6 tháng 6, 2013

Bản góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992 của ông Đặng Văn Việt


Nhận được bản góp ý do tác giả trực tiếp gửi tới với mong muốn công bố rộng rãi lên trang BVN cho nhiều người cùng biết, chúng tôi hết sức cảm kích trước sự chân thành và ngay thẳng của người dám nói hết những điều từ lâu mình vẫn ấp ủ.
Xin trân trọng đăng lên để bạn đọc gần xa hiểu thấu tâm sự nung nấu của một Lão thành Cách mạng, một vị chỉ huy quân đội lừng danh thời kháng chiến chống Pháp, ngay từ 27 tuổi đã lập những chiến công làm chấn động nước Pháp, khiến chính các đối thủ người Pháp phải kinh phục phong cho ông là “Con hùm xám đường số 4” 


Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
************
Hà Nội, ngày 8 tháng 5 năm 2013

BẢN GÓP Ý SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP
của Đặng Văn Việt – Người Lính Già U100 – Lão Thành Cách Mạng

Theo yêu cầu của Bí thư chi bộ 3, phường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Tôi là: Đặng Văn Việt, sinh năm 1920 (U100), 65 năm tuổi Đảng (1948) – Lão thành Cách mạng (1943), qua nhiều cấp ủy - qua chỉ huy nhiều mặt trận (MT/DS 9 – 7 – 4 – 5 – 6 ), đánh hàng trăm trận (thắng 116/120), năm lần bị thương (thương binh /4) – viết 15 đầu sách (3 giải nhất Văn học Nghệ thuật).
Vì tuổi cao, sức yếu, tôi chỉ xin góp một số ý kiến xung quanh một số vấn đề bức xúc mà nhiều người quan tâm.
1) Vấn đề có nên tiếp tục vận dụng quan điểm tư tưởng Mác vào Việt Nam – hay nên chấm dứt.
Chủ nghĩa Mác ra đời vào cuối thế kỷ 19 đã có tác dụng kích thích phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống sự bóc lột tàn bạo của giai cấp tư sản. Đã tạo những tiền đề cho Cách mạng tháng 10 Nga thành công – tiếp theo sự ra đời của nhà nước Xô viết Nga của Hồng quân Liên Xô, trong Đại chiến thế giới lần thứ Hai, Hồng quân Xô Viết cùng đồng minh đã đánh bại phe phát xít Đức – Ý – Nhật. Tiếp theo sự ra đời của phe XHCN – rồi là Cách mạng Trung Quốc (1949) thành công.
Những sự kiện trên tạo điều kiện và thời cơ cho Cách mạng Tháng 8 (1945) Việt Nam thành công và tiếp theo Việt Nam thắng Pháp – Mỹ trong cuộc chiến tranh 30 năm.
Nói đến Chủ nghĩa Mác là nói đến những quan điểm, tư tưởng của nó. Đó là quan điểm đấu tranh giai cấp, quan điểm thành phần chủ nghĩa (bè cánh, chia sẻ, đặc quyền đặc lợi. Dùng người theo lý lịch, theo lòng tin – hơn là đức tài) – là chuyên chính vô sản (liên minh công nông binh…), là chống tư hữu, chống người bóc lột người (tất cả là quốc doanh, tất cả là hợp tác hóa), là thiểu số phục tùng đa số, là giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo Cách mạng, là xây dựng tiến lên XHCN – lên Cộng sản Chủ nghĩa (CSCN).
Qua gần một thế kỷ, chủ nghĩa Mác đã bộc lộ nhiều nhược điểm, nhiều yếu kém, thiếu thực tế – không thúc đẩy xã hội tiến lên, còn kéo lùi sự tiến hóa của nhân loại.
Do vây mà: Liên Xô, thành trì của Cách mạng bị sụp đổ, và kéo theo cả phe XHCN. Nhiều nước phải tuyên bố từ bỏ Chủ nghĩa Mác (Pháp, Anh, Ý, Mỹ, Nhật…). Nước Đức, quê hương của Mác cũng cáo chung không còn sùng bái Mác nữa – các tượng đài của Mác ở khắp nơi bị hạ bệ. Thực tế cho thấy trên 200 nước trên thế giới không có nước nào là do giai cấp công nhân lãnh đạo.
Ở nước ta, cứ mỗi lần dương cao ngọn cờ đấu tranh giai cấp đều đã bị thất bại.
- Đấu tranh lần 1: Xô viết Nghệ Tĩnh (1930)
- Đấu tranh lần 2: Cải cách ruộng đất (1953 – 1955)
- Đấu tranh lần 3: Cải tạo công thương (1975)
- Đấu tranh lần 4: Đối xử không đúng – Hàng triệu người Việt Nam bỏ nước ra đi –hàng triệu người chết vì tai nạn biển. Sau ngày giải phòng Miền Nam, Đảng và Nhà nước Việt Nam, vận dụng theo quan điểm Mác, xây dựng Việt Nam tiến lên CNXH (1975 – 1995). Sau 20 năm, cả nước về kinh tế, xã hội, văn hóa sa sút nghiêm trọng. Đảng và Nhà nước phải áp dụng chính sách đổi mới mới tạm phục hồi lại đất nước, cả bộ mặt xã hội được thay đổi.
Nhiều quan điểm, tư tưởng của Mác bị hủy bỏ và được thay bằng quan điểm tư tưởng mới.
- Chống tư hữu, nay cho tư hữu
- Chống làm giàu, nay cho làm giàu
- Chống bóc lột, nay cho bóc lột, mời cả Tư bản nước ngoài vào để cùng bóc lột
- Mở rộng giao lưu với tất cả các nước tư bản
- Cấm làm ngoại thương, nay cho làm ngoại thương.
- Cho mở phòng khám bệnh, bán thuốc, mở trường tư thục
- Hạn chế bớt quốc doanh – xóa các Hợp tác xã
Nhờ đổi mới, đất nước có cơ hội phát triển nhanh – có triển vọng đuổi kịp một số nước. Nhưng một điều đáng tiếc đã gây ra một sức cản cho bước đi của cả dân tộc, đó là:
Về kinh tế, những quan điểm tư tưởng lỗi thời của Mác bị loại bỏ, nhưng về chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vẫn tuyên bố Đảng vẫn kiên trì đường lối Mác – Lê Nin. Tức là vẫn theo những quan điểm về đấu tranh giai cấp – theo chủ nghĩa lý lịch. Hình thức thì dân chủ, thực tế, mọi tự do của con người đều bị hạn chế. Tự do ngôn luận, báo chí, bầu cử, biểu tình – Bộ máy đàn áp được tăng cường (quân đội – công an). Tổ chức Nhà nước có nhiều Bộ, nhiều ngành nhưng trên hết lại là Bộ Chính trị, là Tổ chức có quyền quyết định mọi vấn đề, trên cả Chính phủ, trên cả Quốc hội, cả Tòa án Tối cao. Bộ Chính trị làm việc theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số. Một nhóm người trong Bộ Chính trị chỉ cần sắp xếp để khi nào bỏ phiếu mình cũng nắm được đa số, là nắm được mọi quyền hành.
Vì vậy Bác Hồ đã bị vô hiệu hóa. Bác không muốn làm Cải cách ruộng đất theo lối Trung Quốc, Bác không muốn xử bắn bà Nguyễn Thị Năm (một phụ nữ có công với Cách mạng) nhưng đa số trong Bộ Chính trị không đồng ý, Bác Hồ phải xếp ý kiến của mình sang một bên.
Nhiều vụ tham nhũng lớn theo luật pháp lẽ ra phải xử nặng, Bộ Chính trị bảo: đây là người của Đảng không được đụng đến. Một số đã lợi dụng sự tin cậy, nắm toàn bộ tài sản của đất nước, đã biến hóa tài sản quốc gia thành của riêng. Tệ tham nhũng phát triển tràn lan, không tài nào ngăn chặn được. Ngân quỹ quốc gia thất thoát: 1 - 2 triệu tỷ đồng để vào túi của kẻ có chức quyền.
Thượng bất chính, hạ tắc loạn; kinh tế, văn hóa, xã hội, đạo đức con người sa sút nghiêm trọng tạo nên nguy cơ xảy ra sự sụp đổ chế độ.
Ai là người yêu nước, yêu dân, ai là người quan tâm đến vận mệnh của nước nhà, ai là người quan tâm đến sự tồn vong của chế độ, đều phải lên tiếng đề nghị với nhà nước phải từ bỏ Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, một đường lối chính trị đặc quyền đặc lợi cho một “thiểu số” đã đưa đất nước Việt Nam đi từ thất bại này đến thất bại khác.
Hãy trở lại với Bác Hồ, với chủ trương thực hiện đường lối hòa hợp dân tộc, đoàn kết các giai cấp, cả trong và ngoài nước, theo đường lối ấy đã đưa đất nước đi đến thành công, thành công, đại thành công.
Tôi đã viết cuốn 1000 năm Lịch sử quân sự Việt Nam, Dân tộc Việt Nam đã hơn 20 lần bị xâm lược, đã hơn 20 lần đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, có được sự thành công đólà nhờ sự đoàn kết của cộng đồng các dân tộc, không có chỗ nào là do nhờ có đấu tranh giai cấp.
2) Vấn đề một Đảng hay nhiều Đảng
Trên thế giới nhiều nước áp dụng chế độ đa đảng. Một số ít áp dụng chế độ một đảng. Việt Nam ta thời Bác Hồ đã thực hiện chế độ đa đảng. Mỗi chế độ chính trị đều có cái hay cái dở của nó.
Ở Việt Nam ta hiện nay lại đang thi hành chế độc độc đảng: Ta thực hiện được an ninh quốc phòng tốt nhưng về chính trị, bề ngoài ta không nhìn thấy những lộn xộn lớn – nhưng bên trong lòng dân ngao ngán với việc Đảng lãnh đạo với một chế độ độc quyền, lạc hậu, qua hơn 30 năm nay thất bại nhiều lần mà không chịu sửa chữa. Từ độc đảng những sai trái bị bưng bít, không có tiếng nói thứ hai đấu tranh để sửa chữa – báo chí bị kiểm duyệt một chiều chặt chẽ, không đưa ra công luận được những sự thực xấu xa. Bọn tham nhũng dựa vào bè cánh, đặc quyền đặc lợi, phát triển không có cách gì ngăn chặn. Luật kê khai tài sản được công bố, nhưng không ai thực hiện. Uy tín của Đảng bị sa sút nặng trong quần chúng nhân dân – một nguy cơ của sự sụp đổ của chế độ đảng đến gần.
Vấn đề chính cốt lõi là phải có một đường lối chính trị đúng đắn, hợp với lòng dân, hợp với quy luật phát triển của xã hội, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, đoàn kết, an ninh quốc phòng ổn định, chính trị ổn định.
Nếu một đảng mà làm tốt được việc trên [làm thật chứ không làm gian trá như lâu nay vẫn làm – BVN] thì tất nhiên nhân dân vẫn ủng hộ chế độ một đảng.
Nếu trái lại, những điều trên không thực hiện được, chế độ không dựa vào dân, vẫn đi vào con đường độc tài, chuyên chính, thì nhân dân yêu cầu phải có nhiều đảng (2 - 3 - …) dễ bề kiềm chế lẫn nhau, thúc đẩy lịch sử dân tộc tiến lên không ngừng.
3) Có nên bỏ điều 4 của Hiến pháp hay không?
Hiến pháp Việt Nam đã qua 4 lần thay đổi, Bản Hiến pháp đầu tiên không có điều 4. Dần dần để khẳng định thể chế chính trị chuyên chính vô sản, Đảng muốn đóng vai trò độc tôn lãnh đạo. Nhà nước Việt Nam có Chính phủ, có Quốc hội, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam muốn là tổ chức cao hơn cả, đứng trên cả Chính phủ, trên cả Quốc hội. Bộ Chính trị của Đảng (gồm 13 -14 người) là tổ chức cao hơn tất cả các Bộ - những vụ tham nhũng lớn hàng trăm ngàn tỷ đồng, những thất thoát lớn của Nhà nước, đúng ra phải đưa ra vành móng ngựa, đưa ra xét xử - nhưng Bộ chính trị bảo là người của “tao”, phải buông tha, thế là tha bổng – thời Bác Hồ có vụ Trần Dụ Châu, tham nhũng của bộ đội có mấy cái áo trấn thủ, Bác Hồ phải răn đe phạt nghiêm, xử bắn, những vụ tham nhũng hiện nay gấp một ngàn vạn lần – không thấy một ai bị bắn. Trong những vụ lớn, mức phạt nặng nhẹ, không do Chánh án toàn án tối cao, mà do Bộ Chính trị quyết định. Kỷ cương, phép nước bị đảo lộn – người dân không thấy đâu là pháp luật, đâu là công lý.
Nếu ở Mỹ, hiện nay, Đảng Dân chủ đang nắm chính quyền lại đưa Hiến pháp ra sửa đổi, thêm điều 4, để tôn vinh vai trò lãnh đạo của Đảng mình, thì nay mai, Đảng Dân chủ đổ, Đảng Cộng hòa lên ngôi lại sửa đổi Hiến pháp lập lại một điều 4 cho Đảng mình lãnh đạo. Nếu dựa theo quy luật đó, không có Đảng lãnh đạo nào lên nắm chính quyền mà lại không muốn thêm một điều 4 để tự tôn vinh, để cưỡi lên đầu lên cổ của các tổ chức khác, kể cả nhân dân.
Nếu như vậy, thì ở Mỹ, cứ 4 năm một lần, nước Mỹ phải sửa đổi một lần Hiến pháp, để có thêm một điều 4 mới. Và nếu cả thế giới đều bắt chước Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, thì thế giới sẽ không có thế giới đại đồng, mà sẽ có đại loạn.
Về quy luật, không có một nhà nước nào là vĩnh cửu ( Đinh (12) – Lê (29) – Lý (216) – Trần (175) – Nguyễn (143) – Việt minh Cộng sản) sẽ có một lúc nào đó Chính thể Việt minh Cộng sản sẽ đổ [dó là điều chắc chắn – BVN], liệu lúc đó điều 4 có còn tồn tại nữa hay không?
Dưới thời đại Bác Hồ không có điều 4  Đảng Lao động Việt Nam được nhân dân tin tưởng tuyệt đối – vì sao? Vì đường lối của Bác Hồ hợp với lòng dân  Vì Đảng và dân là một. Đảng được uy tín tuyệt đối trong nhân dân. Ngày nay Đảng Cộng sản sản sinh ra điều 4, phá tan kỷ cương phép nước, phá tan đoàn kết của cộng đồng dân tộc, kinh tế sa sút, văn hóa, đạo đức xã hội bị tha hóa nghiêm trọng, uy tín của Đảng bị xuống cấp chưa từng thấy.
Đại vương Trần Hưng Đạo luôn nhắc nhỏ: Phải lấy dân làm gốc, phải khoan thư sức dân,nhờ vậy các vua đời Trần đã ba lần đánh thắng Nguyên Mông. Bác Hồ, theo gương Trần Hưng Đạo, biết dựa vào dân, lấy dân làm gốc, nên đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam đánh thắng hai đế quốc Pháp, Mỹ.
Ngày nay Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lãnh đạo: không lấy dân làm gốc, mà lấy Chủ nghĩa Mác – Lê Nin làm gốc, lấy đấu tranh giai cấp làm gốc, Bộ Chính trị làm gốc. Ngày nào ta còn theo đường lối bè cánh, hẹp hòi, chia rẽ, đặc quyền, đặc lợi, ngày ấy bọn cơ hội càng có đất phát triển – vô hình trung bệnh tham nhũng là con đẻ của chế độ lấy Chủ nghĩa Mác làm gốc – bệnh tham nhũng được đà phát triển, kéo dài là một nguy cơ dẫn đến sự sụp đổ chế độ vào một ngày không xa.
Những người lãnh đạo phải thấy rõ: điều 4 là một tồn tại không hợp Hiến, không hợp pháp, nó là một yếu tố độc hại đang đưa Đảng Cộng sản tiến nhanh trên con đường sụp đổ – nó là nguồn gốc hủy hoại sự tồn vong của Đảng Cộng sản hiện nay.
Cần có đủ đầu óc thông minh và sáng suốt mới dám chủ động hủy bỏ điều 4. Hủy bỏ việc lấy chủ nghĩa Mác làm gốc, để ngăn chặn cái nhọt ung thư tham nhũng ngay từ gốc nguồn – có vậy mới cứu nguy và duy trì được vai trò, vị trí lãnh đạo của Đảng Cộng sản hiện nay.
4) Việc có cần đổi tên Đảng tên nước hay không?
Tại sao chỉ có hai cái tên: Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam, mà đã xảy ra sự tranh cãi liên tục trong mấy năm, mà vẫn chưa có được kết luận – có phải vì cái âm thanh tên này hay hơn tên kia mà đòi hỏi phải đổi thay.
Cái chính là:
Mỗi cái tên đều mang theo nó sự mong muốn tiến tới của các cái tên ấy. Ví dụ nếu lấy tên nước là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thì là nước Việt Nam có mục đích cuối cùng là lên CNXH – theo mô hình Xô Viết. Thực tế nhà nước XHCN theo mô hình Xô Viết là một điều không tưởng – nước Nga – các nước Đông Âu, đi theo con đường lên CNXH theo mô hình Xô Viết đều đã bị thất bại. Nước Việt Nam ta, sau 1975, đã xây dựng CNXH theo mô hình Xô Viết cũng đã bị thất bại thảm hại – nếu không đổi mới thì đất nước đã bị sụp đổ, tàn lụi.
Hiện nay, thực tế lịch sử đòi hỏi, phải xóa bỏ cái tên không tưởng CNXH thay vào đó bằng cái tên Dân chủ Cộng hòa là hợp với tình hình kinh tế, chính trị thực tế trong Đối Nội và Đối Ngoại của Việt Nam hiện nay và lâu dài.
Còn về cái tên Đảng Cộng sản, nó mang ý nghĩa là Đảng sẽ tiến lên đích cuối cùng là Cộng sản Chủ nghĩa.
Chế độ XHCN đã là không tưởng, thì chế độ Cộng sản lại còn ngoài cái không tưởng – làm gì có cái xã hội: làm tùy năng lực, hưởng theo nhu cầu, nhiều người muốn đổi tên Đảng là Đảng của những người lao động – hay Đảng Lao động Việt Nam là hợp với thực tế trước mắt và lâu dài.
Thay đổi hai cái tên để Đảng tránh phải mang tiếng là Đảng luôn nêu hai cái bánh vẽ để lừa quần chúng – nhân dân – lừa cả thế giới.
Thay đổi cái tên Cộng sản, còn có nghĩa là bỏ một cái tên đã nhắc lại những đau thương mà lịch sử loài người đã phải trải qua. Nói đến hai chữ Cộng sản, làm mọi người nhớ đến Staline, Mao Trạch Đông, hai nhà độc tài cộng sản đã giết hại hàng chục triệu sinh mệnh con người để bảo vệ quyền lực của mình; đến chế độ Polpot diệt chủng ở Campuchia (Polpot mang danh cộng sản, diệt hàng triệu dân Campuchia, sọ dừa và xương chất thành núi); đến Cải cách ruộng đất, đến Cải tạo công thương, đến hàng triệu người phải bỏ nước sau 1975, đến chính sách tôn sùng sự bất công thành một quốc sách, tôn sùng sự dốt nát hơn là sự thông minh sáng tạo. Bỏ hai chữ Cộng sản có lợi về Chính trị cho trong nước, về ngoại giao đối với quốc tế. Không ai muốn lên CSCN với câu kinh thánh nổi tiếng của nhà Chính trị Trần Phú: Trí Phú Địa Hào đào tận gốc trốc tận rễ.
May sao ông Trần Phú không gặp thời, nếu không thì Việt Nam ta đã có một Tần Thủy Hoàng, một ông vua từng ra lệnh chôn sống 2000 nho sĩ và đốt hết sách của Khổng Tử – Mạnh Tử, hay một Staline, một Mao Trạch Đông, một Polpot 100% không hơn không kém. Ông Trần Phú đang được Đảng và Nhà nước tôn vinh như một hảo hán anh hùng dân tộc – được đặt tên đường, tên phố, bệnh viện, trường học, dựng tượng, xây lăng tẩm đồ sộ. Thầy trò Trường Trần Phú (Hà Nội) đang lo lắng học tập và ra trường theo gương ông Trần Phú như thế nào???
5) Việc nên nêu khẩu hiệu
“Trung với nước hiếu với dân” hay “Trung với Đảng hiếu với dân”
Đảng muốn quân đội là một công cụ của Đảng, để bảo vệ lãnh tụ, bảo vệ Đảng lúc cần thiết – nên một số người nêu quân đội phải:
“Trung với Đảng – Hiếu với dân”. Theo nhiều nước trên thế giới, người ta nêu: quân đội của một quốc gia phải có tính độc lập – phải là một lực lượng vũ trang luôn sẵn sàng cầm súng bảo vệ Tổ quốc khi lâm nguy.
Vì vậy, trên thế giới các tổ chức chính trị đang nắm chính quyền đều nêu khẩu hiệu “quân đội phải trung với nước hiếu với dân” sau đấy mới trung với chế độ hiện hành.
Chế độ nào dù tài giỏi đến mấy cũng chỉ tồn tại một thời gian, chế độ nối tiếp sẽ thay thế – nếu nêu khẩu hiệu: “quân đội phải trung với Đảng sau mới hiếu với dân” thì một khi chế độ ấy đổ vỡ, quân đội sẽ đổ theo. Bao sĩ quan , tướng lĩnh phải giải ngũ, bao vũ khí, khí tài, bị xếp xó, trở thành sắt vụn, đưa ra bán đấu giá (kể cả bom nguyên tử, B52…). Như quân Phát xít: Đức, Ý, Nhật … Chế độ sau không thể một lúc xây dựng nên một quân đội hùng mạnh để bảo vệ Tổ quốc.
Trong thời gian chiến tranh Việt Nam (9 năm) Chính phủ Pháp bị đổ đến 8 lần – thế nhưng đạo quân xâm lược vẫn là một thứ quân, đó là quân đội Pháp (với Mỹ cũng vậy…).
Tất nhiên khi thay đổi một chế độ, thì người lãnh đạo chế độ mới phải có những biện pháp để thay đổi, cho quân đội hợp với đường lối chính trị mới của mình.
Đảng Cộng sản Việt Nam có công khai sinh ra QĐNDVN từ đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và xây dựng nó trưởng thành cho đến ngày nay. Mặc dù vậy, khẩu hiệu nêu lên với đạo quân này vẫn phải là: “Trung với nước, hiếu với dân” sau mới nói đến trung với Đảng.
Bác Hồ trong chuyến đến thăm Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn ở Sơn Tây (1946) đã tặng cho học sinh võ bị khóa 1 lá cờ có ghi dòng chữ “Trung với nước, hiếu với dân”. Lá cờ của Bác còn nằm ở nhà bảo tàng Trường Sĩ quan Lục quân hiện nay.
Nước bao giờ cũng là vĩnh cửu, còn Đảng dù có tài giỏi đến mấy cũng chỉ có thời hạn. Chẳng khác gì bố mẹ, sinh ra con bao giờ cũng phải dạy con: lớn lên các con phải biết “trung với nước sau là hiếu với nhà”, không bao giờ bố mẹ lại bảo: lớn lên các con phải “trung với gia đình sau hiếu với Tổ quốc”. Nếu dạy con theo kiểu này, khi đất nước có giặc, các con sẽ ở nhà hết để bảo vệ gia đình và bố mẹ, không có ai cầm súng đánh giặc giữ nước.
6) Vấn đề tam quyền phân lập
Mỗi chế độ khi quản lý đất nước đều phải thông qua pháp luật, việc quản lý pháp luật phải qua ba tổ chức:
- Bộ phận Lập pháp (Quốc hội)
- Bộ phận Hành pháp (Tòa án)
- Bộ phận Tư pháp (Viện kiểm sát – Luật sư)
Ba quyền hành này phải hoàn toàn có tính độc lập riêng của nó, phải được tôn trọng, có vậy việc quản lý đất nước mới có hiệu nghiệm – việc quản lý đất nước mới nghiêm minh.
Luật pháp mỗi khi đã ban hành, mọi người công dân đều bình đẳng trước pháp luật và phải tuân theo pháp luật, không phân biệt thứ bậc trong xã hội.
Ở nhiều nước văn minh, tiên tiến, một số Thủ tướng, kể cả Tổng thống đương chức, hay về hưu, mà phạm pháp, đều bị đưa ra tòa án xét xử.
Ở Việt Nam ta hiện nay, tam quyền phân lập không được thể hiện rõ ràng, minh bạch.
Luật pháp là của chung, ai cũng phải thi hành – thế nhưng một số người có chức, có quyền tự cho mình đứng ngoài pháp luật, còn luật lệ là thuộc của dân đen.
Đảng CSVN muốn mình là thống soái, đã dùng biện pháp tự ghi điều 4 vào Hiến pháp, đặt Đảng CS đứng trên cả Chính phủ, cả Quốc hội, cả nhân dân. Quyền lập pháp đặt dưới sự chỉ đạo của Đảng, Đảng chỉ đạo xây dựng luật hợp với quy chế xây dựng chủ nghĩa xã hội theo quan điểm hợp với Mác – Lê nin.
Về hành pháp, Đảng cũng tự cho mình đứng trên cả Bộ Tư pháp, trên cả Tòa án tối cao – mọi xét xử lớn đều phải thông qua Bộ Chính trị – có những vụ trọng tội phải xử nặng, nhưng Bộ chính trị bảo là “Người của Đảng, phải buông tha – “Tòa án phải tuân theo – Tòa án bị vô hiệu hóa – công bằng xã hội bị vi phạm nghiêm trọng.
Còn phần Tư pháp, với tiếng nói yếu ớt của các Viện Kiểm sát, các luật sư, hoạt động tư pháp mang tình hình thức, để cho bề ngoài là nhà nước có vẻ tôn trọng quyền của công dân. Nhân dân đòi hỏi Đảng và Nhà nước Việt Nam phải tôn trọng tam quyền phân lập và phải tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, để giữ được công bằng xã hội, kỷ cương phép nước của một nhà nước văn minh, một dân tộc văn minh.
Kết
Trên đây, tôi đã lược qua một số vấn đề góp một số ý kiến cá nhân vào thư Kiến nghị của 72 nhân sĩ của cả nước đã gửi lên Quốc hội, lên Hội đồng xét việc sửa đổi Hiến pháp.
Tôi tán thành bản Tuyên bố của hàng ngàn “công dân tự do”, bản Tuyên bố của Hội đồng Giám mục, của Thượng tọa Thích Chí H., đại biểu cho hàng triệu giáo dân và phật tử.
Những thư và kiến nghị đó chứng tỏ toàn dân đang lo lắng đến vận mệnh của đất nước, mong muốn có một Hiến pháp tiến bộ, lâu dài. Đây là một thời cơ để những người lãnh đạo nắm lấy để sửa đổi Hiến pháp, xây dựng một thể chế phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước.
Những ý kiến của tôi đều xuất phát từ lợi ích của dân tộc, của đất nước Việt Nam, nhiều lợi ích bảo vệ sự tồn tại của chế độ hiện hành.
Đại vương Trần Quốc Tuấn, 3 lần đánh thắng Nguyên Mông, Lê Lợi, Nguyễn Trãi sau 10 năm đánh đuổi được giặc Minh, Hồ Chí Minh sau 30 năm đánh đuổi 2 đế quốc lớn: Pháp – Mỹ, giải phóng được đất nước Việt Nam đều nhờ vào lấy dân làm gốc, biết dựa vào dân – luôn nghĩ đến khoan thư sức dân – không sợ giặc mạnh, chỉ sợ dân không đồng lòng, đỡ thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân…
Hiện Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lãnh đạo không lấy dân làm gốc, mà lấy đấu tranh giai cấp làm gốclấy Bộ Chính trị làm gốc, đang đưa đất nước trên con đường tuột dốc: kinh tế, văn hóa, đạo đức xã hội, chính trị sa sút nghiêm trọng – tham nhũng không ngăn chặn được đưa đến nguy cơ sụp đổ chế độ.
Lê Quý Đôn có nêu 5 biểu hiện của một chế độ có nguy cơ mất nước, đó là:
- Trẻ không trọng già
- Trò không trọng thầy
- Binh kiêu tướng thoái
- Tham nhũng tràn lan
- Sĩ phu ngoảnh mặt (Không trọng nhân tài khinh trí thức)
Chế độ hiện hành có gần đầy đủ những biểu hiện trên. Những cấp lãnh đạo, những người có trách nhiệm cần phải thông minh, tỉnh táo, tiếp thu những kiến nghị của các Lão thành cách mạng, các nhân sĩ trí thức, là trí tuệ của dân tộc, để thay đổi đường lối chính trị, xây dựng một thể chế mới, hợp với xu thế phát triển của thời đại, để đưa đất nước ra khỏi một giai đoạn tối tăm của lịch sử, cứu Đảng Cộng sản ra khỏi các vực thẳm trên con đường sụp đổ – tránh sự hốt hoảng bằng thái độ dọa nạt, răn đe khủng bố tầm thường…
Năm 1952, tôi vinh dự được tham gia lớp Chỉnh Đảng đầu tiên của Trung ương Đảng ở cây đa Tân Trào – các học viên hầu hết là các Chủ tịch, Bí thư Tỉnh ủy, Khu ủy, một số là TWUV, một số là Bộ Chính trị, là Bộ trưởng, Thứ trưởng – tôi còn nhớ, có mặt trong đợt đó: Đồng chí Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương, Nguyễn Duy Trinh, Nguyễn Tạo, Trần Công Tường, Lê Lộc… Một số cán bộ chủ chốt của quân đội được dự. Bác Hồ, tuần nào cũng có một lần lên lớp cho Học viên. Một hôm, một học viên xin ý kiến của Bác “Chúng cháu là cán bộ đảng viên, luôn có một lo lắng: làm thế nào là đúng với lập trường, quan điểm Cách mạng – làm thế nào là sai…”
Bác vui vẻ trả lời:
“Hễ mỗi lần, các chú làm việc gì đều phải nghĩ đến: làm việc này có lợi cho dân, cho nước, cho Đảng, thì các chú cứ làm, không sợ sai. Nếu không lợi cho dân, cho nước, cho Đảng, chỉ lợi cho cá nhân, cho một số nhỏ… thì cương quyết không làm”.
Lời dạy của Bác đơn sơ, giản dị, nhưng đầy tính chân lý, tôi đã ghi lòng tạc dạ. Nên suốt 75 năm đi theo Cách mạng, tôi đã không bị phạm vào sai lầm gì lớn.
(Xem lời nhận xét về Việt của Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tổng Tư lệnh/Quân đội nhân dân Việt Nam; của Giáo sư Trần Việt Hà – Đại học Kinh tế quốc dân; của một Giáo sư Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương ở phần chú thích).
Từ thời Bí Thư thứ nhất Lê Duẩn (1960), hơn 50 năm nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn nêu kiên trì đường lối Mác – Lê nin, kiên trì đường lối đấu tranh giai cấp, đã đem lại những hậu quả tai hại như đã nói trên. Đường lối ấy chỉ lợi cho một nhóm người, cho tập đoàn thống trị. Tôi đã kể lại một câu chuyện, nhắc lại một lời nhắn nhủ của Bác Hồ, người con thân yêu của dân tộc. Nay Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính trị của ông, là những người vững vàng nhất về chính trị, ắt phải hiểu hơn ai hết: thế nào là Cách mạng, là quan điểm lập trường Cách mạng.
Trước khi dứt lời tôi muốn nhắc một điều về giáo lý của Đức Phật, đó là “thuyết nhân quả”. Trong khi một nhóm người dựa vào Học thuyết Mác – Lê nin, chiếm các chức quyền, chiếm đoạt tài sản của nhân dân; họ đã một mình lên CNXH, còn lên cả CSCN và để lại đằng sau trên 80 triệu người dân sống thoi thóp, phải vật lộn với bao khó khăn hàng ngày, gánh chịu hậu quả của hàng triệu tỷ đồng thất thoát của Nhà nước đang đổ lên đầu họ. Kéo dài một đường lối sai lầm đã làm khổ cực cho bao nhiêu người khác là một tội ác. Đức Phật dạy: nhân nào thì có quả ấy, quả nào cũng có nhân ấy… ai đã gây ra những sai lầm làm tổn hại cho đất nước, dân tộc, kẻ ấy phải hứng chịu những trừng phạt không tránh khỏi của Trời Phật.
Phải nhanh chóng hối cải, vứt bỏ những bất công, những điều xấu xa độc ác, trút bớt lòng tham, quay lại với cái thiện, mới mong cứu vãn được một phần tội lỗi.
Về giáo lý, Đức Phật khuyên mọi người phải từ bi, bác ái, đùm bọc giúp đỡ nhau – luôn nghĩ đến và làm việc thiện. Còn giáo lý của Mác, là đấu tranh giai cấp: Một đứa trẻ mới lọt lòng, Mác đã dạy: phải nghĩ đến tiêu diệt các giai cấp loài người, để chỉ còn lại trên trái đất này: Công nhân và nông dân. Người theo Chủ nghĩa Mác, không từ bỏ một hành động tội ác nào để làm theo lời dạy của Mác, sẵn sàng sống trong sự bất công, sẵn sàng làm khổ cực người khác một cách không thương tiếc. Rõ ràng là hai giáo lý: một bên là Thiện, một bên là Ác…
Đức Khổng Tử dạy: Nhân chi sơ tính bổn thiện. Thế mà chủ nghĩa Mác đã biến các chú bé ngây thơ Staline, Mao Trạch Đông, Polpot thành những con người thú, hung dữ hơn cả những con thú dữ nơi rừng xanh. Trên thế giới, có nhiều tôn giáo, thời gian tồn tại của một tôn giáo, là thước đo mức tin cậy của nhân loại với tôn giáo ấy, hãy xác minh đâu là một chính đạo hay đâu là một không chính đạo?…
- Đạo Phật tồn tại đến nay trên 2500 năm (đang phát triển)
- Đạo Thiên chúa tồn tại được được 2013 năm
- Đạo Hồi tồn tại được trên 1500 năm
- Đạo Mác tồn tại đến khi Liên Xô sụp đổ được 75 năm.
Về cuối đời, Mác cũng đã tự tuyên bố phủ định một số học thuyết mà ông đã ban bố trong những thời kỳ đầu của tuổi trẻ (như đường lối giai cấp chuyên chính vô sản, giai cấp công nhân đào mồ chôn giai cấp tư sản,…). Đảng Cộng sản Việt Nam đang làm sống lại những điều mà chính Mác cũng đã không còn công nhận nữa.
Đảng Cộng sản Việt Nam còn tôn vinh Chủ nghĩa Mác, còn muốn kéo dài tuổi thọ của các cụ… còn muốn cả dân tộc Việt Nam đưa các cụ lên bàn thờ và còn muốn các trường học phải dạy Chủ nghĩa Mác – Lê Nin. Hãy trả các cụ về với các cụ bà, với châu Âu. Còn ta, ta về về với Bác Hồ, về với ao ta, dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn...
Xin nhắc một lời thơ:
Quan nhất thời dân vạn đại
Ghế quan ai ngồi xin chớ thờ ơ
Thương dân dân lập bàn thờ
Hại dân dân đái ngập mồ thối xương.
Cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm (bố của Nguyễn Khắc Viện) có mấy vần thơ khuyên vua Thành Thái trong việc trị nước:
Tôn tộc đại quy (Tôn trọng gia tộc thì sẽ có sự quy tụ, đoàn kết lớn)
Tôn lộc đại nguy (Tôn sùng bổng lộc – khuyến khích tham nhũng – thì rước lấy nguy hiểm lớn)
Tôn tài đại thịnh (Tôn trọng nhân tài thì đất nước hưng thịnh lớn)
Tôn nịnh đại suy (Tôn sùng gian nịnh thì đất nước rơi vào suy vong lớn)
Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay đang tôn lộc, tôn nịnh, không tôn tài tôn tộc, thích nghe những lời đường mật, ghét lời trung thực. Tổ tiên đã dạy:
Phải lấy dân làm gốc
- Tuyệt đối không được lấy Mác – Lê Nin làm gốc.


Chú thích:
- Một số nhận xét về Đặng Văn Việt – của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Tổng Tư lệnh/ Quân đội Nhân dân Việt Nam)
1. Tiếc là Việt không còn ở quân đội
2. Rất tiếc là Việt không có mặt ở Điện Biên Phủ. Nếu có mặt, trận đánh 57 ngày đêm đó, chắc chắn sẽ được rút ngắn (½) về thời gian và giảm thiểu tối đa về thương vong, hao mòn vật chất.
3. Nếu Việt còn ở quân đội, Việt có thể đảm đương tới cương vị Tổng tham mưu trưởng.
4. Việt về tài đức là điều không cần phải bàn đến: sáng tạo về quân sự, vững vàng về chính trị, khả năng văn học dồi dào.
5. Cần phải sớm trả lại danh dự và vị trí Cách mạng cho cụ Đặng Văn Hướng – thân sinh ra Đặng Văn Việt – một thân sĩ dân chủ có nhiều cống hiến quý giá cho dân tộc – cho Cách mạng.
Của Giáo sư Trần Văn Hà (Đại học Kinh tế quốc dân)
1. Đặng Văn Việt là một tấm gương sáng: chí trung với nước, chí hiếu với dân, không chút vì danh lợi địa vị. Tôi nghĩ rằng Đặng Văn Việt có thể là một mẫu hình của người Việt Nam tiến bộ của Thế kỷ thứ 21 này.
2. Tự hào thay dân tộc Việt Nam có những người con ưu tú như vậy.
Của một Giáo sư trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương (Học viện Chính trị Quốc gia)

1. Kính chào Đại vương Đường số 4, vị anh hùng Đường số 4 – người Đảng viên kiên cường luôn vì sự nghiệp của dân tộc, của đất nước, của Đảng của Bác Hồ.

Tình hình xấu hơn chúng ta tưởng!

Cách đây khoảng 15 năm, trong một bài viết đăng trên báo Nhân Dân, tôi có nói, đại ý: Khi ở một dân tộc, một đất nước mà những người ưu tú không nằm trong bộ máy quyền lực thì an ninh của quốc gia đó bị đe dọa.
Nay xét tình hình của Việt Nam, dường như điều đó đang xảy ra. Tôi đọc sách báo, nghiên cứu tài liệu, tham gia các hội thảo... và khẳng định: Việt Nam không thiếu người tài. Nhưng nhìn vào cách quản lý, điều hành đất nước hiện nay, không thấy người tài đâu?!
Bàn về việc sửa đổi Hiến pháp vào thời điểm hiện nay là một quyết định không mấy sáng suốt vì tình hình và điều kiện chưa phù hợp. Tình hình kinh tế - chính trị chưa thuận lợi để chúng ta làm việc này một cách có hiệu quả. Kết quả là việc góp ý kiến sửa đổi Hiến pháp mâu thuẫn đến mức đối địch. Đã thế, một số người ra sức nói những điều nhảm nhí và nói lấy được. Ví dụ, GS.TS. Hoàng Chí Bảo nói: “Tuy nhiên, Đảng với nhân dân là thống nhất, với nhà nước là thống nhất. Phủ nhận vai trò của Đảng tức là phủ nhận vai trò của nhân dân, phủ nhận ý chí, nguyện vọng của nhân dân, phương hại đến nền độc lập tự do của Tổ quốc. Phương hại đến quyền sống, quyền tự do hạnh phúc của nhân dân. Vì bảo vệ dân mà phải bảo vệ Đảng. Vì bảo vệ dân mà phải hiến định nó”.
Đây là ví dụ điển hình cho việc nói lấy được. Thời mà cả dân tộc thống nhất để bảo vệ Tổ quốc, người ta cũng chỉ dám nói “Ý Đảng, lòng dân”, chứ không dám nói “Đảng với dân là một”. Nếu muốn nói như vậy, ít ra phải làm một cuộc trưng cầu dân ý; kết quả thế nào mới nói được.
Kinh tế trì trệ, nợ công tăng, bọn tham nhũng lộng hành, dân mất lòng tin... đang là những cái xấu đáng lo ngại. Nay phát hiện ra là trong việc quản lý điều hành đất nước thiếu trí tuệ lớn, thiếu dũng khí, thiếu bản lĩnh. Như vậy tình hình tốt đẹp ở chỗ nào?!
Ngạc nhiên vì một nghịch lý: Cứ có chức, có quyền là người ta kém đi, hèn đi
Trong mấy chục năm đi học và đi làm, tôi quen biết nhiều người, trong đó có những người rất khá về trí tuệ và đáng trân trọng về nhân cách. Ấy là lúc họ còn làm giảng viên đại học, làm báo. Nhưng đến khi họ làm lãnh đạo thì họ lại tỏ ra rất hèn kém, thậm chí không nhận thức được những điều mà người có trí tuệ trung bình đều nhận thức “ngon lành”.
Thoạt đầu, tôi cứ nghĩ, khi họ ngồi vào những vị trí quan trọng, có đầy đủ thông tin, có điều kiện, có quyền lực thì họ phát huy được những phẩm chất tốt đẹp của mình, phục vụ đất nước tốt hơn. Nhưng thực tế diễn ra ngược lại, khiến tôi vừa mất bạn, vừa buồn lo và không thể nào hiểu nổi tại sao lại như vậy?!


Việc thiếu trí dũng đã lộ rõ
Phân tích những diễn biến Đại hội XI và các Hội nghị Trung ương Đảng gần đây thì thấy rõ điều đó. Chỉ nguyên việc bầu Ủy viên Bộ Chính trị cũng đã bộc lộ đầy đủ. Đại hội XI dự kiến bầu 17 Ủy viên Bộ Chính trị. Kết quả chỉ bầu được 14. Rõ ràng là thiếu người tài, người tốt ở trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng mới không bầu đủ số lượng dự kiến. Đến Hội nghị 7 bầu bổ sung, nhưng cũng chỉ bổ sung được thêm 2 người là 16, chưa đủ con số dự định.
Điều đáng nói là người được kỳ vọng nhất là ông Nguyễn Bá Thanh lại không được bầu. Nhiều người rất thất vọng về điều này, kể cả Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Ông Nguyễn Bá Thanh được xem là người tài, người tốt. Vậy tại sao người tài và người tốt lại không được lựa chọn? Chỉ có thể suy ra câu trả lời: Những người không lựa chọn ông không cùng đẳng cấp như ông. Hay nói thẳng ra là họ không tài, không tốt như ông nên họ không bầu ông.
Thật ra đây là điều hợp logic. Ông Nguyễn Bá Thanh được kỳ vọng là “bàn tay sạch” chống tham nhũng có hiệu quả. Bản thân ông cũng từng tuyên bố nhiều lần như vậy. Chống tham nhũng là chống ai? Chống những người có chức, có quyền. Đại đa số các Ủy viên Trung ương Đảng thuộc loại này. Ông Nguyễn Bá Thanh không vào được Bộ Chính trị là điều mà những người biết quan sát và có đầu óc phân tích biết từ trước. Thậm chí người dân thường cũng có thể suy ra điều này: Chúng ta chưa thấy ai mài dao đưa cho kẻ sẽ cắt cổ mình.
Làm gì để bớt nỗi đau?


Một số người có vẻ hoan hỉ về việc blogger nổi tiếng Trương Duy Nhất vừa bị bắt. Riêng tôi thấy rất buồn. Buồn không chỉ vì một người dám nói thẳng, nói thật bị bắt, mà còn buồn về việc lớn hơn thế, sâu hơn thế, xa hơn thế...

Có thể những bài viết của Trương Duy Nhất làm một số người không thích. Nhưng rõ ràng Trương Duy Nhất muốn góp tiếng nói của mình làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, đất nước phát triển vững vàng hơn. Anh không chống phá Nhà nước. Điều này cơ quan an ninh cũng công nhận và họ bắt không phải căn cứ vào Điều 88 Bộ Luật hình sự, mà căn cứ vào điều 258.
Không nên đẩy những người có trí tuệ, có dũng khí sang “bên kia chiến tuyến” – đối lập với chính quyền. Nếu làm căng quá, đẩy họ ra nước ngoài thì chính những người làm việc này mới là những người “xâm phạm lợi ích Nhà nước”. Đã có tiền lệ rồi. Mấy chục năm trước, nữ thanh niên xung phong, nữ nhà văn Dương Thu Hương bị bắt, bị tù đày, bị đẩy ra nước ngoài. Bây giờ bà ấy ngồi ở Paris, muốn nói gì thì nói mà chẳng ai trong hệ thống an ninh làm gì được. Vì sống xa đất nước nên bà ấy nói có những điều không đúng, không thật, có hại cho Việt Nam. Giá cứ để bà ấy sống ở Hà Nội, trầm mình trong thực tế sôi động ở Việt Nam và viết văn có tốt hơn không?
Bắt bớ, bỏ tù những người trung thực, có trí tuệ, có dũng khí, không hèn nhát là điều dễ. Nhưng thử hỏi: Đất nước, xã hội ta được lợi gì về điều đó?
Làm gì cũng vậy, kể cả làm công tác an ninh thì cần phải đặt ra câu hỏi: Việc mình làm có lợi nhiều hơn hay có hại nhiều hơn?
Tôi nghĩ, việc bắt Trương Duy Nhất có hại nhiều hơn (nhất là trong vấn đề tôn trọng nhân quyền, dân chủ, xây dựng xã hôi văn minh...). Hình như Trương Duy Nhất không sợ hãi, buồn lo về chuyện mình bị bắt, thậm chí anh còn khoái chí nữa là khác?! Những bức ảnh cho thấy anh đàng hoàng, đĩnh đạc, thoải mái ngẩng cao đầu; còn những người áp tải ảnh lại có vẻ lúng túng, đầu hơi cúi. Rồi thông tin cho hay anh hợp tác với công an, thực hiện mọi yêu cầu của họ cũng nói lên rằng biết rất rõ việc mình đang làm.
Tôi “đau” nhất khi thấy có người so sánh Trương Duy Nhất với Nguyễn Văn Trỗi – một người đồng hương Quảng Nam nổi tiếng khắp thế giới của anh. Họ chỉ so sánh Nguyễn Văn Trỗi – Trương Duy Nhất, còn so sánh những cái khác là việc của chúng ta. Mà càng so sánh, càng “đau”.
Có thể làm gì để nỗi đau bớt đi được không?

HỒ BẤT KHUẤT

Vì sao vẫn còn nhiều người có công “giả”?

                             TRẦN QUANG ĐẠI

Một nghịch lí trớ trêu có lẽ chỉ có ở thời nay là hiện tượng người có công “giả” đang khá nhiều, vậy đâu là nguyên nhân?   
Từ đơn tố cáo của ông Dương Đình Dần (xã Diễn Đồng, Diễn Châu), năm 2013, Thanh tra Sở LĐTBXH Nghệ An đã có văn bản kết luận số 137 ngày 23/1/2013 đình chỉ trợ cấp và thu hồi số tiền hưởng sai đối với 3 thương binh, 12 nạn nhân chất độc hóa học “giả” ở hai xã Diễn Đồng và Diễn Thái.
Từ năm 2000 đến nay, thực hiện các chính sách giải quyết tồn đọng sau chiến tranh, số lượng người có công ở Nghệ An tăng đột biến. Tính từ năm 2006 lại nay toàn tỉnh đã xác nhận và giải quyết chế độ trợ cấp cho 6.145 trường hợp là người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học, 2.915 người hưởng chế độ thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; 105 trường hợp liệt sỹ. Do những kẽ hở của chính sách, nhiều người dân đã bỏ tiền, thông qua các đối tượng “cò” để “chạy” chế độ. Theo Sở LĐTBXH Nghệ An, từ tháng 5/2009 đến tháng 6/2012, thực hiện việc giám định đối với người tham gia kháng chiến có mắc 1 trong 17 bệnh được quy định tại Quyết định số 09/2008/QĐ-BYT nên rất nhiều đối tượng đã lợi dụng để mua bệnh án giả nhằm hợp thức hóa hồ sơ. Chỉ trong một năm (từ năm 2012 đến đầu năm 2013), Sở LĐTBXH Nghệ An đã dừng trợ cấp 98 trường hợp trong đó có 6 trường hợp là thương binh, 92 trường hợp người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và con đẻ.
Không chỉ ở Nghệ An, mà trên địa bàn nhiều tỉnh khác, tình trạng làm giả hồ sơ người có công rất phổ biến. Tại Hà Tĩnh, năm 2006, 17 vị là cán bộ từ cấp xã đến tỉnh, hội đồng giám định y khoa tỉnh phải ra trước vành móng ngựa vì tiếp tay làm hồ sơ thương binh giả. Từ vụ việc, cơ quan chức năng đã phát hiện 100 thương binh giả, loại hơn 5.000 bộ hồ sơ có dấu hiệu gian dối, tiếp tục rà soát 6.500 bộ hồ sơ đã nộp vào tỉnh. Năm 2007, tỉnh Quảng Bình truy tố 6 đối tượng là người Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình cấu kết với nhau làm 110 bộ hồ sơ thương binh giả, thu 600 triệu đồng. Năm 2004, Ninh Bình phát hiện vụ việc làm giả 692 hồ sơ thương binh... Các tỉnh/Tp Hải Phòng, Thanh Hóa, Quảng Ninh.. cho đến tận đất mũi Cà Mau hay tỉnh miền núi phía Bắc là Thái Nguyên, Tuyên Quang... đều có nạn thương binh giả. Mặc dù các vụ việc đã bị phanh phui khá nhiều, song đó chỉ là phần nổi của tảng băng. Hiện nay, số người có công giả “chưa bị lộ” vẫn không ít trên phạm vi cả nước. Hiện tượng “thương binh giả” là một sự cảnh báo sâu sắc về nhiều phương diện. Trước hết là do cơ chế thiếu sự phản biện về chính sách, sơ hở trong khâu ban hành chính sách. Trong đó, đặc biệt là Thông tư số 27/1999/TT-BLĐTBXH ngày 3/1/1999 hướng dẫn về hồ sơ công nhận người hưởng chính sách như thương binh bị thương từ ngày 31/12/1994  trở về trước. Theo văn bản này, đối tượng chỉ cần bản khai tự viết, có giấy xác nhận của hai người cùng đơn vị, được một hội đồng cấp xã xác nhận là có bị thương, trên cơ sở đó được cấp giấy chứng nhận bị thương, được giám định tỷ lệ mất sức lao động. Bản thân đối tượng và người làm chứng không cần hồ sơ, lí lịch, giấy tờ gốc, chỉ cần có xác nhận của chính quyền cấp xã, sau đó chỉ cần tìm cách lọt qua cửa hội đồng giám định y khoa là hoàn chỉnh hồ sơ. Từ văn bản này, hàng ngàn, hàng vạn đối tượng chưa một ngày tham gia kháng chiến, hoặc không hề có thương tật gì, hay thương tật do bẩm sinh hoặc tai nạn sinh hoạt...đã được phù phép thành thương binh. Tương tự, Thông tư số 17/2000/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 5/7/200 hướng dẫn thủ tục hưởng chế độ chất độc da cam cũng rất “đơn giản, gọn nhẹ”: đối tượng làm bản khai hưởng trợ cấp, kèm theo giấy xác nhận bệnh tật của Trung tâm Y tế cấp huyện, UBND cấp xã kí, đóng dấu. Với sự thông thoáng quá mức này, từ năm 2000 - 2004, Nghệ An đã giải quyết cho 12.177 ngư­ời tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học đư­ợc h­ưởng trợ cấp. Theo văn bản đang có hiệu lực (Thông tư 08/2009/TT-BLĐTBXH năm 2009) cũng nhiều sơ hở. Cụ thể, để được hưởng chế độ, đối tượng cần có Biên bản giám định bệnh tật của Hội đồng giám định y khoa tỉnh xác nhận mắc một trong 17 bệnh tật liên quan đến chất độc da cam theo qui định của Bộ Y tế, trong đó có hai bệnh rất phổ biến là bệnh thần kinh ngoại biên và bệnh đái tháo đường type 2. Trước tình trạng người dân ào ào nhập viện để làm hồ sơ bệnh án đái đường và thần kinh ngoại biên, Sở LĐTBXH Nghệ An đã từ chối những hồ sơ bệnh án kiểu này mới xuất hiện sau năm 2009.
Bên cạnh đó là sự suy thoái, tham nhũng của một bộ phận công chức, viên chức trong các cơ quan chức năng. Những đối tượng này hành xử theo kiểu “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”, sẵn sàng vì tiền mà làm bừa, kí ẩu, bất chấp hậu quả nghiêm trọng từ hành vi của mình. Nhiều người dân có tâm lí dựa dẫm, trông chờ vào Nhà nước, coi ngân sách, chế độ ưu đãi là “của kho vô tận”, ai “khai thác” được thì hưởng “lộc”, không quan trọng là bằng cách nào. Từ quan niệm lệch lạc đó, sinh ra đủ mánh khóe gian dối để đạt được mục đích. Có nhiều người, vì lòng tự trọng và sự trung thực đã không chạy theo trào lưu làm “thương binh giả”, nhưng đối với không ít người khác, đã bất chấp tất cả để được hưởng các chế độ ưu đãi. Một số người khác lại quan niệm thương binh giả “lấy tiền nhà nước chứ không lấy tiền mình” nên mặc kệ. Chính quyền, cơ quan Từ sự việc 15 đối tượng người có công giả bị đình chỉ, Diễn Châu đang tổ chức kiểm tra, rà soát chính sách người có công trên địa bàn. Đây là việc làm cần thiết, dù muộn màng; nhưng quan trọng hơn là sự rà soát từ chính cơ chế ban hành chính sách và bộ máy công chức thực thi chính sách đó. Một cơ chế khoa học và một bộ máy công chức trong sạch chính là “sức đề kháng” tốt nhất, bền vững nhất đối với những cái tiêu cực, xấu xa, góp phần xây dựng xã hội công bằng, văn minh. Mặt khác, cần có sự khuyến khích, ủng hộ và bảo vệ những người có công phát hiện những đối tượng làm giả hồ sơ để hưởng chế độ ưu đãi. Cụ thể, có thể trích một khoản trong số tiền truy thu được từ các đối tượng bị phát hiện để thưởng cho người tố cáo. Mặt khác, cần có chế tài xử lí nghiêm khác đối với những cán bộ công chức tham nhũng, vô trách nhiệm cũng như những người làm chứng gian dối. 
     

Dân Chủ, Tự Do và Pháp Quyền

Nguyễn Đại

 ·                Một cách nhìn về tự do
Khái niệm Dân Chủ nghe “to” thế nhưng rốt cuộc lại dễ hiểu. Thậm chí, ta có thể nhại thơ Đỗ Trung Quân, ai cũng hiểu, chỉ giả vờ không hiểu. Dù sao thì Dân Chủ đã được đưa lên hàng đầu rồi. Thế Tự Do thì sao? Dân Chủ hay đi liền với Tự Do, ít khi thấy hai khái niệm này đứng tách rời nhau. Thậm chí còn xuất hiện một số câu hỏi như “có thể có dân chủ mà không có tự do không?” hoặc “không dân chủ nhưng có tự do có được không?”. Thế là tôi táy máy đi tìm hiểu Tự Do là gì. Không ngờ lại phức tạp.
Đầu tiên là tra từ điển, mọi thứ bắt đầu bằng định nghĩa về mặt từ ngữ đã: Tự Do là trạng thái không bị giới hạn, ràng buộc. Tôi hiểu lời giải thích này đồng nghĩa với Tự Do là trạng thái muốn làm gì thì làm.
Thử đi một vòng các diễn đàn để xem dân mạng nói gì. (*)
Tự Do là Tự Do trong khuôn khổ.
Tự Do để mà loạn à.
Ông qua Mỹ chửi cha Washington thử coi công an nó có bắt ông vào tù không. Ở đó mà đòi Tự Do ngôn luận.
Thật đúng là cư dân mạng, với những nick ảo. Nói văng mạng, không cần suy nghĩ.
Tiếp theo, chúng ta hãy cùng nhìn lại quan điểm về Tự Do của một số triết gia.
Theo Kant, Tự Do không phải là tuỳ tiện, mà là sự Tự Do tuân theo các quy tắc mà lí tính đã tự đề ra. Ông cho rằng, một ý chí Tự Do là một ý chí trong khuôn khổ những quy tắc luân lí.
Với Locke, Tự Do là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào.
Hegel thì cho rằng Tự Do là cái nhận thức được cái tất yếu.
Với bộ óc siêu việt, những định nghĩa của các triết gia bao giờ cũng làm đa số người dân cảm thấy mù mờ. Bài viết này nhằm giải thích hai chữ Tự Do sao cho dễ hiểu nhất, mục đích để càng nhiều người hiểu đúng về hai chữ Tự Do càng tốt. Bắt đầu từ định nghĩa trong từ điển, và dựa vào quan điểm của Kant, trong đó “khuôn khổ những quy tắc luân lý” chính là Pháp Luật. Đồng thời, tìm hiểu thêm về mối quan hệ của Dân Chủ, Tự Do và Pháp Quyền
* * *
Tự Do là được làm những gì mình thích.
Đúng, nhưng chưa đủ. Nếu dừng lại ở đó thì quả là loạn thật. Không có tiền nhưng thích ăn chơi nên cướp. Thấy nữ sinh mơn mởn, dục vọng nổi lên là “làm luôn”. Đang ngồi nhậu, giết nhau chỉ vì nhìn thấy ghét. Đèn đỏ hả, kệ, chạy luôn. Nếu nhân danh Tự Do để làm tất cả những gì mình thích thì ai còn dám đấu tranh cho Tự Do nữa. Và nếu vậy thì dân Việt nam có lẽ đang “Tự Do” nhất. Tự Do đang bị hiểu sai thành tùy tiện, bộc phát, mất kiểm soát. Trong khi trải qua hàng ngàn năm, loài người đấu tranh cho hai chữ Tự Do thiêng liêng. Bao nhiêu người đã hi sinh chỉ vì khát vọng Tự Do, từ những người thành công như Washington, Nelson Mandela, đến những người “thành nhân” như Luther King, Nguyễn Thái Học. Cũng bao nhiêu người nhân danh hai chữ Tự Do để huy động được sức mạnh toàn dân như Lenin, Mao Trạch Đông… Bên dưới quốc hiệu Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là ba từ (ba khát vọng của dân tộc): Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc cơ mà?
Vậy thì Tự Do là được làm những gì mình thích nhưng không phải tất cả. Cái mình thích nhưng cá nhân khác không thích thì sao? Hoặc giả, cái mình thích và rất nhiều người cùng thích (ví dụ ăn cắp của công) thì sao? Họ cũng có Tự Do, ta cũng có Tự Do, nhưng hai ước muốn mâu thuẫn nhau thì giải quyết cách nào? Như vậy thì, Tự Do mà loài người đang mong muốn phải là của chung: Tự Do của cá nhân là được làm những gì mình thích nhưng không ảnh hưởng đến Tự Do của người khác.
Về lý thuyết thì ổn, nhưng thực tế, sẽ có những tranh cãi bất tận. Tất nhiên, không ai được nhân danh Tự Do để đánh người, ăn cắp, ngủ với nữ sinh vì những việc này rõ ràng có ảnh hưởng đến người khác. Nhưng cũng có việc, tôi thấy ảnh hưởng nhưng người khác thì không. Ví dụ như tôi Tự Do, tôi thích… cởi truồng đi ngoài đường chẳng hạn. Có ảnh hưởng đến Tự Do của ai không? Sẽ có người thấy chướng mắt (mất Tự Do). Vậy hành động của tôi làm ảnh hưởng đến Tự Do của người đó rồi. Nhưng ai chứng minh người đó bị chướng mắt? Ai được quyền phán xét rằng đúng là người đó bị chướng mắt, và kết luận rằng tôi không được làm vậy. Thế là pháp luật ra đời. Pháp luật sẽ quy định những gì không được làm. Và Tự Do là được làm tất cả những gì pháp luật không cấm, ta gọi là Tự Do hiến định (1). Và để đạt được hai chữ Tự Do, mọi việc phải căn cứ trên luật. Xã hội của những con người Tự Do là xã hội thượng tôn luật pháp, xã hội với Nhà Nước pháp quyền. Tự Do vì vậy càng làm xã hội đi vào trật tự, kỷ cương.
Nhưng vẫn còn những mâu thuẫn giữa Luật và Tự Do. Thời phong kiến cũng có luật vậy, nhưng dân đâu có Tự Do. Nguyên nhân là Luật phong kiến chỉ để bảo vệ giai cấp thống trị, luật một chiều. Luật do giai cấp thống trị tự soạn ra và ban hành, tự xét xử và tự thi hành luôn. Nếu người dân không được quyền bác bỏ một điều luật, cho dù nó rất vô lý (kiểu như “dân thường không được mặc áo đỏ như thời phong kiến, hoặc thời kỳ con cán bộ được ưu tiên điểm khi thi Đại học ở Việt Nam”), thì cũng không thể gọi là có Tự Do. Vậy thì, muốn Luật và Tự Do song hành với nhau để Luật đảm bảo quyền Tự Do của người dân thì cơ quan Lập Pháp (Quốc hội) phải vì dân, thậm chí phải chính là dân. Muốn có Nhà Nước pháp trị thì Quốc hội phải đủ mạnh và độc lập. Quốc hội phải thực sự là cơ quan Nhà Nước có quyền lực cao nhất. Muốn vậy, thì nhất thiết phải có Dân Chủ mạnh. Dân phải thực sự là chủ, quyền lợi của Dân phải được đặt trên quyền lợi của Đảng phái, của Nhà Nước. Nhờ Dân Chủ, Luật mới đúng là do nhân dân thông qua. Luật pháp lúc này giống như là một bản khế ước mà mọi người dân ký đồng ý thực hiện. Lúc đó, trên nguyên tắc, ai sống và làm việc theo pháp luật, người đó được Tự Do.
Nguyên tắc là thế, thực tế lại vẫn còn bất cập. Luật được toàn dân thông qua, đã được ban hành rồi. Thế nhưng vẫn có cảnh người không phạm tội mà bị mất Tự Do hoặc kẻ phạm tội thì nhơn nhơn ngoài xã hội. Vấn đề thuộc về cơ quan Tư Pháp. Có trường hợp, cơ quan Tư Pháp khách quan nhưng do năng lực kém nên đã định án sai. Trường hợp này cá biệt và hiếm xảy ra, vì quy trình tố tụng còn luật sư, còn phúc thẩm… Trường hợp thứ hai nghiêm trọng hơn, cơ quan Tư Pháp không khách quan, và không tôn trọng Luật. Trường hợp này hay xảy ra trong kiện tụng giữa người dân và cơ quan Nhà Nước. Tư Pháp độc lập, khách quan, công bằng sẽ đảm bảo quyền Tự Do của người dân - nếu thật sự vô tội. Nhưng nếu Tư Pháp nằm trong quyền kiểm soát của Nhà Nước thì Tư Pháp bảo vệ Nhà Nước. Và sẽ có thể một người vô tội bị ép có tội, và mất Tự Do. Vậy để đảm bảo nhà nước pháp quyền, cũng là đảm bảo quyền Tự Do, thì Tư Pháp phải độc lập và đứng dưới Luật. Thậm chí nếu Tư Pháp cho rằng hành vi của ai đó là đáng tội, nhưng luật chưa quy định thì chỉ còn cách phản ánh với Lập Pháp. Muốn Tư Pháp độc lập, thì một lần nữa, lại phải có Dân Chủ mạnh. Dân phải được quyền giám sát, thậm chí thay thế Tư Pháp, thông qua Quốc hội. Các phiên tòa phải có những Luật sư tự do, không nằm trong các Hội đoàn này nọ, để họ bào chữa mà không bị sức ép nào. Khi đó, sẽ không còn các phiên tòa mà thậm chí thân nhân bị cáo không được vào trong, phải xem qua hệ thống tivi bên ngoài. Cũng không còn các phiên tòa mà “vừa đọc, vừa thảo luận cái 45 phút trong 15 phút” (2).
Nói thế vẫn chưa đủ. Để đảm bảo quyền Tự Do thì không thể quên vai trò của cơ quan Hành Pháp. Giả dụ như Công an nghi rằng một người nào đó có tội, công an có quyền bắt giam hay không. Câu trả lời là không. Cơ quan Hành pháp không được quyền bắt giam ai đó khi Tư Pháp chưa kết luận họ có tội. Tôi không rành về các thủ tục tạm giữ, tạm giam nên không dám bàn. Mọi người có thể tham khảo thêm qua bài viết của luật sư Lê Trần Luật về vấn đề này. Ở đây, người viết chỉ muốn nhấn mạnh rằng khi Tư Pháp chưa kết luận họ có tội thì Hành Pháp, dù nghi ngờ - thậm chí biết chắc họ có tội - phải đối xử với họ như người vô tội. Ngược lại, dù Hành Pháp có khăng khăng họ có tội chăng nữa, nhưng Tư Pháp, nếu không chứng minh họ phạm tội, vẫn phải tuyên bố vô tội. Đó chính là thể hiện sự độc lập giữa 2 cơ quan này. Nếu Hành Pháp tùy tiện, người dân có quyền kiện lên Tư Pháp. Nhưng ai dám kiện Công an! Trong khi hiện nay, công an còn tùy tiện mời người ta đi làm việc, mời không đi thì xông vào nhà khiêng đi luôn. Sau đó thả về mà không có một giấy tờ nào, thậm chí đồ đạc, tư trang cũng bị tịch thu. Xin nhắc lại rằng “cho dù Công An cho ai đó là có tội, vẫn phải cư xử như người vô tội – cho đến khi có phán quyết của Tòa”. Lại một lần nữa, để đảm bảo điều này, phải có Dân Chủ mạnh. Chỉ khi có Dân Chủ mạnh thì cơ quan Hành Pháp mới chịu nằm ở dưới Luật. Ngoài ra, bắt người, tịch thu tài sản, cắt điện thoại, khi chưa có án là sai đã hẳn; mà không thi hành án khi án đã tuyên cũng là vi phạm quyền Tự Do. Trên các báo lề phải, ta thường thấy tình trạng “độc lập” kỳ dị của Hành Pháp là không thèm thi hành án (3).
Trên đây là một số suy nghĩ và quan điểm về Tự Do và Pháp Quyền, lồng trong đó là vai trò của Dân Chủ (Dân Chủ thật sự). Tự Do là được làm tất cả những gì mình thích mà luật pháp không cấm. Để đảm bảo quyền Tự Do thì phải xây dựng Nhà Nước Pháp Quyền với 3 cơ quan Lập Pháp, Tư Pháp, Hành Pháp độc lập, nếu không thì “tam quyền nhất lập, đồng lòng hại dân” (4). Muốn được thế thì phải có xã hội Dân Chủ đủ mạnh, người dân bầu ra, kiểm tra và giám sát hoạt động của ba cơ quan này. Qua đó, có thể thấy rằng 3 khái niệm Dân Chủ, Tự Do, Pháp Quyền tỷ lệ thuận với nhau. Thậm chí, khi cả ba đều đạt độ chín, người viết còn cho rằng 3 khái niệm trên là một, DÂN CHỦ = TỰ DO = PHÁP QUYỀN.
Ở đâu có Dân Chủ thì ở đó có Tự Do và Nhà Nước Pháp Quyền. Ở đâu có Nhà Nước Pháp Quyền thì ở đó, quyền Tự Do được đảm bảo. Ở đâu ta thấy người dân được Tự Do, ta nói quốc gia đó có Dân Chủ v.v...
Và ngược lại, tất nhiên!

Chiêu chế biến thịt lợn thối ở Việt Nam

Một số cơ sở sản xuất vô lương tâm đã dùng đủ chiêu trò, thủ đoạn để biến thịt lợn chết, thịt thối thành các món ăn ngon lành như chả, ruốc, nem, bóng, bì... Thậm chí, họ còn có thể biến thịt ôi trở thành thịt tươi trong nháy mắt.




Lợn tai xanh làm chả, làm ruốc
Dù cả huyện Thuận Thành (Bắc Ninh) đã được khoanh là vùng dịch cần được kiểm soát chặt chẽ nhưng tình hình giết mổ, buôn bán thịt lợn vẫn diễn ra bình thường.
Theo một “đồ tể” chuyên giết mổ lợn tại đây, những ngày đầu dịch mới bùng phát, để tránh tình trạng lợn bị thú y giết rồi tiêu hủy với số tiền đền bù ít ỏi, nhiều gia đình đã “bán tống bán tháo” số lợn còn lại để “vớt vát” . To trên nửa tạ thì được lợn thu mua với giá 300.000-500.000 đồng/con. Sau khi thu mua, hầu hết lợn được thương lái đem ra Hà Nội tiêu thụ.
Theo tiết lộ của “đồ tể” này, thịt lợn ở vùng dịch không chỉ để bán ngay tại thời điểm hiện tại mà còn được chế biến để bán dần. “Chắc chắn sau khi hết dịch, giá thịt lợn và sản phẩm chế biến từ thịt lợn sẽ tăng. Chúng tôi cứ thu mua, có bao nhiêu mua bằng hết, một phần để bán thịt, phần lớn sẽ quay giò, chả, hay làm ruốc để bán dần. Nói chung là chả sợ ế”.
Thịt lợn thối thành bóng bì


Chủ cơ sở sản xuất bóng bì, mỡ lợn cho biết họ thu mua bì lợn ở khắp nơi, vì nguồn hàng không phải lúc nào cũng có nên nhiều khi người thu mua phải đợi gom được số lượng kha khá mới gửi xe lên, vì thế việc bì lợn đã có mùi ôi là không tránh khỏi.
Để giải quyết mùi khó chịu và sự chuyển màu của những miếng bì, các cơ sở sản xuất áp dụng “tuyệt chiêu” vô cùng đơn giản nhưng hiệu quả, đó là ngâm bì lợn trong nước ôxy già. “Phần lớn các cơ sở dùng chất tẩy trắng, chỉ hơn 10.000 đồng/kg, một muỗng nhỏ thuốc tẩy ngâm với 200 lít nước có thể tẩy trắng hàng tạ bì”, chủ cơ sở sản xuất tiết lộ.
Tại một cơ sở sản xuất bóng bì và mỡ lợn, nhiều đống bì lợn bèo nhèo, đã bốc mùi hôi thối “vứt” bừa bãi dưới nền giếng bẩn, ẩm ướt, phân gà, bụi than từ cái bếp than tự chế để rán mỡ ngay bên cạnh. Bì lợn thì được ngâm qua dung dịch để làm trắng, sau đó sấy khô thành bóng bì cung cấp cho các hàng lẩu, các cửa hàng bán đồ khô.
Nem chua Thanh Hóa làm từ bì lợn bẩn
Lực lượng chức năng đã phát hiện 2,5 tấn bì lợn không đảm bảo an toàn vệ sinh chuẩn bị bán cho các cơ sở làm nem chua trên địa bàn Thanh Hóa.
Qua kiểm tra đã phát hiện cơ sở sản xuất nem, giò, chả Anh Vũ do ông Lê Văn Vũ, ở số 07/19, đường Nam Sơn, phường Nam Ngạn (TP.Thanh Hoá) làm chủ có 2 tủ cấp đông chứa khoảng 2,5 tấn bì lợn không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, không có hợp đồng mua bán hàng hoá, không có hoá đơn chứng từ và không được kiểm định chất lượng vệ sinh thực phẩm.


Được biết, số hàng trên được ông Vũ nhập từ tỉnh Nam Định về trong khoảng thời gian tháng 12/2012 và được bảo quản trong tủ cấp đông. Bình quân mỗi ngày cơ sở này bán khoảng 50kg bì lợn dạng sợi cho các cơ sở sản xuất nem chua trên địa bàn TP. Thanh Hoá.
Thịt thối thành lạp xưởng
Đoàn kiểm tra liên ngành quận Bình Tân (TP.HCM) đã phát hiện tại cơ sở lạp xưởng An Bằng (phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân) sản xuất mất vệ sinh an toàn thực phẩm. Tại hiện trường, gần 1 tấn mỡ thối, thịt heo bốc mùi để la liệt dưới nền nhà dơ bẩn.
Chủ cơ sở không chứng minh được nguồn gốc số thịt lợn nguyên liệu. Bên cạnh đó, hàng chục tấn sản phẩm được đóng thùng chuẩn bị mang ra thị trường tiêu thụ. Dụng cụ chế biến thô sơ, cũ kỹ, cáu bẩn để khắp mọi nơi. Công nhân làm việc không sử dụng bảo hộ lao động, không có giấy chứng nhận sức khỏe.
Tùy thuộc vào làm nem, chả, lạp xưởng mà cho phụ gia theo công thức. Các loại phụ gia này được chủ cơ sở mua về từ chợ Kim Biên, không ai biết là chất gì. Tuy nhiên khi dùng nó thì hàng bảo quản được cả tháng mà không bị hư hại.
Mặc dù được sản xuất từ nguyên liệu bẩn, không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng nhưng các sản phẩm chả, lạp xưởng... vẫn được buôn bán công khai tại các chợ trên địa bàn TP.HCM.
Lợn bệnh thành thịt quay


Ngày 9/5/2013, lực lượng thú ý TP.HCM đã bắt giữ một chiếc xe khách 15 chỗ vận chuyển hơn 1,1 tấn thịt lợn bệnh trên đường vào thành phố để giao cho một xưởng sản xuất lợn quay.
Số thịt lợn trên đều không có giấy chứng nhận kiểm dịch cũng như bất kỳ giấy tờ liên quan, nhiều con thịt đã bị biến chất, xuất huyết ngoài da và bốc mùi hôi thối. Theo lời khai của tài xế, số hàng trên được thuê chở từ xã Gia Kiệm (huyện Thống Nhất, Đồng Nai) về giao cho một cơ sở chế biến heo quay ở quận 4 (TP.HCM).
Biến thịt thối thành thịt tươi
Nếu như các chiêu chế biến thịt chết thịt thối thành ruốc, chả, nem, bóng, bì... khiến người tiêu dùng hoang mang về chất lượng của đồ chế biến sẵn thì tuyệt chiêu “hô biến” thịt thối thành thịt tươi lại càng làm cho người tiêu dùng mất lòng tin vào chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm ngay cả với những loại thực phẩm được tận mắt nhìn thấy độ tươi ngon.
Miếng thịt đã để 3 ngày buộc kín trong nilon, bốc mùi thiu thối, phần mỡ chuyển sang màu vàng. Lấy một ít nước trong, cho 1 thìa bột săm pết vào rồi hòa cho tan. Cho miếng thịt đã bốc mùi khủng khiếp, chuyển màu vào nước có pha bột săm pết. Khoảng 2 phút sau, miếng thịt đã thay đổi. Thịt trở nên mềm, màu sắc tươi mới. Ngay cả màu vàng trên mỡ cũng biến mất. Đến cả mùi thịt thối cũng không còn.
Nhị Anh (tổng hợp)

Bắt lò sản xuất rượu Chivas, Hennessy... giả

Theo cơ quan công an, khoảng một tháng nay, Bắc sản xuất rượu ngoại giả bằng phương thức dùng các loại rượu rẻ tiền pha với màu, cồn đóng vào những vỏ chai rượu ngoại
Phòng CSĐT tội phạm về kinh tế chức vụ (PC46) Công an TP.HCM cho biết sáng 28-5 đã phối hợp với CA huyện Bình Chánh bắt quả tang Phạm Văn Bắc (39 tuổi, ngụ P.2, Q.8) đi xe máy vận chuyển 24 chai rượu Remy Martin giả.
Lực lượng chức năng tiến hành khám xét nơi Bắc sản xuất rượu giả tại địa chỉ C9/10AB Nguyễn Văn Linh (thuộc ấp 4A, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh) thu giữ nhiều dụng cụ làm rượu giả như nút chai, nắp, vỏ chai, vỏ hộp của nhiều loại rượu ngoại cùng cồn màu, máy sấy tóc…

Theo cơ quan công an, khoảng một tháng nay, Bắc sản xuất rượu ngoại giả bằng phương thức dùng các loại rượu rẻ tiền pha với màu, cồn đóng vào những vỏ chai rượu ngoại như Remy Martin, Chivas, Hennessy…
Sau đó, Bắc mang đi tiêu thụ ở các tỉnh với giá bán thấp hơn giá rượu thật từ 200.000 – 300.000 đồng/chai. Công an huyện Bình Chánh đã tạm giữ Bắc và tang vật để mở rộng điều tra.
Theo Tuổi trẻ

Trang