thật dày đặc để chui vào. Trong đám sương đó, họ lén lút viết đơn xin ly dị và để rồi lén lút đốt đi khi sương tan.
Đàn ông Tây Ban Nha mỗi khi sợ vợ là chán đời đi đánh nhau với bò tót. Sợ càng nhiều, họ đánh lại càng hăng. Kết quả là các nhà vô địch sợ vợ đều ít khi trở về nhà sau mỗi trận đấu, hoặc nếu có trở về thì cũng khiến cho vợ thất vọng tràn trề vì “gia tài còn lại một vòi nước trong” :
Đàn ông Ý khi sợ vợ thường chui vào bếp nấu món mỳ ống. Nấu nướng xong, họ bưng lên, rắc cà chua và phó-mát vào, rồi ngồi chờ vợ cho phép mới dám ăn. 
Đàn ông Ái Nhĩ Lan khi sợ vợ thường mang tấm khăn trải giường ra làm váy. Khi được vợ tha thứ, họ bèn mang tất cả váy ra làm khăn trải giường. Kết quả là váy của họ cứ nát ra thành từng miếng, gọi là váy ca-rô.
Đàn ông Đức mỗi khi bị vợ mắng là ra xe hơi nằm. Chính những lúc tâm hồn u uất, nằm suy nghĩ về những mối tương quan vật chất và tinh thần giữa vợ và xe ấy mà họ làm ra được những chiếc xe hơi nổi tiếng nhất thế giới về độ bền và độ an toàn .
Đàn ông Thổ Nhĩ Kỳ khi sợ vợ đều nắm lấy một bộ phận gì đó trên thân thể mình mà vặn, xoáy. Đấy chính là nguyên nhân khiến ngày nay đàn ông ở đây đều có mũi bị sưng to và râu bị vểnh lên. :
Đàn ông Bỉ hễ trông thấy vợ nổi giận là cảm thấy tương lai, hiện tại và quá khứ đều tối sầm. Cho nên nước Bỉ nổi tiếng vì có những sản phẩm bằng Sô-cô-la cực ngon, do màu Sô-cô-la là màu đen tối.
Đàn ông Đan Mạch khi bị vợ mắng thường chạy sang Thuỵ Điển, còn đàn ông Thuỵ Điển lại chạy sang Đan Mạch. Do đó, hai nước này có những chiếc phà cực lớn hoạt động suốt ngày đêm.
Đàn ông Việt Nam sợ vợ còn được xác nhận bằng “dấu tròn” 
(Hình ảnh được lấy trên google chỉ mang tính chất minh họa)
Sợ vợ tại VN đã đi vào thơ văn mẫu mực: 
– Với phương châm học để hành, học để làm việc của mình, và xét thấy vai trò vô cùng quan trọng của bộ môn khoa học Sợ vợ theo như phân tích ở trên đối với việc phát triển nền trí thức công nghệ thông tin nước nhà… – ITPLus Academy liệu có đang lên kế hoạch đầy tham vọng của mình để đưa môn học này vào giảng đường nhằm giúp các em học viên Nam của mình có thể tiếp cận ngay lập tức môn sợ vợ học chính thống với giáo trình hiện đại và nội dung thực hành đầy đủ nhất ??? Xin vui lòng cho biết ý kiến của bạn ở dưới nhé :

Không “mê sảng tự hào”, cũng “không gặm nhấm tự ti”

Bùi Hoàng Tám
(Dân trí) - Không “mê sảng” trong sự tự huyễn hoặc mình, không tự ti đến mức “chê bai, dè bỉu” chính mình. Cách tốt nhất là chúng ta vừa có quyền tự hào về truyền thống cha ông để lại và cả những gì chúng ta đã và đang làm được hôm nay, song chúng ta cũng phải biết xấu hổ vì những yếu kém, thua thiệt của đất nước mình, dân tộc mình. 
(Minh họa: Ngọc Diệp)
“Tôi tự hào là người Việt Nam”, diễn đàn do báo Lao động vừa tổ chức đã thu hút sự quan tâm của cộng đồng xã hội. Cái khái niệm “tự hào dân tộc” thì bất cứ người dân của dân tộc nào trên thế giới này cũng đều có niềm tự hào về dân tộc họ, đất nước họ. 
Cho nên có lẽ, điều quan trọng không nằm ở câu hỏi: Người Việt Nam có đáng tự hào không? Dân tộc Việt Nam có đáng tự hào không?... mà ở chỗ nên tự hào mức nào hay nói cụ thể, chúng ta nên tự hào về những điều gì và ngược lại, cũng nên biết xấu hổ về những điều gì.
Cụ Phan Bội Châu đã từng chỉ ra 5 điều dở (nguyên văn lời cụ là “ngu”) của dân ta lúc bấy giờ.
Một, hay nghi kỵ lẫn nhau, không làm nên việc gì cả. Hai, tôn sùng những điều xa hoa vô ích, bỏ bễ những sự nghiệp đáng làm. Ba, chỉ biết lợi mình mà không biết hợp quần. Bốn, thương tiếc của riêng, không tưởng đến việc ích chung. Năm, biết có thân mình, nhà mình mà không biết có nước.
Những lời tự phê nghiêm khắc của Nhà chí sỹ yêu nước họ Phan tiếc thay dù đau xót, chúng ta cũng không thể nói khác.
Gần một thế kỉ sau, tại Diễn đàn nói trên, bà Tôn Nữ Thị Ninh, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội đã thẳng thắn đặt ra những câu hỏi cần trả lời: “Chúng ta là ai? Tôi là ai? Như thế nào là người Việt Nam? Bởi mình phải biết mình là ai thì mới mới có thể tự hào được. Còn nhắm mắt mà tự hào thì thật nguy hiểm… Khi mình cố gắng tư duy, trăn trở để biết mình là ai thì tôi nghĩ dứt khoát mình sẽ có cái đáng để tự hào thật sự và cũng có cái đáng để xấu hổ”.
Quá đúng!
Quá đúng bởi chúng ta đã từng có thời mê mẩn chính mình đến mức “Ta là ta mà lại cứ mê ta” như một câu thơ của thi sỹ Chế Lan Viên. Cái niềm “tự hào mê mẩn” này đã khiến nhiều khi chúng ta ngộ nhận mà trong một bài viết trên Dân trí cách đây ít lâu, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã bày tỏ thẳng thắn:
“Chúng ta đã từng đi qua một thời mà có người gọi là “thời ngạo mạn”. Trong cái "thời ngạo mạn", chúng ta nói: Người Việt ta yêu nước nhất thế giới, người Việt ta anh hùng nhất thế giới, người Việt ta thông minh nhất thế giới. Chúng ta nói: Người Việt ta nhân đạo nhất thế giới. Chúng ta nói: Thủ đô ta nhiều cây xanh nhất thế giới…
Nhưng đến một ngày, chúng ta nhận ra sự thật không phải hoàn toàn như vậy. Đây là điều chưa từng có trong lịch sử của dân tộc chúng ta trước đó cho dù ông cha ta đã làm nên những điều kỳ vỹ”.
Thế nhưng gần đây, lại xuất hiện xu hướng tự ti dân tộc. Không chỉ sính hàng ngoại, chuyên gia ngoại và cả… lấy chồng ngoại mà cứ hễ nói đến đất nước Việt Nam, nói đến người Việt Nam là không ít người Việt Nam chúng ta tự chê bai mình không tiếc lời.
“Chúng ta tự vẽ lên chân dung chúng ta xấu xí đến không tưởng. Không ít người nước ngoài trố mắt kinh ngạc khi nghe chính người Việt nói về người Việt. Một số bạn bè nước ngoài của tôi nói: Người Việt Nam có rất nhiều đức tính đẹp nhưng sao tôi nghe không ít người Việt nói về người Việt cứ như người Việt là những người kém cỏi và xấu xí nhất thế giới này? Chúng ta đã đi từ cái nhất này đến cái nhất khác một cách dễ dàng. Trạng thái này cho thấy sự bất ổn về nhân cách của chúng ta”. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều tâm sự.
Vâng! Tính ngạo mạn hay sự tự ti đều biểu hiện “sự bất ổn về nhân cách”.
Vì vậy cũng trên Dân trí, GS. Ngô Bảo Châu từng viết: “Thay bằng việc tự gặm nhấm cái tự ti cá nhân, mỗi người nên cố làm tốt việc của mình và cố nhìn ra điểm mạnh điểm tốt của những người xung quanh để hợp tác và hỗ trợ”
Không “mê sảng” trong sự tự huyễn hoặc mình, không tự ti đến mức “chê bai, dè bỉu” chính mình. Cách tốt nhất là chúng ta vừa có quyền tự hào về truyền thống cha ông để lại và cả những gì chúng ta đã và đang làm được hôm nay, song chúng ta cũng phải biết xấu hổ vì những yếu kém, thua thiệt của đất nước mình, dân tộc mình.
Không “mê sảng tự hào”, cũng “không gặm nhấm tự ti”, đó mới là phương cách hành xử hiện nay, phải không các bạn?

Viễn ảnh 2025

Dự đoán tương lai thường là hành động của những người liều lĩnh hoặc dại khờ. Lịch sử đầy rẫy những tiên đoán của nhiều nhân vật nổi tiếng mà sau này chính họ cũng muốn rút lại.
Trong giới kinh tế, ít ai quên rằng, vào năm 1926, chính J. M. Keynes, có lẽ là nhà kinh tế vĩ đại nhất thế kỷ 20, tiên đoán rằng trong tương lai sẽ không có khủng hoảng kinh tế! Irving Fisher, một nhà kinh tế hàng đầu cùng thời với Keynes, cũng khẳng định vào năm 1929 rằng thị trường chứng khoán sẽ chỉ xuống giá vài hôm là cùng. Gần đây hơn (1998) Paul Krugman mạnh bạo tiên đoán rằng đến năm 2005 thì ảnh hưởng kinh tế của Internet sẽ không hơn gì fax (và có mấy ai còn nhớ fax là gì?).
Trong lĩnh vực khoa học thuần túy, nhà vật lý thiên tài Stephen Hawking đoan chắc năm 1988 rằng muộn lắm là vào năm 2000 khoa học sẽ có thể giải thích tất cả hiện tượng trong vũ trụ bằng một lý thuyết tổng quát và nhất thống (unified theory of everything). Nay là năm 2015 rồi, và nhân loại vẫn còn đợi.
Nhưng, dù có thể là sai, hoặc rất sai, mọi người đều phải dự đoán, nhất là trong ngắn hạn và trung hạn, để chuẩn bị cho những gì có thể xảy ra, chí ít là trong sinh hoạt hàng ngày của mình. Và tất nhiên, đối với những người có nhiệm vụ lãnh đạo (doanh nghiệp, tập thể, hay quốc gia) thì việc dự đoán chính là một phần cốt yếu của trách nhiệm.
Vậy thì, thử đoán: Việt Nam sẽ ra sao năm 2025? Chọn 2025 vì từ đây đến đó không quá gần (để thiếu thích thú) mà cũng chẳng quá xa (để dễ sai lầm). Hơn nữa, đó là năm mà Việt Nam đã độc lập và thống nhất tròn nửa thế kỷ. Một điểm mốc nổi cộm trong dòng lịch sử của chúng ta.
Ba xu hướng chung
Trước hết, chúng ta có thể nhận diện vài xu thế chung, có tính định hướng cho mọi quốc gia trong những thập niên sắp đến. Ba xu hướng ấy là (1) tiến bộ công nghệ, (2) toàn cầu hóa, và (3) biến đổi khí hậu.
Tiến bộ công nghệ là một xu hướng không ai có thể phủ nhận
Ảnh: Lê Anh Dũng
Tuy nhiên nói là khoa học và công nghệ tiến bộ là chưa đủ, thậm chí quá mơ hồ. Sự thực là, tốc độ tiến bộ của khoa học trong vài thập kỷ gần đây có phần chậm lại (nhìn kỹ sẽ thấy những phát minh nền tảng, có tính cách mạng đã xảy ra từ khoảng năm 1945-1971(1)) và tiến bộ công nghệ diễn ra rất không đồng đều ở những ngành công nghiệp khác nhau.
Hơn nữa, đa số tiến bộ công nghệ bộc phát từ nhu cầu sinh hoạt xã hội, do sự kích thích của lợi nhuận kinh tế đến tinh thần sáng tạo cá nhân. Sự phát triển những ứng dụng này rất bất ngờ: chỉ vài năm trước đây không ai tưởng tượng là dịch vụ taxi Uber hay thuê phòng ở tư gia Airbnb phổ biến nhanh chóng như hiện tại. Trong tương lai trước mắt, xu hướng phát triển của Internet là “Internet kết nối mọi thứ” (“The Internet of Things”) tức là dùng điện thoại hoặc máy tính bảng để điều khiển gia dụng (như máy điều hòa nhiệt độ, máy đóng/mở cửa garage).
Toàn cầu hóa
Cụm từ “toàn cầu hóa” hầu như đã trở thành sáo ngữ, và thường được cho là một xu hướng tốt đẹp. Trên thực tế thì ngày càng hiện rõ những khía cạnh không tốt của trào lưu này, chẳng những về mặt kinh tế mà còn về mặt y tế, văn hóa, tội phạm...
Oái oăm là, song song với toàn cầu hóa, từ vài năm nay chủ nghĩa dân tộc cũng có xu hướng mạnh lên, chẳng những ở các quốc gia đang phát triển mà còn ở các nước phát triển phương Tây (kể cả Nga và Đông Âu). Một phần, xu hướng này là do sự xách động của các lãnh tụ cơ hội (như trường hợp Trung Quốc) để huy động sự ủng hộ của quần chúng khi quốc gia của họ gặp những khó khăn kinh tế, chẳng hạn. Tuy nhiên, không ít trường hợp chủ nghĩa dân tộc bộc phát từ quần chúng như một hệ quả của toàn cầu hóa.
Có hai lý do. Một là, sự di dân ồ ạt (ngay giữa những nước có văn hóa tương đối giống nhau, như Đông Âu và Tây Âu) gây ra phản ứng bài ngoại của người bản xứ, nhất là trong thời kỳ kinh tế suy thoái. Hiện tượng này đang xảy ra ở Tây Âu. Hai là, những nước nhỏ tự thuyết phục rằng họ cũng có thể tự lập về kinh tế (Scotland đã viện dẫn Iceland làm ví dụ, và miền Catalan ở Tây Ban Nha cũng rục rịch theo sau, đòi tách ra khỏi Tây Ban Nha).
Biến đổi khí hậu
Đây là một đại nạn đang xảy ra cho nhân loại, không phải là chuyện xa vời, và ảnh hưởng của nó không chỉ ở việc mất đất do sa mạc hóa, do mực nước biển dâng cao, mà còn gián tiếp ảnh hưởng đến thể chế và an ninh quốc gia. Lấy trường hợp Syria làm ví dụ. Nhiều học giả cho rằng một trong những nguyên nhân chính của cuộc nội chiến ở quốc gia này, và lan ra khắp Trung Đông, là biến đổi khí hậu. Cụ thể, nhiều vùng đất trồng trọt ở Syria đã bị sa mạc hóa do biến đổi khí hậu. Dân cư các vùng này phải tìm cách mưu sinh ở thành thị. Tập trung vào những khu ổ chuột, không được sự trợ giúp của nhà nước, họ đâm ra bất mãn và cầm súng chống lại chế độ. Tình trạng tương tự cũng đang manh nha ở Brazil, vùng sông Amazon.
Ba xu hướng này, lúc thì cộng hưởng, lúc thì đơn lẻ, sẽ có ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội, văn hóa, và cả thể chế nữa.
Viễn ảnh
Tăng trưởng, bình đẳng và khủng hoảng
Có thể khẳng định rằng nhìn chung, kinh tế toàn cầu sẽ tiếp tục tăng trưởng trong nhiều thập niên tới. Sau cuộc cách mạng công nghiệp vào thế kỷ 18, không còn ai tin rằng tương lai nhân loại sẽ tối mịt như tiên đoán của Malthus. Tất nhiên, cũng phải nhìn nhận là có hai hiểm họa hăm dọa tương lai loài người, đó là biến đổi khí hậu và đại chiến với vũ khí hạt nhân.
Song, trong xu thế toàn cục đáng lạc quan ấy là một số không nhỏ các xu thế cục bộ (ảnh hưởng nước này nhiều hơn nước kia, lúc này hơn lúc khác), có thể là nguyên nhân của nhiều bi quan.
Một là, tốc độ tăng trưởng sẽ không đồng đều giữa các quốc gia, mà phần lớn là do hậu quả của chất lượng chính sách và thể chế của từng quốc gia. Chênh lệch giữa các quốc gia phát triển và một số quốc gia chậm phát triển có thu hẹp, nhưng chênh lệch giữa các quốc gia (một thời cùng là chậm phát triển) lại giãn ra thêm. Do đó sự chêch lệch giữa các quốc gia về chất lượng đời sống cũng như về sức mạnh kinh tế lẫn quân sự sẽ tăng lên. Điều này tất nhiên sẽ có những hậu quả nghiêm trọng về quốc phòng và an ninh.
Hai là tốc độ tăng trưởng thu nhập thường không đồng đều (theo địa phương, ngành nghề, thang thu nhập) trong từng quốc gia. Nói cách khác, ở nhiều quốc gia, chênh lệch giàu nghèo có khuynh hướng tăng thêm, có khi tăng vọt một cách đáng ngại. Cần nhấn mạnh điều này: trong lúc khoảng cách giữa các quốc gia phát triển và chậm phát triển ngày càng thu nhỏ thì sự chênh lệch giàu nghèo trong mỗi quốc gia lại có xu hướng tăng lên(2).
Ba là nguy cơ khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế luôn luôn tồn tại. Nhìn lại kinh nghiệm thế kỷ vừa qua thì hầu như thập niên nào cũng có một cơn khủng hoảng tài chính quốc tế (khu vực hoặc toàn cầu). Từ đây đến năm 2025 cũng khó mà tránh được một thời kỳ suy thoái, nặng hoặc nhẹ, chỉ vài tháng hay lâu hơn. Tăng trưởng sẽ chậm lại, thậm chí đình trệ hoặc quay về hướng âm. Ảnh hưởng của những cuộc khủng hoảng này đối với những thành phần khác nhau trong xã hội cũng nặng nhẹ khác nhau.
Xã hội và văn hóa
Nếu như hầu hết quốc gia đều lạc quan về đời sống vật chất của đại đa số người dân, thì đời sống tinh thần (kể cả những liên hệ gia đình, xã hội) lại là mối quan ngại sâu sắc ở mọi nơi. Văn hóa đại chúng sẽ phát triển, nhất là do ảnh hưởng của toàn cầu hóa, nhưng văn hóa hàn lâm sẽ mai một. Đó không phải là một viễn ảnh đáng lạc quan.
Sự chênh lệch giàu nghèo không những gây bất ổn xã hội mà còn có khuynh hướng khiến chính phủ tiêu ít tiền hơn cho giáo dục, y tế, chuyên chở công cộng (vì những người có thu nhập cao có thể tự trang trải những dịch vụ ấy, không cần đến nhà nước, và do đó không làm áp lực để nhà nước cung cấp). Tuổi thọ bình quân chắc chắn sẽ tăng (trừ vài trường hợp hãn hữu, như ở Nga) và chi phí cho y tế và bảo hiểm xã hội cũng tăng theo.
Mặt khác, hầu hết mọi xã hội đều có khuynh hướng “khoan dung” hơn: quyền phụ nữ, quyền những người tàn tật, những người đồng tính ngày càng được luật pháp công nhận.
cuối cùng là trách nhiệm
Trước viễn ảnh phác họa trên đây, trách nhiệm đối phó là ở nhà nước lẫn cá nhân mọi người dân.
• Trách nhiệm nhà nước
Trách nhiệm của nhà nước (như một cơ cấu thực thi nguyện vọng của toàn dân) có thể tóm tắt trong bốn điểm: ổn định và hài hòa, linh động và sáng tạo.
• Ổn định và hài hòa
Hiển nhiên, ổn định xã hội là cần thiết để phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của người dân. Nhưng nền móng của sự ổn định ấy phải được xây dựng từ sự hài hòa, đồng thuận của xã hội chứ không thể do áp đặt. Thu nhập càng chênh lệch thì xã hội càng căng thẳng, mầm mống bất ổn càng lớn mạnh.
Ổn định cũng có nghĩa là giảm biên độ biến động khi kinh tế trì trệ, tài chính khủng hoảng. Phải nhìn nhận rằng không thể nào triệt tiêu mọi sự cố bất trắc (mà nguồn gốc có thể do thiên tai, hoặc từ nước ngoài). Không nên để nền kinh tế nước ta phụ thuộc vào bất cứ một nước nào, một sự phụ thuộc như thế sẽ có tính truyền dẫn, đưa những biến động từ nước ấy sang nước ta. Trong đầu tư cũng như trong bang giao quốc tế, nguyên tắc căn bản bao giờ cũng là đa dạng hóa, đa phương hóa.
• Linh động và sáng tạo
Sáng tạo chỉ có thể xuất phát từ cá nhân con người, và một môi trường xã hội và kinh tế thông thoáng là cần thiết để cá nhân phát huy sáng tạo và đồng hành với thế giới. Đặc biệt là những ứng dụng của công nghệ cao đòi hỏi tự do kinh doanh và sáng tạo cao. Những phát minh này có lẽ không cần sự tài trợ của nhà nước (nếu thị trường vốn là hiệu quả), song khó mà phát triển trong một môi trường mà quyền sở hữu trí tuệ không hợp lý, thiếu minh bạch và không được bảo đảm.
Trong một thế giới không ngừng thay đổi, một thử thách lớn là làm thế nào để thích ứng với những thay đổi ấy, nhất là dưới sức ép của lợi nhuận kinh tế ngắn hạn, để bảo tồn những di sản văn hóa dân tộc. Một chính sách đúng đắn đòi hỏi những thảo luận sâu rộng, lọc lựa sáng suốt từ những nhà văn hóa, song cũng cần lắng nghe và thực thi những đề xuất chính đáng, dù đôi khi chúng có thể đi ngược lợi ích trước mắt của một thiểu số quyền lực. Cá nhân nhà lãnh đạo cần nhìn xa hơn nhiệm kỳ của mình, thậm chí thế hệ của mình.
Rõ ràng là mỗi quốc gia đều phải đối phó với những thử thách có tính sống còn như đã nói trên. Rủi thay, như nhiều học giả (Acemoglu, Robinson, và nhất là Fukuyama) đã phát giác, chất lượng thể chế ở hầu hết mọi nước, kể cả những nước phát triển, đều dưới tầm những thử thách thời đại. Lấy trường hợp nước Mỹ chẳng hạn. Chế độ tam quyền phân lập rạch ròi của nước ấy, dù có thể đã thích hợp vào một thời kỳ lịch sử nào đó, dường như hiện tê liệt trước những thử thách về khí hậu, về môi trường, về phân hóa xã hội. Đi tìm một thể chế mới có thể phải cần một cuộc cách mạng tự căn bản mà ít quốc gia nào sẵn sàng.
● Trách nhiệm cá nhân
Tất nhiên, không chỉ nhà nước là có trách nhiệm chuẩn bị cho tương lai, mọi người trong xã hội, tùy cương vị của mình, đều có bổn phận ấy. Một là, mỗi cá nhân phải đầu tư nhiều hơn vào giáo dục, không ngừng trau dồi kỹ năng, sẵn sàng thay đổi ngành nghề để đáp ứng với nền kinh tế ngày càng nặng hàm lượng tri thức, khi mà nhu cầu lao động tay nghề cao ngày càng tăng và thay đổi. Hai là, mỗi người phải giữ gìn sức khỏe, nói chung là có một cuộc sống lành mạnh. Dù những tiến bộ y khoa sẽ giúp gia tăng tuổi thọ trung bình, mỗi người vẫn có trách nhiệm bảo dưỡng sức khỏe để tận hưởng tuổi hưu, và không gây gánh nặng cho gia đình và xã hội vì những bệnh tật do lối sống (như hút thuốc, nhậu nhẹt...). Ba là, không nên chỉ nương nhờ vào lương hưu, vào bảo hiểm xã hội, mà phải dành dụm đủ tiền (hoặc khôn ngoan đầu tư!) để an hưởng tuổi già.
Đó là viễn ảnh năm 2025, theo tôi.
Trần Hữu Dũng/ Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn
(1) Xem Michael Hanlon, “The golden quarter," Aeon, 3-12-2014 - Tyler Cowen, The Great Stagnation, NY: Penguin, 2014
(2) Đây là kết luận chính của một trong những cuốn sách quan trọng nhất năm nay, đó là cuốn Vốn ở thế kỷ 21 của Thomas Piketty.

Năm mới bàn chuyện sống tử tế

Đúng ra những người lớn chúng ta phải chịu trách nhiệm chính về chuyện này chứ không phải giới trẻ. Có thế, sự lan tỏa, làm gương từ người lớn đi trước mới có ảnh hưởng tích cực, mới có tác dụng hữu hiệu đến những người trẻ.
Gần đây, một tờ báo tổ chức diễn đàn “Đâu rồi, chuyện tử tế?” dành cho giới trẻ. Đây là một phát kiến hay, giàu ý nghĩa. Nhưng nó cũng gợi nhiều suy nghĩ.
Chưa đủ kỹ năng sống
Có thể thấy, bàn về chuyện sống tử tế hiện nay, hầu hết mọi người đều chung quan điểm: Để làm một người tử tế trong xã hội Việt Nam bây giờ là điều cần phải hướng tới, nhất là với những người trẻ - những người mà đa phần đều đang phải “sống bám” vào cha mẹ, cả vật chất lẫn tinh thần.
Trong một xã hội mà "người lớn" vẫn còn thiếu gương mẫu, thì việc đòi hỏi người trẻ phải sống tử tế có khi nào là chuyện “không của riêng ai nhưng cũng không phải chuyện của mình”?
Bởi lẽ, để xã hội lâm vào tình trạng có quá nhiều chuyện vô cảm, đáng buồn như hiện nay, trước hết lỗi này do những người lớn gây nên. Nhưng oái oăm thay người trẻ lại là chính là những nạn nhân phải hứng chịu vì họ không có quyền lựa chọn hoặc chưa đủ kỹ năng sống để biết cách tránh né. Vậy mà trong khi rất nhiều “người lớn” còn chưa biết sống tử tế, hay có những chính sách về giáo dục từ những người có trách nhiệm dành cho thế hệ trẻ còn chưa hoàn chỉnh thì thử hỏi giới trẻ biết dựa vào đâu, tin vào ai để mà xây dựng nếp sống tốt đẹp cho riêng họ?
Sống tử tế cần được thức tỉnh ngay từ những người... lớn. Ảnh: Kiên Trung
Phải chăng đây là nguyên nhân để những bạn trẻ khi tham gia diễn đàn trên thời gian qua đã liên tưởng đến câu nói nổi tiếng của nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao trước 1945. Và không khỏi day dứt băn khoăn: Sống tử tế là thế nào? Có khó không khi mà xã hội có quá nhiều tệ nạn, có nhiều sự rối loạn các giá trị?
Nghe và làm như cái máy?
Những người có trách nhiệm điều hành xã hội và đất nước hiện nay nghĩ gì trước câu hỏi này của thế hệ người trẻ tuổi? Ai là người đủ biện lý để tranh luận và làm sáng tỏ câu hỏi trên. 
Kêu gọi, định hướng, chỉ dẫn người trẻ sống cho tử tế là điều rất nên làm. Tuy nhiên, có cảm giác nhiều người đang dồn hết mọi nguyên nhân về cho giới trẻ, từ những chuyện tử tế mang tầm vi mô như: “Không được khạc nhổ hay vứt rác bừa bãi để giữ gìn vệ sinh nơi công cộng...” cho đến những chuyện tử tế mang tầm vĩ mô như: “Trách nhiệm của người trẻ là đưa đất nước đi lên”... [3].
Người trẻ ở Việt Nam do truyền thống văn hóa, do GD còn khiếm khuyết, phần lớn vẫn còn rất thiếu hiểu biết, thiếu kỹ năng sống. Và nhất là thiếu vắng lý tướng, một khát vọng sống. Có rất nhiều vấn đề trong cuộc sống nhưng đa phần họ cũng rất ít được can dự vào những chính sách lớn của đất nước. Chủ yếu chỉ biết nghe và làm theo, ít có sự chủ động, năng động.
Tuy nhiên, khi xã hội và đất nước có những vấn đề gây nhức nhối thì không hiểu sao chỉ thấy những phong trào dành riêng cho lớp trẻ về lối sống được phát động rầm rộ, và cũng ít thấy những phong trào như vậy dành cho người lớn?
Chúng ta hãy nhìn thẳng vào chuyện tham nhũng mà nhiều nơi coi là một “quốc nạn” ở xã hội hiện nay. Thử hỏi đối tượng tham nhũng là ai? Chắc chắn không phải những người trẻ. Tham nhũng có phải là chuyện tử tế không? Ấy vậy mà chẳng thấy có ai nói, tỷ như: “Nói không với tham nhũng” dành cho những người lớn có trách nhiệm, thức tỉnh lương tâm và bổn phận, ý thức của người lớn trước yêu cầu bức bách của đời sống dân sinh còn nhiều khó khăn và thách thức?
Muốn xã hội lành mạnh, những người lớn chúng ta không thể đứng ngoài cuộc. Không thể tự loại mình ra khỏi danh sách đối tượng lẽ ra phải sống tử tế trước tiên. Bởi như đã nói, đúng ra những người lớn chúng ta phải chịu trách nhiệm chính về chuyện này chứ không phải giới trẻ. Có thế, sự lan tỏa, làm gương từ người lớn đi trước mới có ảnh hưởng tích cực, mới có tác dụng hữu hiệu đến những người trẻ.
Nguyễn Trọng Bình
Chú thích nguồn:
[1], [2]: “Ai cho tôi tử tế” - Báo Tuổi trẻ số ra ngày 12/12/2014
[3]: “Trách nhiệm của người trẻ: đưa đất nước đi lên” - Báo Tuổi trẻ số ra ngày 27/12/2014

5 tháng 1, 2015

4 chân dài tiền 'như nước' của làng mẫu Việt

Vũ Hoàng Điệp sở hữu 6 chiếc xe hơi, đồng hồ, túi xách vài chục ngàn đô; Ngọc Bích từng "khoác" 6 tỷ đi dự tiệc và vô số đồ hiệu limitted (hàng giới hạn); Trà Ngọc Hằng hầu như tuần nào cũng khoe vài món đồ hiệu mới... Bức tranh về sự xa xỉ của một bộ phận người mẫu của làng thời trang Việt phần nào giải mã "ước mơ chân dài" của nhiều bạn trẻ.
1. Vũ Hoàng Điệp
Bài phỏng vấn mới đây nhất của Vũ Hoàng Điệp với tiết lộ cô đang sở hữu đến 6 chiếc xe hơi gây bất ngờ cho người hâm mộ. Với giọng điệu tự hào, người đẹp cho biết: "Tôi mê xe hơi lắm, nhiều khi sáng ra ngắm 6 chiếc xe ôtô tôi có mà no, khỏi ăn sáng. Tôi có 1 chiếc Porsche, 2 chiếc Volkswagen, 1 chiếc Mecedes mui trần, 1 chiếc xe Honda, và một chiếc Kia Morning".
Bên cạnh đó, Vũ Hoàng Điệp từng xuất hiện trước công chúng với nhiều món đồ hàng hiệu có mức giá từ vài trăm triệu đến tiền tỷ. Mới nhất là chiếc đồng hồ hiệu Hublot có mức giá 1 tỷ đồng do được bạn tặng, trước đó, vô số lần người đẹp trưng ra những chiếc túi hiệu Hermes, Dior, Chanel... với giá bán bằng cả gia tài của nhiều người.
Vũ Hoàng Điệp sành điệu và xinh đẹp với món phụ kiện hiệu Chanel đắt giá
Chiếc đồng hồ Hublot trị giá bạc tỷ Hoàng Điệp khoe được bạn tặng
1 trong số 6 chiếc xe hơi Hoàng Điệp đang sở hữu
2. Ngọc Bích
Trước thông tin đã đính hôn với người chồng tương lai "rất vững về kinh tế" theo chia sẻ của Ngọc Bích; cô từng nhiều lần gây kinh ngạc khi công khai trên truyền thông những món trang sức, phụ kiện có mức giá "trên trời".
Không quá mê xe như đồng nghiệp Vũ Hoàng Điệp, Ngọc Bích "chơi trội" hơn về gu xài đồng hồ khi từng công bố chiếc đồng hồ nhỏ xinh hiệu Patek Philippe có giá bán là 81.000 Euro (gần 2,3 tỷ đồng), nhẫn kim cương trị giá 3,3 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, trang cá nhân của người đẹp thường xuyên khoe dày đặc những sản phẩm hàng hiệu được sản xuất giới hạn hoặc chỉ có một chiếc duy nhất trên toàn thế giới. Mức giá của mỗi món đồ đều tròm trèm cả tỷ đồng.

Ngọc Bích xuất hiện quen thuộc trên trang cá nhân với những chuyến du lịch xa xỉ và hàng hiệu ngập tràn
Bộ váy, giày và chiếc túi trị giá trăm triệu của người đẹp
Mẫu túi Dior được Ngọc Bích khẳng định là chỉ có duy nhất 1 chiếc trị giá cả tỷ đồng
3. Thu Hằng
Khi các chân dài Việt còn ngấp nghé trên con đường tìm kiếm danh vọng, Siêu mẫu Việt Nam 2002 Thu Hằng đã rất nổi tiếng với sở thích xài hàng hiệu cao cấp. 5, 7 năm trước, sự hé lộ về bộ túi Hermes đắt đỏ trong tủ đồ của cô đã trở thành "nguồn cảm hứng" cho nhiều người đẹp cùng thời phô trương độ giàu có.
Nhiều năm trôi qua, Thu Hằng vẫn đều đặn gây choáng ngợp trước người hâm mộ bởi những cây đồ hiệu xa xỉ. Không chỉ có niềm đam mê sản phẩm thời trang cao cấp như mọi người đẹp, Thu Hằng còn luôn được tán dương bởi lối dùng hàng hiệu tinh tế, đẳng cấp.

Siêu mẫu Thu Hằng với chiếc túi hiệu Hermes trị giá cả trăm triệu đồng
Cô là tín đồ của Docle & Gabbana và sở hữu nhiều mẫu váy, trâng sức, phụ kiện của nhãn này
Thu Hằng với bộ túi và vali hiệu Louis Vuitton đắt đỏ. Riêng chiếc túi mang tên Pochette Mask đã có giá lên tới hơn 70 triệu đồng
4. Trà Ngọc Hằng
Rất mạnh tay trong việc chi tiền cho hàng hiệu, Trà Ngọc Hằng là một trong số ít người đẹp "dám" vận dụng những sản phẩm xa xỉ để xây dựng hình ảnh thời trang đường phố.
Người viết nhấn mạnh điều này, bởi việc mặc đồ đắt tiền trên thảm đỏ giờ đây không còn xa lạ với nghệ sĩ Việt, nhưng nếu thường xuyên và liên tục diện váy áo mới tinh có mức giá từ vài chục đến cả trăm triệu cho đời sống thường ngày thì quả là siêu tốn kém. Chỉ nhìn "sơ sơ" những món đồ Trà Ngọc Hằng từng khoe trên phố, người sành thời trang đã kịp ước tính tủ đồ cá nhân của cô lên đến cả chục tỷ đồng.
Không dừng lại mức chi tiêu này, cô người mẫu gốc Cà Mau còn sở hữu điện thoại Goldvish có giá hơn 2 tỷ đồng, đồng hồ hơn 300 triệu đồng, hàng chục bộ váy dạ tiệc trị giá từ trăm triệu trở lên.
Trà Ngọc Hằng trong bộ váy hiệu Valentino giá hơn 100 triệu đồng, đồng hồ Rolex giá hơn 300 triệu đồng và chiếc đồng hồ dát vàng hơn 2 tỷ khiến nhiều người ước mơ

Trà Ngọc Hằng sở hữu vô số túi xách và quần áo từ các thương hiệu lớn như Dior, Chanel, Hermes,
Theo Dân việt

Nguyễn Cao Kỳ Duyên và cuộc tình li kỳ với 3 người đàn ông

Nguyễn Cao Kỳ Duyên phiên bản gốc không chỉ là một luật sư tài danh, 1 MC nổi tiếng mà còn là người đàn bà li kì với những cuộc tình li kì.
Nguyễn Cao Kỳ Duyên ngay khi ra đời đã thừa hưởng trọn vẹn những nét đẹp của mẹ cô, tuyệt sắc giai nhân Sài Gòn thập niên 60 Đặng Tuyết Mai. Cô lại thửa hưởng đầy đủ trí tuệ và sự hài hước của người cha cùng những nét tinh túy nhất của một người gốc Bắc. Do đó, ngay khi đặt chân vào làng giải trí hải ngoại, Kỳ Duyên đã tỏa sáng trong chớp mắt. Nhưng không phải là may mắn ngẫu nhiên.
Nguyễn Cao Kỳ Duyên học đàn piano từ lúc 5 tuổi. 13 tuổi, cô được học thanh nhạc chuyên nghiệp, khiêu vũ và hội họa. Bà Đặng Tuyết Mai chú trọng đặc biệt đến sự phát triển của cô công chúa. Bất kỳ lúc nào rảnh rỗi, bà đều đưa con gái đến các bảo tàng mỹ thuật nổi tiếng, các nhà hát giao hưởng... Nhờ thế mà Kỳ Duyên dù học ngành luật tại đại học Western State (tốt nghiệp với tấm bằng loại danh dự) nhưng vẫn sở hữu một tâm hồn giàu chất nghệ thuật.
Lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng của Kỳ Duyên trong vai trò MC là tại cuộc thi Hoa hậu áo dài ở Long Beach, California. Năm 1984 đĩa hát đầu tiên của cô đã được Tùng Giang Studio ghi âm. Năm 1985 cô xuất hiện lần đầu như một ca sĩ tại Seattle, Washington. Nguyễn Cao Kỳ Duyên thường biểu diễn tại Las Vegas, California (Mỹ) và Paris (Pháp).
Kỳ Duyên bên người đàn ông thứ 3
Ban đầu, Nguyễn Cao Kỳ Duyên đi làm MC và đi hát chỉ để kiếm tiền trang trải cho học phí đại học đắt đỏ. Ra trường cô vẫn hành nghề luật sư và chỉ thi thoảng nhận show cho vui. Tuy nhiên, những hồ sơ giấy tờ kiện tụng của cuộc sống phức tạp khiến mỗi lần trở về nhà của cô đều nặng trĩu mệt mỏi. Trong khi làm MC vừa vui, vừa thư giãn lại thu nhập cao. "Người ta mời tôi đến để nói mấy câu hài hước vui vẻ. Thu nhập từ một đêm làm MC bằng 3 tháng lương luật sư. Thế thì sao tôi không bỏ nghề luật sư đi làm MC" - đó là chia sẻ của cô.
Tài sắc vẹn toàn, nhưng cuộc sống riêng tư của Nguyễn Cao Kỳ Duyên thì không suôn sẻ. Nó đa đoan đúng như câu Kiều "Tài tình chi lắm cho trời đất ghen".
Nguyễn Cao Kỳ Duyên kết hôn lần đầu với bác sĩ nổi tiếng Nguyễn Quang Li. Cuộc hôn nhân được cho là vô cùng môn đăng hộ đối này cho ra đời hai cô con gái là Yenli và Maili. Chồng bác sĩ, vợ luật sư, cuộc sống sung túc, giàu có tưởng là không còn gì bằng. Thế nhưng nó đã kết thúc sau nhiều năm tháng bất đồng mệt mỏi.
Mặc dù Nguyễn Cao Kỳ Duyên chưa từng chia sẻ gì về cuộc hôn nhân đầu tiên, nhưng bà Đặng Tuyết Mai có nói trong cuốn hồi ký rằng, bác sĩ Nguyễn Quang Li quá vô tâm, không đồng điệu được với tâm hồn giàu cảm xúc và phóng khoáng của Kỳ Duyên. Thậm chí, ông còn nhiều lần thoái thác đưa vợ đi diễn xa. Những mâu thuẫn nhỏ nhặt đó cứ tích tụ cho đến 1 ngày tình cảm mòn nhạt hết, Kỳ Duyên quyết định đâm đơn li hôn. Cô trở về thời độc thân với hai cô con gái nhỏ còn quá bé bỏng.
Năm 2004, ở tuổi 39, Kỳ Duyên gặp được người đàn ông của đời mình - một nam luật sư. Thế nhưng, chỉ sau 4 năm, cả hai bất ngờ tuyên bố li hôn trong sự ngỡ ngàng của người hâm mộ. Lí do được đưa ra là vì cả hai xa nhau quá nhiều.
Sau hai cuộc kết hôn và li hôn, Kỳ Duyên dường như thực sự suy sụp. 4 năm hôn nhân, người đàn bà đẹp không tuổi đã già đi khá nhiều. Tuy thế, bản năng mạnh mẽ và kiêu hãnh của một công chúa đã không thể quật ngã Kỳ Duyên. Cô nhanh chóng rạng ngời trở lại với cuộc tình thứ ba - một người đàn ông đẹp trai và tài hoa không kém là David Duy Hân.
Cùng 2 con gái
So với hai người đàn ông trước, David Duy Hân nổi trội hơn hẳn về phong độ và ngoại hình. Nhiều người thắc mắc rằng tại sao ở tuổi 46 và giờ là 50, Kỳ Duyên vẫn giữ được bên mình người đàn ông như thế. Với sự hài hước quen thuộc, Kỳ Duyên trả lời: "Chỉ đàn ông đẹp mới có cơ hội yêu tôi".
Mặc tin đồn David Duy Hân từng là tình cũ của Hồ Ngọc Hà, Kỳ Duyên vẫn vui vẻ khẳng định cả hai không quan tâm đến quá khứ của nhau. David luôn có mặt bên cạnh Kỳ Duyên dù ở bất kỳ đâu, bất kỳ show diễn nào. Họ sánh đôi với nhau như hình với bóng. Xuân sắc lại trở về trên gương mặt của cựu công chúa, cựu luật sư, nữ MC danh giá, con gái của tuyệt sắc giai nhân Sài Thành.
Đến giờ, Kỳ Duyên đã có thể tự tin nói rằng cô không cần 1 cuộc hôn nhân. Chỉ cần 1 tình yêu bên mình là đủ.
Theo Khỏe & Đẹp

Chuyện dân buôn lậu đưa tiền tỷ mua chuộc cảnh sát biển

- Khi lực lượng cảnh sát biển tiếp cận được tàu chở hàng lậu, đối tượng vi phạm mang cả tiền tỷ ra mua chuộc chúng tôi hòng chạy tội - Thiếu tá Phạm Mạnh Ngân, Bộ tư lệnh Vùng 1 Cảnh sát biển kể.
Thế trận ngư dân trên biển
2014 là năm có nhiều sự kiện lớn để lực lượng Cảnh sát biển (CSB) chứng tỏ vai trò, nhiệm vụ quan trọng của mình trên mặt trận bảo vệ, giữ gìn, đảm bảo chủ quyền, anh ninh trên biển.
Đại tá, Phó Chính ủy Bộ tư lệnh Vùng 1 CSB Trần Văn Hậu tâm sự với VietNamNet: “Những ngày Biển Đông dậy sóng vừa qua đúng là thời điểm vô cùng căng thẳng, đầy áp lực với lực lượng CSB, Kiểm ngư, Biên phòng chúng tôi. Song, luôn đồng hành với chúng tôi còn có bà con ngư dân, vai trò của ngư dân có một ý nghĩa vô cùng to lớn trong xây dựng thế trận an ninh nhân dân trên biển".
Sự hiện diện của ngư dân trên biển không chỉ đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế biển mà còn khẳng định chủ quyền biển, đảo Tổ quốc.
Hiện cả nước có 126.000 phương tiện tàu thuyền đánh bắt hải sản, trong đó 10.000 phương tiện hoạt động thường xuyên, trực tiếp trên các vùng biển xa bờ, vùng đánh cá truyền thống. Ngành thủy sản hàng năm đã đóng góp cho ngân sách nhà nước từ 6-7 tỷ USD.
Giữa đại dương mênh mông, nơi tận cùng hải phận của đất nước, mỗi tàu, thuyền đánh bắt hải sản của ngư dân với lá cờ đỏ sao vàng tung bay trước sóng gió là những “cột mốc sống”, khẳng định chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Các tổ, đội đánh bắt hải sản của bà con ngư dân hiện hữu như những “bản, làng” trên biển, là cột mốc chủ quyền Việt Nam trên biển.
Trong quá trình đánh bắt hải sản, họ vừa là những người lao động cần cù, vừa là lực lượng cảnh giới, phát hiện và thông báo cho các cơ quan chức năng về tình hình trên biển và tham gia tìm kiếm cứu nạn, góp phần ngăn chặn xâm nhập trái phép của các tàu thuyền nước ngoài vào vùng biển Việt Nam.
Khi có tình huống phức tạp xảy ra, ngư dân hỗ trợ, phối hợp với các lực lượng CSB, Kiểm ngư, Bộ đội Biên phòng đấu tranh tại thực địa để bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia trên biển, giữ nghề “cha truyền con nối”, làm chủ ngư trường truyền thống.
Đại tá Trần Văn Hậu chia sẻ: Tháng 12/2012, từ nguồn tin báo của ngư dân, CSB Việt Nam đã tóm gọn 11 cướp biển người nước ngoài, giải cứu toàn bộ thuyền viên của tàu Rafiap (quốc tịch Malaysia).
Nhóm cướp biển này đã táo tợn cướp tàu chở dầu của Malaysia, lấy đi 1.200 tấn dầu FO, đồng thời sơn lại toàn bộ vỏ ngoài thân tàu, lắp logo mới để tránh bị lực lượng chấp pháp phát hiện. Đây là một trong rất nhiều vụ việc mà CSB Việt Nam kịp thời ngăn chặn, phá giải kịp thời.
Căng mình trong bão gió
Theo Phó phòng pháp lý Bộ tư lệnh Vùng 1 CSB, Thiếu tá Phạm Mạnh Ngân, địa bàn phụ trách của Vùng 1 rất rộng, bao gồm 10 tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng Trị, trong đó, những khu vực như vùng biển Quảng Ninh - Hải Phòng luôn là điểm nóng của các hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới với thủ đoạn ngày càng tinh vi.
Các đối tượng vận chuyển hàng lậu thường lựa chọn những thời điểm khó khăn, khắc nghiệt nhất như đêm tối, bão gió… hòng qua mặt các lực lượng chấp pháp. Vì thế, càng những thời điểm đó, lực lượng CSB càng phải căng mình làm nhiệm vụ”.
Với đặc thù riêng của địa bàn hoạt động trên biển, theo Thiếu tá Phạm Mạnh Ngân, việc bị mua chuộc, đe dọa an toàn tính mạng đối với cán bộ, chiến sỹ CBS là điều thường xảy ra.
“Có những đối tượng chở thuốc lá ngoại nhập lậu từ Trung Quốc vào Việt Nam, chúng đầu tư nhiều tỷ đồng để “độ” cả xuồng cao tốc vận chuyển hàng lậu. Khi có lực lượng cản trở, chúng sẵn sàng húc thẳng xuồng vào tàu CSB. Có những đối tượng sẵn sàng mang cả tiền tỷ mua chuộc hòng thoát tội”.
Ngày 8/3/2014, Phòng trinh sát Vùng CSB 1 tiếp cận tàu HP-3456 (Hoàng Thịnh 05) chở 53.222 lít dầu FO. Số hàng này không có hóa đơn, chứng từ. Ngày 19/3, Vùng 1 tiếp nhận hồ sơ tàu Trường Nguyên 36 từ Cục Cảnh sát Đường thủy - Bộ Công an (C68) chở hơn 2.000 tấn than cám, không có hóa đơn chứng từ.
Toàn bộ số hàng hóa này sau đó đã được tịch thu, bán đấu giá, nộp ngân sách nhà nước hàng tỷ đồng.
“Khi tiếp cận các đối tượng này, họ thường kéo dài, câu giờ… để bộ phận trên bờ có đủ thời gian để hoàn tất, dựng hồ sơ, chứng từ cho khớp. Chưa hết, họ còn sử dụng mối quan hệ để gây áp lực. Một trường hợp còn mang tiền bằng đúng giá trị số hàng hóa để “thỏa thuận”, “bôi trơn” cho CSB hòng chạy tội” - Thiếu tá Phạm Mạnh Ngân chia sẻ.
Kiên Trung

Tân Đại sứ VN muốn tranh thủ chất xám kiều bào ở Mỹ

Tân Đại sứ VN tại Mỹ Phạm Quang Vinh cho hay sẽ dành nhiều thời gian để gặp gỡ, lắng nghe kiều bào, tìm cách tháo gỡ những rào cản còn tồn tại. Hôm nay, ông sẽ tham dự hội thảo Phát triển Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức tại ĐH Harvard, do các trí thức Việt Nam tại Mỹ khởi xướng.
Đại sứ Phạm Quang Vinh trả lời báo chí đầu tiên trên cương vị Đại sứ tại Mỹ. Đến Washington DC cuối tháng 11, ông sẽ chính thức trình quốc thư lên Tổng thống Obama vào thời gian sớm nhất.
Tân Đại sứ cho hay ông sẽ dành nhiều thời gian tiếp xúc với kiều bào, nhất là các trí thức. Ông nói:
Đại sứ Phạm Quang Vinh gặp thượng nghị sĩ Ben Cardin - Chủ tịch Tiểu ban châu Á-Thái Bình Dương, UB Đối ngoại Thượng viện Mỹ
Cộng đồng người Việt Nam tại Mỹ có khoảng 2 triệu người, chiếm gần một nửa trong hơn 4 triệu người Việt Nam ở nước ngoài và là cộng đồng người Việt lớn nhất bên ngoài lãnh thổ Việt Nam. Do hoàn cảnh lịch sử, phần lớn cộng đồng người Việt đến định cư tại Mỹ sau năm 1975, sau này cũng có nhiều người đến Mỹ để học tập, làm việc, kinh doanh hay đoàn tụ gia đình.
Trải qua 40 năm định cư trên nước Mỹ, tuy quan điểm còn có chỗ khác biệt, nhưng đại bộ phận bà con luôn gắn bó, hướng về quê hương, đất nước, đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung của đất nước và là cầu nối cho quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
Kiều bào rất phấn khởi về các chủ trương, chính sách của ta đối với kiều bào, đặc biệt là nghị quyết 36 của Bộ Chính trị. Qua 10 năm triển khai, vừa qua chúng ta đã kiểm điểm, rút bài học kinh nghiệm và đề ra các chính sách là cơ sở chỉ đạo để triển khai tốt công tác cộng đồng.
Như vậy nhiệm vụ của Đại sứ quán là phải tiếp tục triển khai và đưa chính sách của ta đến với kiều bào, thúc đẩy hơn nữa sự gắn bó của kiều bào đối với đất nước; hiểu và nắm được những tâm tư, nguyện vọng của kiều bào, từ đó giúp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc mà kiều bào gặp phải.
Tôi muốn nhấn mạnh đến việc tranh thủ chất xám của kiều bào, làm thế nào để có những cơ chế, chính sách sử dụng hiệu quả chuyên gia, trí thức Việt Nam ở nước ngoài. Rất nhiều trí thức người Việt tâm huyết, trăn trở với các vấn đề của đất nước và muốn đóng góp tri thức cho đất nước.
Trong thời gian tới, tôi sẽ dành nhiều thời gian để gặp gỡ, tiếp xúc, đi các địa phương để lắng nghe ý kiến của bà con cũng như tìm cách tháo gỡ những rào cản còn tồn tại. Tôi cũng sẽ tham dự hội thảo Phát triển Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức tại Đại học Harvard, Boston, do các trí thức Việt Nam tại Mỹ khởi xướng và tổ chức ngày 5/1.
Dịp Tết xuân Ất Mùi, Đại sứ quán theo truyền thống sẽ tổ chức ăn Tết đón xuân với kiều bào, sẽ có bánh chưng, dưa hành, cùng các bài ca, điệu múa Việt Nam, thắm tình đấm ấm và gắn bó của những người con trong đại gia đình dân tộc Việt Nam.
Dư địa hợp tác còn nhiều
Nhiệm kỳ lần này của Đại sứ diễn ra vào một thời điểm rất có ý nghĩa, VN và Mỹ sẽ kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao trong năm 2015. Xin ông cho biết những mục tiêu, ưu tiên của trong năm 2015 này?
2015 là một năm có ý nghĩa rất quan trọng, mang tính dấu mốc trong chiều dài quan hệ Việt - Mỹ, năm vừa là kỷ niệm vừa là cơ hội để tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hai nước, vì lợi ích của nhân dân hai nước và vì hòa bình, an ninh, thịnh vượng ở khu vực và trên thế giới.
Việc đầu tiên và hàng đầu là làm sao để triển khai hiệu quả và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ đối tác toàn diện, trên cả 9 lĩnh vực ưu tiên đã được xác định. Trong mỗi lĩnh vực, vẫn còn nhiều "dư địa" mới hợp tác giữa hai nước. Trong đó, chắc chắn phải làm sao đẩy mạnh hơn nữa hợp tác kinh tế, khoa học- kỹ thuật và giáo dục, tạo ra những đột phá mới.
Năm 2015 là năm kỷ niệm trong quan hệ, như vậy hai nước cần tổ chức kỷ niệm sao cho thực chất, hiệu quả. Việc tiếp tục trao đổi đoàn ở các cấp, qua đó tăng cường thêm hiểu biết, thúc đẩy các cơ hội, thỏa thuận hợp tác, tạo ra những điểm nhấn có ý nghĩa.
Hai nước cũng cần lên kế hoạch tổ chức "Những ngày Việt Nam tại Mỹ", qua đó không chỉ để kỷ niệm, mà còn giúp chính giới cũng như nhân dân hai nước tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy hơn nữa quan hệ. Đại sứ quán và các cơ quan đại diện Việt Nam tại Mỹ sẽ tích cực phục vụ và tham gia các hoạt động này, đồng thời cũng sẽ tích cực phối hợp với các cơ quan sở tại để tổ chức các hoạt động trao đổi, quảng bá và kỷ niệm trải rộng trong năm, cả ở thủ đô và các địa phương của Mỹ.
Linh Thư

3 tháng 1, 2015

Cải cách để thúc đẩy sáng tạo

Tác giả: Lê Đăng Doanh
.Những năm đầu của thế kỷ thứ 21 đã chứng kiến những sáng tạo nổi bật làm thay đổi sâu sắc công nghệ, đời sống và tiêu dùng của con người cũng như vị trí của các doanh nghiệp và quốc gia.
Phi thuyền “Tò mò” (Curiosity) lên Sao Hỏa và tháng 11-2014 phi thuyền “Philea” hạ cánh thành công lên một sao chổi là những ví dụ về những thành tựu khoa học của loài người.
Vị thế của các tập đoàn cũng thay đổi theo khả năng đưa sáng tạo vào sản xuất và đời sống: Samsung của Hàn Quốc đã vươn lên trở thành tập đoàn hàng đầu trên thế giới về mạng vi mạch và điện thoại thông minh, thay thế Nokia và Sony vang bóng một thời.
Quá trình “sao đổi ngôi” này đang tiếp diễn trong cuộc chạy đua gay gắt mà phần thắng thuộc về người sáng tạo hơn, đổi mới nhanh hơn. Tuổi thọ của sản phẩm ngày càng bị rút ngắn, bình quân mỗi tháng lại có một mô hình điện thoại di động mới ra đời, kết hợp ba chức năng điện thoại, máy ảnh và máy tính trong một thiết bị, thay thế máy tính xách tay.
Google có tham vọng sẽ cung cấp hàng hóa đặt mua trên mạng tận nhà bằng máy bay không người lái (drone), và Amazon.com cũng có dự án sử dụng drone như thế để cung ứng hàng hóa tận tay người tiêu dùng. Không nghi ngờ gì nữa, những công nghệ đã và sẽ làm thay đổi sâu sắc phương thức bán lẻ cũng như thói quen mua sắm của người dân; tác động rất lớn đến yêu cầu khấu hao, thu hồi vốn và đầu tư vào khoa học – công nghệ của các doanh nghiệp.
Chức năng quan trọng nhất của nhà nước trong thế kỷ thứ 21 là tạo ra môi trường thuận lợi nhất cho sự sáng tạo, gắn kết khoa học với sản xuất kinh doanh trong một môi trường cạnh tranh bình đẳng, công khai minh bạch, không thiên vị vì tư lợi.
Nhiều sáng kiến quan trọng, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống và kinh doanh như Facebook không được phát minh bởi các tập đoàn mà từ những cá nhân riêng lẻ. Sáng tạo đã trở thành phương thức quan trọng nhất để vươn lên vị trí hàng đầu trong kinh doanh.
Richard Florida đã thử vẽ bản đồ thế giới theo khối lượng GDP được sản xuất ra ở từng vùng và cho ta một bản đồ thế giới “đầy gai”, rất khác biệt với những bản đồ truyền thống.
Ta thấy trên bản đồ này, của cải chủ yếu được sản xuất ra ở những trung tâm sáng tạo với những lao động có chất lượng cao, nhiều vùng mênh mông trên thế giới có tài nguyên và lao động giá rẻ chỉ tạo ra rất ít giá trị mới.
Chức năng quan trọng nhất của nhà nước trong thế kỷ thứ 21 là tạo ra môi trường thuận lợi nhất cho sự sáng tạo, gắn kết khoa học với sản xuất kinh doanh trong một môi trường cạnh tranh bình đẳng, công khai minh bạch, không thiên vị vì tư lợi.
Nhà nước phải khuyến khích sáng tạo, phải có chính sách coi trọng và thu hút nhân tài(meritocracy) từ khắp nơi trên thế giới, cởi mở với tất cả các phát minh, các đổi mới tạo ra những bước nhảy vọt về khoa học – công nghệ, năng suất lao động, có các đòn bẩy tài chính đưa nhanh sáng tạo vào đời sống và có đội ngũ lao động có năng lực đưa sáng tạo vào cuộc sống. Nước Mỹ vẫn thu hút được rất nhiều nhân tài, 30% doanh nghiệp hoạt động tại Thung lũng Silicon do người Mỹ có nguồn gốc Ấn Độ sáng lập và điều hành.
Israel đã tiến nhanh và trở nên giàu có nhờ khuyến khích tinh thần khởi nghiệp của tầng lớp trẻ, tạo ra tâm lý xã hội coi thất bại là cơ hội để học tập và vươn lên, không chê bai ai vì vấp ngã trong kinh doanh. Họ đã biến triết lý của Alois Schumpeter từ những năm 1950 coi “phá sản là sự tàn phá sáng tạo” thành triết lý sống, hành động của hàng triệu con tim.
Châu Âu đã mất đi khá nhiều ánh hào quang của quá khứ vì cuộc khủng hoảng tài chính kéo dài. Bộ máy nhà nước cần mẫn của Nhật Bản đã tỏ ra kém năng động hơn nhiều đối thủ khác trong thúc đẩy tiến bộ khoa học – công nghệ. Bốn con hổ châu Á vẻ vang một thời nay cũng đang phải đối mặt với những thách thức to lớn gắn liền với đổi mới và sáng tạo, chủ nghĩa tư bản thân hữu.
Đài Loan đã có thập niên phát triển và tăng trưởng nhanh trong những năm hoàng kim 1990 nhờ công nghiệp hóa dầu và vi mạch bán dẫn nhưng đã trở nên trì trệ từ năm 2000 do không có sáng tạo đột phá về công nghệ mới, các sản phẩm chậm thay đổi, năng suất lao động đình trệ và đời sống người dân ít được cải thiện.
Hàn Quốc là con hổ thành công nhất cũng đang đối mặt với cạnh tranh từ các hãng điện tử Trung Quốc rất thành thạo trong sao chép công nghệ, đưa ra các sản phẩm với giá rẻ bất ngờ.
Samsung rất thành công trong công nghệ điện tử đã không chấp nhận mức lương quá cao so với năng suất lao động ở Hàn Quốc, chuyển sang đầu tư vào Việt Nam để tận dụng lao động giá rẻ, làm giảm mạnh khả năng tạo việc làm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa của đất nước này.
Hồng Kông đối mặt với tình trạng liên kết giữa chính quyền với các tập đoàn bất động sản lớn có ô dù ở Trung Quốc nâng giá nhà ở, người lao động nghèo phải làm việc rất cực nhọc nhưng không mua nổi nhà ở, tạo ra bất bình trong xã hội mà cuộc biểu tình của sinh viên là biểu hiện nổi bật.
Ngay cả Singapore, một đất nước mẫu mực về đổi mới, cũng đang phải đối mặt với những thách thức khi chính quyền có quan hệ thân hữu với một số doanh nghiệp nhận được nhiều ưu đãi.
Các nhà khoa học đều cho rằng Trung Quốc sẽ không thể vươn lên vị trí hàng đầu về khoa học – công nghệ nếu như chỉ tiếp tục sao chép rất thành công công nghệ của các nước khác, nếu thể chế của Trung Quốc không tạo ra không gian sáng tạo đa dạng, rộng mở.
Thực tế cho thấy vinh quang của quá khứ không hề là bảo đảm cho hiện tại và tương lai trong một thế giới năng động và sáng tạo như hiện nay.
Để chuyển sang một xã hội sáng tạo đòi hỏi sự thay đổi của toàn thể hệ thống, song trước hết và quan trọng nhất là thay đổi từ thể chế. Thể chế phải khuyến khích sự sáng tạo của tất cả các thành viên trong xã hội, cởi mở với những cái mới, tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng, mở ra khả năng phát triển của tất cả các thành viên trong xã hội, không phân biệt quá khứ, thành phần, tuổi tác. Thể chế cần trọng dụng nhân tài, kể cả thu hút nhân tài từ các nước khác, tạo ra một xã hội bao dung với những cái mới.
Nói người để nghĩ đến ta, thể chế lạc hậu của Việt Nam đang gây cản trở nghiêm trọng cho quá trình phát triển năng động của đất nước, dẫn đến tụt hậu ngày càng xa hơn so với thế giới và khu vực. Không thể nào tự nhận là ưu việt với tình trạng tham nhũng kéo dài, nghiêm trọng và công cuộc phòng chống tham nhũng chưa đem lại những tiến bộ rõ rệt trong thực tế.
Lợi ích nhóm, tư duy nhiệm kỳ đã được điểm danh nhưng chưa có biện pháp nào để ngăn chặn hay sửa đổi, không ít doanh nghiệp làm giàu nhờ vào mối “quan hệ” khai thác tài nguyên, đất dai, khoáng sản, không cần quan tâm đến khoa học công nghệ.
Không ít doanh nghiệp giàu lên mà không cần đầu tư cho khoa học-công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực. Sức hấp dẫn của nước ta chủ yếu vẫn dựa vào lao động giá rẻ, một nhân tố không bền vững và đã được chứng minh là sẽ lỗi thời.
Nước ta đang đứng trước những cơ hội và thách thức to lớn từ hội nhập quốc tế. Năng lực cạnh tranh quốc gia của nước ta đang kém nhất về thể chế và sáng tạo khoa học – công nghệ. Rất cần quyết tâm chính trị để nhìn thẳng vào sự thật, làm rõ sự thật, nói đúng sự thật, tạo ra bước ngoặt cần thiết và cấp bách cho đất nước và dân tộc.

Con đường đưa Việt Nam đến văn minh

Tác giả: Cao Huy Thuần
.KD: Đường tới văn minh với nước Việt vô cùng khó khăn, vì nó phụ thuộc rất nhiều điều kiện. Ở các quốc gia đã phát triển 200- 600 năm tư bản, hình thái kinh tế, xã hội dân chủ và pháp luật thượng tôn thực sự gắn kết, mới tạo nên được đạo đức sống tự giác, tôn trọng luật pháp, tạo nên văn minh của cả quốc gia. Với nước Việt, mới 30 năm kinh tế thị trường định hướng XHCN, thiết chế cũng chẳng rõ ràng kiểu gì, con người Việt với tư duy tiểu nông, tư hữu nặng, đi tới văn minh kiểu gì đây. Chẳng lẽ bằng các phong trào xây dựng gia đình văn hóa mới của ngành VH, tầm phào và vô cùng dối trá?
Mà nếu không thức tỉnh, thì đành chịu phận mãi mãi là người… đi sau
—————
Con đường phát triển đi đến văn minh của dân tộc không cách nào khác. Chỉ có bước tới chứ đừng bước lui.
Lẫn lộn giữa “văn minh” và “văn hóa”
“Thế nào là một dân tộc văn minh?”, muốn trả lời câu hỏi ấy phải trả lời câu hỏi: “Thế nào là văn minh? Văn minh là gì?”. Riêng định nghĩa này thôi, bao nhiêu là phức tạp. Có ai đồng ý với ai đâu? Mỗi tác giả lớn có một giải đáp riêng, lắm khi trái ngược từ căn bản.
Điểm căn bản đầu tiên là sự dùng lẫn lộn giữa “văn minh” và “văn hóa” – “civilisation” và “culture” – mà “văn hóa” lại cũng gây bất đồng trong định nghĩa.
Lịch sử của hai từ “văn minh” và “văn hóa” rất dài, rất xưa ở Âu châu. Lúc đầu, “văn minh” bao hàm hai lĩnh vực: vật chất và tinh thần. Rồi từ “văn hóa” xuất hiện, và nhiều tác giả có khuynh hướng phân biệt, trao phần tinh thần cho văn hóa, phần vật chất cho văn minh.
Văn minh là gì? Có người nói: “đó là đường sá, hải cảng, bờ sông”. Nhưng người khác bác bỏ: “văn minh là phải có một tối thiểu khoa học, nghệ thuật, trật tự, đạo đức…” Nghĩa là tất cả những gì mà con người thu thập được như vốn liếng đã tạo ra. Vậy điểm đầu tiên phải ghi là biên giới giữa tinh thần và vật chất không rõ ràng: văn minh là tinh thần hay vật chất, hay lẫn lộn cả hai?
Điểm thứ hai là việc sử dụng từ “văn minh” cho cá nhân hay tập thể. Ta có thể nói: “một người văn minh”? Hay chỉ nên dùng từ ấy cho một xã hội, một nước, một vùng?
Thông thường, ta vẫn nói: “Đừng nhổ nước miếng bừa bãi, hãy cư xử như một người văn minh”. Ấy là nói về cá nhân. Và ta lại nói: “Văn minh Trung Hoa khác với văn minh Nhật Bản”, “văn minh Tây phương không giống văn minh Đông phương”.
Ấy là nói về tập thể. Bây giờ, từ “văn minh” hay dùng cho tập thể. Chẳng hạn quyển sách danh tiếng một thời và hứng chịu chỉ trích cũng lắm của Samuel Huntington mang nhan đề là “Va chạm giữa các nền văn minh”. Câu hỏi đặt ra – một “dân tộc văn minh” – nằm trong nghĩa tập thể này.
Thế nhưng nó lại gợi ra một vấn đề lý thuyết sôi nổi, và đây là điểm phải ghi thứ ba: Nói rằng một “dân tộc văn minh”, thế chẳng phải hàm ý rằng có những dân tộc không văn minh sao? Vậy thì thế nào là một dân tộc không văn minh? Lấy tiêu chuẩn gì chính xác để phân biệt? Nói như thế cũng hàm ý rằng có nấc thang giá trị để phê phán: dân tộc này văn minh cao hơn dân tộc kia. Thế nào là cao, thế nào là thấp, dựa trên tiêu chuẩn gì?
Tôi đọc ba tác giả được xem là bậc thầy, không phải chỉ ở Pháp mà cả trên quốc tế. Trước hết là nhà sử học Jacques Le Goff. Về thắc mắc thứ nhất, tinh thần hay vật chất, ông trả lời: “Cái đẹp, công lý, trật tự…”. Nghĩa là những yếu tố tinh thần. Xin trích nguyên văn: “Văn minh dựa trên sự tìm tòi và thể hiện của một giá trị cao hơn, trái với văn hóa được xem như là toàn thể những tập tục và những thái độ. Văn hóa nói chuyện dưới đất, văn minh siêu việt trên cao. Cái đẹp, công lý, trật tự….Các nền văn minh được xây dựng trên những yếu tố đó. Ví dụ việc sử dụng đất: văn hóa sản xuất ra lợi ích, gạo, trong khi văn minh sản sinh ra cái đẹp bằng cách tạo vườn”.
Ông nói: vườn Nhật khác với vườn Tàu, và cái khác ấy chịu ảnh hưởng của tôn giáo và tâm linh. Vườn Anh cũng khác với vườn Pháp. Một bên tôn trọng vẽ thiên nhiên, dễ gợi lên tình cảm lãng mạn, mơ mộng; một bên bài trí có hệ thống, ngay hàng thẳng lối, biểu lộ tinh thần duy lý của con cháu Descartes. “Văn hóa đặt ưu tiên cho ý nghĩ về thực dụng, về an ninh, về giàu có, khác với văn minh đặt giá trị trên tâm linh và thẩm mỹ” (Le Monde 23-1-2014).
Đặt văn minh trên tiêu chuẩn tinh thần như vậy, không thể nói văn minh nào cao hơn văn minh nào. Ai dám nói vườn Anh đẹp hơn vườn Pháp, vườn Tàu cao cấp hơn vườn Nhật? Thế nhưng phần đông định nghĩa ngày nay không đặt văn minh ở trên cao, văn hóa ở dưới thấp như vậy. Văn minh, theo phần đông, liên quan đến những yếu tố vật chất hơn là tinh thần, tuy rằng không phải gạt bỏ hoàn toàn yếu tố tinh thần. Chỉ định nghĩa như vậy mới bảo vệ được quan điểm cho rằng có văn minh cao, văn minh thấp.
Nhưng đó là nói về Âu châu từ thế kỷ 17, 18. Nếu đặt vấn đề tiến bộ trên bình diện lịch sử cả nhân loại thì tiến bộ là gì? Tôi tìm đến ông thầy thứ hai, Claude Lévi-Strauss. Nhà nhân chủng học này phân biệt hai loại xã hội: “xã hội lạnh” và “xã hội nóng”. “Xã hội lạnh” hoạt động như đồng hồ, “xã hội nóng” hoạt động như động cơ hơi nước.
Các “xã hội lạnh” (xã hội tiền sử chẳng hạn) có văn hóa nhưng không có lịch sử vì chỉ lặp đi lặp lại y hệt, từ thế hệ này qua thế hệ khác, tránh mọi thay đổi về kỹ thuật, cách sống, thân tộc hay cách tổ chức quyền lực. Các “xã hội lạnh” có khuynh hướng sẽ biến mất, bị nuốt, bị phá hủy bởi các “xã hội nóng”. Ngày nay, ai cũng biết “xã hội nóng” là các xã hội nào. Ai cũng biết xã hội nào năng động, sáng tạo trong mọi lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, kinh tế, mỹ thuật, giáo dục, tổ chức xã hội… Và ai chắc cũng lo, không biết xã hội ta có đang nguội dần không? Hôm nay cái đồng hồ đều đặn gõ 12 tiếng, ngày mai cũng đều đặn leng keng 12 tiếng y hệt, và ngày kỉa, ngày kia, ngày kìa cũng vẫn 12 tiếng ấy, biết rồi khổ lắm nói mãi.
Làm tổng hợp trên các điều vừa nói – vật chất và tinh thần, cá nhân và tập thể, tiến bộ và trì trệ – tôi đi đến kết luận của một ông thầy thứ ba, nhà xã hội học Edgar Morin: “Văn hóa là toàn thể những niềm tin, những giá trị đặc thù của một tập thể riêng biệt. Văn minh là những gì có thể thuyên chuyển từ tập thể này qua tập thể khác: kỹ thuật, kiến thức, khoa học…Chẳng hạn văn minh Tây phương mà ngày nay đã lan ra toàn cầu hóa, là một văn minh được định nghĩa là toàn thể những phát triển về khoa học, về kỹ thuật, về kinh tế”.
Nhưng ông nói thêm một điều quan trọng: “Và chính văn minh Tây phương ấy ngày nay đang mang đến nhiều hậu quả tiêu cực hơn là tích cực. Đây là điều cần phải cải tổ, nghĩa là cần phải có một chính sách văn minh”.
Đoạn sau trùng ý với Lévi-Strauss. Nhà nhân chủng học này mượn từ “entropie” trong nhiệt động học để nói rằng văn minh có khuynh hướng tiến đến tình trạng xáo trộn của hệ thống: gia tốc dân số, tranh chấp xã hội, cạnh tranh kinh tế, đụng độ vũ trang, chạy đua khí giới, chiến tranh, vắt kiệt tài nguyên, phá hủy thiên nhiên, tiêu thụ phung phí… Làm sao chữa lại những hậu quả “tiêu cực” ấy? Lévi-Struss cậy đến văn hóa, và văn hóa theo ông là tâm linh, đạo đức, triết lý, nghệ thuật và chính trị.
Chính trị theo nghĩa nguyên thủy của Hy Lạp ngày xưa: là cách tổ chức nhà nước thế nào để đạt được phúc lợi chung. Ta thấy đó, ta trở lại với những gì ta nói từ đầu: sự lẫn lộn giữa văn hóa và văn minh.
Văn minh và dân chủ
Vậy thì tôi cũng đành lẫn lộn thôi. Suy nghĩ như một người Việt Nam trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, tôi trả lời rằng một dân tộc văn minh là một dân tộc có văn hóa cao, nghĩa là năng động, nghĩa là không trì trệ, trên mọi phương diện, vật chất cũng như tinh thần, đầu óc cá nhân cũng như tổ chức xã hội, quyền lực, tiến bộ cùng với xu hướng của thế giới, nhưng không quên rằng mỗi người đều là con cháu thừa tự.
Tôi xin cắt nghĩa mấy chữ sau cùng. Mỗi sáng tạo, hủy diệt, hay mỗi biến chuyển của một nền văn minh đòi hỏi phải có thời gian.
Vì vậy, trong lịch sử các văn minh, cũng như trong nếp suy nghĩ về văn minh, ý nghĩa thừa tự là căn bản. Một nền văn minh được xây dựng lần hồi, làn sóng này tiếp theo làn sóng khác, về giá trị, về tập tục, về niềm tin. Phải có thời gian để biến chuyển và để củng cố. Để thâu nhận từ bên ngoài và để bảo tồn tận bên trong. Hiện nay, cách mạng tin học và tình trạng toàn cầu hóa có khuynh hướng đồng hóa hết thảy mọi nền văn minh. Nếu chạy theo “văn minh kỹ nghệ”, tiến bộ vật chất một cách mù quáng, không chừng ta thắp một cây hương cho tổ tiên nào không phải là của ta.
Riêng về mối tương quan giữa tập thể và cá nhân, phải nhấn mạnh rằng một tập thể không thể văn minh nếu con người trong đó không văn minh. Giáo dục, chính là để đào tạo nên những con người văn minh. Và thế nào là con người văn minh? Là biết yêu chân, thiện, mỹ. Yêu sự thật, yêu cái tốt, cái đẹp. Chỉ nói sự thật mà thôi, thế nào là yêu sự thật? Là ghét giả dối. Giáo dục là không dạy con trẻ đưa nói láo lên thành hệ thống cai trị.
Nhưng muốn có một nền giáo dục như vậy, tất nhiên phải đặt chính trị lên hàng đầu. Bởi vì chính trị chỉ huy giáo dục. Xưa nay nhà trường chỉ có hai loại: nhà trường dạy phán đoán và nhà trường không dạy phán đoán. Loại nhà trường sau là để minh họa.
Cho nên, cuối cùng, con đường phát triển đi đến văn minh của dân tộc không cách nào khác dân chủ. Bắt đầu bằng thực tâm muốn thực hiện dân chủ. Rồi có thể không vội. Dân chủ hóa lần hồi. Nhưng làm đừng khác nói. Và người dân cứ lấy sáng kiến mà làm. Bước tới chứ đừng bước lui.
Và thấy rằng xu hướng dân chủ là không tránh được, không trước thì sau thôi, bánh xe lịch sử sẽ nghiền nát mọi chướng ngại.

Trang