27 tháng 5, 2015

Cán bộ 'đất, đôla' và hạng nhất tủi hổ

Bây giờ, đội ngũ đó, có không ít vị lại là cán bộ 2Đ - đất, đôla, thì nước tuy độc lập nhưng… vận mệnh của sự phát triển sẽ ra sao?
Những ngày này, khi trên các báo điện tử, các trang mạng XH còn nóng hổi chuyện tiếp xúc cử tri, một trong những vấn đề được quan tâm nhất là tệ nạn tham nhũng, thì có một vấn đề khác cũng nổi bật không kém- đó là hiện tượng người Việt ăn cắp ở nước ngoài.
Tăng xin, giảm mua, tích cực cầm nhầm
Cứ tưởng cái “khẩu hiệu” vừa hài hước vừa tự chế giễu bản tính xấu của người Việt chỉ là của những năm tháng đói khổ đã lụi tàn. Không ngờ, những năm tháng này, khi mà đời sống vật chất của người Việt, ngay ở trong nước nói chung đã nâng cao đáng kể, thì ở một số quốc gia, nơi những giá trị văn minh hiện diện như một điều bất biến, có không ít người Việt ngụ cư ở đó học tập, lao động, sinh sống, cái khẩu hiệu vô duyên và lố bịch này bỗng sống vui, sống khỏe, sống…có ích cho những kẻ tham lam, tham vặt hơn lúc nào hết.
Dưới đầu đề “Nỗi đau đứng thứ nhất về… trộm cắp ở Nhật”, báo Một thế giới, ngày 17/5 đưa thông tin: Năm 2014, tổng số vụ việc phạm pháp do người nước ngoài gây ra ở Nhật là 15.215 vụ, có đến 2.488 vụ liên quan đến người VN, chiếm 16,3%. Số người nước ngoài bị cảnh sát Nhật bắt giữ là 10.689, trong đó người Việt là 1.548, chiếm 14,48%(!). Tính ra, số người Việt bị bắt ở Nhật chỉ đứng sau người Trung Quốc (hai quốc gia có tệ nạn tham nhũng đáng nể), nhưng nếu tính theo tỷ lệ dân số VN ít hơn TQ 15 lần, thì số lượng người Việt trộm cắp ở Nhật là nhất thế giới. Trong số đó, 54,2% trường hợp phạm tội là những người đang du học.
Biển cảnh báo bằng tiếng Việt được chụp lại trong một shop thời trang tại Nhật
Mà đâu chỉ có Nhật Bản? Singapore, Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan…, đều là những quốc gia mà cảnh sát có việc làm bất đắc dĩ với người Việt xung quanh chuyện tăng xin, giảm mua, tích cực cầm nhầm này.
Thành phần người Việt ăn cắp vặt cũng đa dạng vô kể. Không chỉ có những người Việt trẻ du học, mà còn có cả cán bộ thành đoàn đi học. Không chỉ có nam, mà có cả nữ. Không chỉ có người đi trên mặt đất, mà còn có cả phi công bay bổng trên trời xanh, cũng làm cánh tay nối dài cho những kẻ ăn cắp tại xứ người.
Bạn sẽ nghĩ gì, nếu đi công tác, hay du lịch xứ người, bất chợt bắt gặp những biển báo bằng chữ Việt cảnh báo người Việt ăn cắp?
Không chỉ thế, mà còn có cả những biển hiệu ở những nhà hàng ăn tự chọn (buffet), cảnh báo người Việt lấy đồ ăn quá nhiều, thừa mứa, bằng chữ Việt?
Chả lẽ, cái miệng tham ăn tham uống của người Việt nó…đói, theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng, tệ đến mức làm nhục cả thanh danh dân tộc Việt đến độ này?
Tham lam có thể là bản năng bẩm sinh của con người. Nhưng chắc chắn nó sẽ được chế ngự, thậm chí trở thành ý thức và lòng tự trọng, liêm sỉ một con người nếu được giáo dục chu đáo từ trong gia đình, đến nhà trường, nếu được sống trong môi trường XH lành mạnh, được điều chỉnh bởi luật pháp thượng tôn, để trở thành con người có văn hóa sống.
Và nếu soi rọi vào những điều nói trên, thì dường như tất cả những ‘cái nôi” văn hóa đó nuôi dưỡng tâm tính, phẩm cách người Việt đều đang có vấn đề?
Trong kho tàng ca dao, tục ngữ VN từ cổ xưa, có biết bao câu ca dao, lời hay ý đẹp răn dạy người Việt sống cho đàng hoàng: Giấy rách giữ lấy lề/ Đói cho sạch rách cho thơm…. Nhưng người viết bài có thể khẳng định một điều- giáo dục gia đình, nằm trong mắt xích gia đình- nhà trường- xã hội, luôn là mắt xích lỏng lẻo nhất, yếu ớt nhất, cho dù bậc cha mẹ nào cũng rất thương yêu con. Có điều, thương yêu và biết giáo dục con lại là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau.
Nhà trường là môi trường được trao sứ mệnh dạy người. Cũng tiếc thay, ngành giáo dục nước Việt, vắt từ thế kỷ 20 sang thế kỷ 21, đến giờ, vẫn loay hoay trong vòng cương tỏa: Học để thi, chưa phải học làm người.
Học để thi, chưa phải học làm người
Sản phẩm yếu ớt của giáo dục- người Việt trẻ- khi ra đời, lại sống trong một môi trường XH mà tệ nạn hối lộ, mua quan bán tước, tham nhũng vặt, tham nhũng lớn hoành hành. Họ sẽ suy nghĩ, nhận thức và soi mình ra sao trước những tấm gương mờ, xám xịt lòng tham? Hay rồi chính họ cũng tự diễn biến trở thành những kẻ tôn sùng lối sống chỉ có đồng tiền là trên hết?
Môi trường XH nào cũng cần có pháp luật thượng tôn, điều chỉnh lối sống của con người. Thế nhưng nếu hệ thống tư pháp trong XH, do đặc thù tổ chức, còn phải chịu quá nhiều áp lực chi phối, thì rút cục cán cân công lý nước Việt… nghiêng về đâu? Người Việt trẻ sẽ đặt niềm tin còn đầy biến động của họ vào đâu để miễn dịch trước cái xấu?
Đó là những nguyên nhân sâu xa.
Nhưng có một nguyên nhân trực tiếp, trước mắt và quan trọng không kém trong cái hiện tượng ăn cắp vặt xấu hổ này. Đó là sự quản lý lỏng lẻo, thả nổi các mặt hàng gọi là “xách tay” ở trong nước. Loại hình kinh doanh này đang có xu hướng ngày càng phình to, len lỏi trong đời sống con người thời IT, cũng đã trở thành một cánh tay nối dài cho những kẻ ăn cắp, buôn gian bán lận người Việt tại xứ người. Không phải vô lý khi có ý kiến cho rằng, cần ngăn chặn các loại hình kinh doanh trốn thuế và bất hợp pháp kiểu này trong nước, sẽ chặn được những hiện tượng ăn cắp, trộm cắp của người Việt ở xứ người.
Có thể, hiện tượng này chỉ là của một số người Việt tham lam, thiếu tự trọng. Nhưng nó diễn ra liên tục, ở nhiều quốc gia văn minh, vô tình thành một “tập hợp hình ảnh” cực xấu và đáng hổ thẹn về người Việt. Đó mới chính là nỗi tủi nhục và đáng bất bình nhất cho đa số người Việt chính trực trong nước và nước ngoài.
Xin đừng cạn nghĩ, đừng tưởng rằng, cái cách ăn cắp vặt, khôn ranh ma mãnh kiểu đó không làm hại đến thanh danh đất nước nếu không ai biết.
Có một dạo, các trang mạng xôn xao về phát biểu của một giám đốc người Nhật ở một công ty liên doanh tại VN. Xin được trích đăng lại:Các anh (người VN) chỉ biết nghĩ đến lợi lộc nhỏ của cá nhân mà không quan tâm đến cái lợi lớn của tập thể. Một cái vít chúng tôi phải mang từ Nhật sang giá 40.000 đ mà rơi xuống đất thì công nhân VN các anh thản nhiên dẫm lên hoặc đá lăn đi mất chỉ vì nó không phải của các anh.Nhưng các anh đánh rơi điếu thuốc đang hút dở giá 1000 đ thì các anh sẵn sàng nhặt lên hút tiếp cho dù nó có bị bẩn, chỉ vì nó là của các anh. Cuộn cáp điện chúng tôi nhập về với giá vài triệu/m,nhưng các anh cắt trộm bán được có vài trăm nghìn/m.
Tất cả những việc đó mang lại chút lợi lộc nhỏ cho các anh nhưng gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp, vì chúng tôi phải nhập bổ sung hoặc nhập thừa so với cần thiết. Các anh nên biết rằng, lẽ ra chúng tôi có thể trả lương cao hơn hoặc tăng lương nhiều hơn cho các anh. Nhưng đáng phải tăng lương cho các anh 500.000 đ,thì chúng tôi chỉ tăng 200.000 đ. Còn 300.000 đ thì chúng tôi phải giữ lại để chi trả bù đắp cho những trò vụn vặt, gian dối hay phá hoại của các anh. Cuối cùng là tự các anh hại các anh mà thôi.
Đọc mà thấy đỏ đến tận chân tóc. Điều người giám đốc Nhật biết quá rõ tâm lý khôn vặt, chỉ biết mỗi bản thân mình của người Việt- cái tâm thế của kẻ quen làm thuê và không vì người khác. Cũng tức là chưa bao giờ có thể vì cộng đồng mình, vì XH mình. Mà như vậy, đất nước mãi mãi phận… đi sau.
Cán bộ 2 Đ và cơ chế công khai minh bạch?
Có một vấn đề, thuộc loại biết rồi khổ lắm, nói mãi, mà những ngày này, lại được xới lên. Đó là tham nhũng và chống tham nhũng.
Nói cho công bằng, khi nhận ra hậu họa của loại giặc “nội xâm” này, nước Việt đã bao lần vào cuộc, tìm kiếm bao giải pháp, huy động trí tuệ, sức dân, “sức mạnh của hệ thống chính trị” để chiến đấu chống lại loại giặc… chết người.
Gọi là chết người, là bởi loại “giặc” này nghênh ngang mũ áo ngựa xe, mà người dân không biết ẩn nấp ở đâu. Chỉ khi thành án cụ thể, người ta mới có thể trông mặt bắt hình dong. Còn bình thường, có khi bắt tay với “giặc”, “chăm phần chăm” với “giặc”, hỉ hả cười nói với “giặc” mà chả hay. Đó là đặc điểm sang trọng của “giặc nội xâm”.
Những thông tin tổng hợp mới đây của cơ quan chống tham nhũng lớn nhất, cho thấy những kết quả phòng chống tham nhũng bước đầu: Từ năm 2013 đến nay, Ban Chỉ đạo đã trực tiếp theo dõi, chỉ đạo các cơ quan chức năng xử lý 04 vụ việc, 16 vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, đến nay đã xét xử sơ thẩm 09 vụ/90 bị cáo, với 08 án tử hình (07 đối tượng), 09 án chung thân, một đối tượng 30 năm tù, 06 đối tượng 20 năm tù...(Chinhphu.vn, ngày 15/5).
Chính vì thế, nỗi nhức nhối không phải của riêng ai.
Tham nhũng luôn là vấn đề gây bức xúc
Báo VietNamNet, ngày 15/5 đưa tin, tại cuộc tiếp xúc với người đứng đầu nước, cử tri Q1, t/p HCM "khi nói về cán bộ, thì họ cho rằng bây giờ phần lớn là các cán bộ 2Đ - cán bộ đất và đô la thôi”, một khái niệm mới về cán bộ tha hóa thời kinh tế thị trường. Người đứng đầu đất nước cũng phải thẳng thắn thừa nhận: Đây là một điều hết sức day dứt, ai cũng bức xúc cả. Tôi cũng xin khẳng định lại những điều mà người dân nói là có thật. Chắc chắn rằng những ông bà 2Đ này phải đưa ra ngoài!
Cán bộ là cái gốc của mọi việc. Khái niệm đó không hề mới mẻ gì. Nó đã được minh chứng từ lúc vận mệnh đất nước như ngàn cân treo trên sợi tóc, vượt qua muôn ngàn hiểm nguy, giành tự do độc lập, nhờ có nhân dân và đội ngũ cán bộ “vì nước quên thân”. Vậy nhưng bây giờ đội ngũ đó, có không ít vị lại là cán bộ 2Đ. Thì nước tuy độc lập nhưng … vận mệnh của sự phát triển sẽ ra sao?
Để chống lại loại giặc “nội xâm” quý tộc này, nước Việt đã có quá nhiều giải pháp.
Cơ quan chống tham nhũng lớn nhất vừa đề xuất 10 nhiệm vụ lớn. Đó làtiếp tục hoàn thiện thể chế về quản lý kinh tế - xã hội để phòng ngừa tham nhũng và các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng, tạo sức mạnh, áp lực xã hội trong đấu tranh chống tham nhũng. Kiểm tra, giám sát, đôn đốc công tác phòng, chống tham nhũng tại 04 bộ và 10 tỉnh, thành, v.v… và v.v…
Người dân cũng được huy động vào cuộc chống tham nhũng với mức tiền thưởng trên trời- 3,4 tỷ đồng. Đủ biết cuộc chiến này khó khăn và… đắt giá đến độ nào.
Thậm chí, phía ngành tư pháp, mới đây Dự thảo mới nhất của Bộ luật Hình sự sửa đổi (dự thảo lần thứ 5) còn đưa ra quan điểm, các đối tượng tham nhũng chỉ cần nộp lại một nửa số tiền tham nhũng là có thể thoát khỏi án tử hình. Cũng là một cách khuyến khích tham nhũng… “hoàn lương” (tuy nhiên dự thảo này đã gây ra những tranh luận, bất đồng quan điểm gay gắt).
Và quan trọng nhất, là chủ trương kê khai tài sản các quan chức trong diện đối tượng.
Trả lời phỏng vấn của VOV.VN, ngày 18/5, ông Lê Quang Thưởng - nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tổ chức TƯ cho rằng, "có người kê khai đúng, có người đưa những tài sản cho vợ, con, cháu, rể đứng tên, vậy thì chúng ta phải làm rõ khối tài sản ấy nằm ở đâu. Vì vợ, con, cháu của các cán bộ lãnh đạo không thể bỗng dưng giàu có được. Giàu chính là tiền của người cán bộ đó đưa cho vợ, con, cháu; hoặc người cán bộ đó tạo điều kiện cho con, cháu làm ăn phi pháp, buôn lậu, núp dưới những bóng “minh quân” nào đó để được mua cổ phiếu, tham gia cổ phần các doanh nghiệp, làm chủ hoặc tham gia lãnh đạo ngân hàng...
Phải phát động dân chủ hóa, công khai vấn đề chi tiêu, lương bổng, phụ cấp và những quyền lợi của người cán bộ. Có cán bộ có cổ phần ở ngân hàng nhiều tỷ đồng không rõ nguồn gốc phát sinh hợp pháp, hoặc lĩnh lương trên dưới cả trăm triệu đồng không xứng đáng với đóng góp cá nhân, thì điều đó là vô lý".
Quan điểm như vậy là khá rõ ràng. Tuy nhiên xét cho cùng, tư duy của các giải pháp vẫn có phần nặng về duy ý chí.
Phải nói thẳng, đã qua rồi cái thời phát động phong trào, tuyên truyền, vận động con người tự giác làm theo… Đã là thời sống và làm việc theo hiến pháp, pháp luật, thì một công cuộc lớn như chống tham nhũng chắc chắn phải có những giải pháp định lượng, không thể mãi theo cách định tính.
Tình cảm người dân chống tham nhũng là đáng quý, đáng trọng, nhưng cả một bộ máy chính quyền, cơ quan chức năng, thanh tra, kiểm tra đồ sộ, mà chống không xuể, nói chi đến người dân chỉ có hai tay không, làm sao "bắt giặc"?
Việc kê khai tài sản các vị thuộc diện đối tượng sẽ trở nên vô nghĩa, nếu như về bản chất, nhà nước, cơ quan chức năng không nắm được rõ ràng minh bạch nguồn gốc tài sản đó từ đâu ra? Thì việc kê khai đó, xét cho cùng vẫn không phải là công khai minh bạch.
Nếu như pháp luật, vẫn phải chịu đựng đủ thứ áp lực, thì công lý sẽ… đứng đâu cho đúng vị thế thượng tôn?
Và nước Việt đang đứng ở đâu trong con mắt nhân loại thời hiện đại và văn minh?

25 tháng 5, 2015

Việt Nam tiêu tùy tiện: Năm nào cũng giải ngân "khẩn cấp"


Chi tiêu tùy tiện biểu hiện sự thiếu nghiêm minh của pháp luật và tính tham lam của một bộ phận công chức 
PGS.TS Nguyễn Hồng Nga - Phó trưởng Khoa Kinh tế, Trưởng bộ môn Kinh tế học, ĐH Kinh tế - Luật ĐHQG TP.HCM nêu quan điểm.
PV:- Thưa ông, tại buổi tọa đàm góp ý kiến sửa đổi dự thảo Luật ngân sách nhà nước, một lần nữa các chuyên gia phải thốt lên "Việt Nam tiêu tiền tùy tiện nhất thế giới". Trước đó, cũng nhiều chuyên gia đã nêu những dẫn chứng người Việt tiêu hoang hơn cả Mỹ: chi tiếp khách, hội họp.... Ông bình luận thế nào trước những ý kiến trên? Theo ông, liệu đó có phải biểu hiện của tính hiếu khách truyền thống của Việt Nam hay không? 
PGS.TS Nguyễn Hồng Nga: - Đúng là ở VN tiêu tiền tùy tiện hàng đầu thế giới. Không chỉ từ chiếc bánh Ngọt mang tên NSNN mà người dân cũng chi tiêu lãng phí. Nhiều cơ quan nhà nước, đến hẹn phải chạy để mà chi tiêu, chứ không sang năm bị cắt kinh phí vì “tội” không tiêu hết tiền. Vì thế, cuối năm, hàng loạt hội thảo các cấp được tiến hành “khẩn cấp” để giải ngân các khoản mục đã được duyệt chi từ NSNN. 
Người dân thì xài sang, sính hàng ngoại, chi tiêu hoang phí, không hiệu quả.
Cũng có thể nói, đây là biểu hiện một phần nào đó tính hiếu khách truyền thống của người Việt từ xa xưa, nhất là người Nam bộ.
Tuy nhiên trong thời đại công nghệ hiện nay, việc chi tiêu tùy tiện biểu hiện sự thiêu nghiêm minh của pháp luật và tính tham lam của một bộ phận cán bộ. Đây là lỗ hổng thể chế cần phải được lấp trong thời gian ngắn nhất. 
Ảnh minh họa
PV:- Xét về vấn đề chi tiêu ngân sách, sự lãng phí này có hậu quả như thế nào: lãng phí lớn nguồn thu hay tạo nên tâm lý chi tiêu tủy tiện tiền ngân sách (mà thực chất là tiền đóng thuế của người dân)? 
PGS.TS Nguyễn Hồng Nga: - Sự lãng phí trong chi tiêu công gây ra nhiều hệ quả tương đối nghiêm trọng.
Thứ nhất, đây là nguồn thu từ thuế, nên cần phải sử dụng hiệu quả để người dân được hưởng lợi ích từ những đồng thuế từ thu nhập của mình. Sử dụng tùy tiện là có lỗi với người dân.
Thứ hai, thay vì tiền thuế được đầu tư hiệu quả, sự lãng phí trong chi tiêu sẽ gây ra hiệu ứng sài tiền vô tội vạ và không có trách nhiệm của các cơ quan nhà nước.
Thứ ba, việc lãng phí nguồn lực và không sử lý việc chi tiêu vô tội vạ sẽ làm cho quan chức nhà nước trở nên tắc trách, hành động vì lợi ích cá nhân chứ không vì mục đích cộng đồng và xã hội.
Thứ tư, sử dụng lãng phí NSNN sẽ làm cho chất lượng tăng trưởng không được bảo đảm, tiền đáng lẽ của dân phải trở lại cho người dân thì chui vào một số cá nhân có chức quyền, bổng lộc.
Thứ năm, tạo ra một lớp người giàu có không dựa trên tinh thần kinh doanh khởi nghiệp mà dựa vào tiền chùa. Điều này tác động tiêu cực đến động cơ học tập và làm việc của giới trẻ hiện nay. 
PV:- Có chuyên gia cho rằng, sự lãng phí cho tiếp khách, hội họp... như trên không đáng kể gì so với nhiều dự án ngàn tỉ đang bị bỏ hoang, chi phí làm đường cao tốc đắt hơn Mỹ, công trình hoành tráng quá cỡ, lãng phí nhiều nhất trong đầu tư công... nhưng chính sự tùy tiện trong việc dùng ngân sách là căn nguyên của những lãng phí lớn hơn nói trên. Ông có đồng tình với ý kiến đó không và vì sao?
PGS.TS Nguyễn Hồng Nga: - Tôi chưa hoàn toàn đồng ý với ý kiến trên, nếu có một tính toán sau đây. Với giả định chi tiêu cho tiếp khách, hội họp chiếm khoảng 10% NSNN, chúng ta có thể tính toán được số tiền là 130 ngàn tỷ, tương đương với hơn 6 tỷ đô la.
Nếu chi tiêu cho đầu tư phát triển chiếm khoảng 25% chi tiêu công thì số chi tiêu này vào khoảng 325 ngàn tỷ, tương ứng với khoảng 15.5 tỷ đô la. Nếu tỷ lệ thất thoát trong đầu tư công vào khoảng 40% thì số tiền lãng phí vào khoảng hơn 6 tỷ đô la. Con số này đúng bằng chi tiêu cho tiếp khách, hội họp…
Đành rằng, những công trình hoành tráng, những dự án ngàn tỷ sẽ có tác động làm tăng GDP và sẽ được đưa vào sử dụng sớm muộn, nhưng chính vì sự tùy tiện trong việc sử dụng tiền từ NSNN là căn nguyên của việc lãng phí vô tùy tiện nói trên. Đúng như các cụ nói: nghèo mà chơi sang. Chỉ số hiệu quả đầu tư công của VN rất cao, ICOR của khu vực nhà nước vào khoảng 8.

Việt Nam nợ quá hạn nước ngoài hơn 310 triệu USD

Tác giả: Phương Linh- Chí Hiếu
Các khoản nợ quá hạn chưa thanh toán gồm 214,5 triệu USD của Vinashin (nay là SBIC) và 96,4 từ các dự án khác.
Theo báo cáo của Kiểm toán Nhà nước vừa công bố tháng này, đến cuối năm 2013, tổng giá trị các khoản vay nước ngoài được Chính phủ cho vay lại đạt 12,14 tỷ USD. Trong đó, các khoản nợ quá hạn chưa thanh toán đạt 310,9 triệu USD, chủ yếu là từ Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin), nay là Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (SBIC), trị giá 214,5 triệu USD. Số còn lại là của 62 dự án đã bị xử lý theo thủ tục phá sản, đang cơ cấu lại nợ, khoanh nợ hoặc chờ bán tài sản để thu nợ…
Tổng dư nợ các dự án có nợ quá hạn đạt hơn 1,26 tỷ USD, chiếm hơn 10% tổng dư nợ cho vay lại, gồm 1,02 tỷ USD từ Vinashin và gần 240 triệu USD của các dự án.
“Kết quả kiểm toán cho thấy việc đối chiếu với các cơ quan cho vay lại chưa được Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) thực hiện kịp thời, còn tình trạng Ngân hàng Phát biểu (VDB) trả nợ, lãi về quỹ tích lũy theo quý hoặc theo tháng, không đúng thời hạn quy định tại hợp đồng cho vay lại”, báo cáo nêu.
Số nợ quá hạn từ Vinashin vẫn đang tạo áp lực lên các khoản vay của Việt Nam.
Liên quan đến nợ công, một lần nữa Kiểm toán Nhà nước nhắc lại câu chuyện Bộ Tài chính đã thống kê, tổng hợp số liệu nợ công chưa kịp thời, đầy đủ. Việc báo cáo thừa, thiếu một số khoản vay dẫn đến số liệu nợ công đến 31/12/2013 giảm 25,28 tỷ đồng so với số báo cáo tại báo cáo về các chỉ tiêu giám sát nợ năm 2013.
Công tác tổ chức và quản lý nợ công vẫn chưa được tập trung thống nhất theo quy định của Luật Quản lý nợ công, thiếu sự gắn kết chặt chẽ giữa khâu huy động vốn với tổ chức thực hiện và trả nợ vay, dẫn đến bị động trong việc cân đối nguồn trả nợ cũng như khuyến khích sử dụng vốn vay hiệu quả, tiết kiệm. Việc tổng hợp số liệu nợ công theo một đầu mối thống nhất còn khó khăn, dẫn đến sai sót. Hệ thống mẫu biểu báo cáo về nợ công chưa đáp ứng yêu cầu quản lý và chưa được các đơn vị tham gia quản lý nợ công lập đầy đủ hoặc gửi kịp thời.
Báo cáo của Bộ Tài chính cho hay tổng dư nợ công đến 31/12/2013 theo Luật quản lý nợ công là gần 2 triệu tỷ đồng, bằng 54,5% GDP, tăng gần 19% so với năm 2012. Cơ cấu nợ của Chính phủ tiếp tục thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng nợ vay trong nước, giảm tỷ trọng nợ vay nước ngoài.
Cuối năm 2013, dư nợ nước ngoài của Chính phủ tương đương 763.198 tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2012. Dư nợ vay trong nước đạt 764.933 tỷ đồng, tăng 39%.
Về nợ nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh, dư nợ đạt 188.486 tỷ đồng, tăng 24% so với năm 2012. Tuy đây không phải là các khoản do Chính phủ trực tiếp đi vay, nhưng kiểm toán cũng cảnh báo một phần có nguy cơ biến thành nghĩa vụ trực tiếp của Ngân sách Nhà nước. Nguyên nhân là quá trình xây dựng, thẩm định và phê duyệt dự án không sát thực tế, đầu tư không đồng bộ, triển khai chậm, một số doanh nghiệp chưa có nhiều kinh nghiệm trong quản trị chi phí, rủi ro hối đoái, dòng tiền… dẫn đến việc sử dụng vốn vay chưa hiệu quả…
Tại thời điểm thẩm định cấp bảo lãnh, hầu hết các chủ dự án chỉ cam kết sẽ đảm bảo tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu bằng 20% tổng vốn đầu tư, song chưa báo cáo đầy đủ tiến độ góp vốn chủ sở hữu trong quá trình triển khai dự án. 38 dự án đã hoàn thành rút vốn và nghiệm thu quá 6 tháng đều chưa đăng ký tài sản đảm bảo. Các chủ đầu tư dự án thực hiện chế độ báo cáo không kịp thời, đầy đủ theo quy định, một số dự án nộp phí bảo lãnh chậm hoặc khó khăn chưa nộp phí bảo lãnh.
Trong nước, số dư nợ được Chính phủ bảo lãnh đạt 207.576 tỷ đồng, tăng 8% so với năm 2012. Trái phiếu được bảo lãnh Chính phủ phát hành có kỳ hạn ngắn (2-5 năm), trong khi không ít dự án có thời gian cho vay kéo dài từ 5-12 năm, dẫn đến rủi ro mất cân bằng kỳ hạn giữa huy động và cho vay, làm tăng hạn mức bảo lãnh phát hành trái phiếu để đảo nợ hoặc rủi ro nghĩa vụ nợ dự phòng do ngân sách gánh chịu.
Báo cáo cũng phản ánh vệc quản lý nợ chính quyền địa phương chưa được kiểm soát chặt chẽ, chưa có chế tài xử lý đối với các trường hợp vi phạm. Đến 31/12/2013, nợ của chính quyền địa phương là 30.016 tỷ đồng, không bao gồm khoản vay VDB 22.760 tỷ đồng. Theo Kiểm toán Nhà nước, Bộ Tài chính tổng hợp nợ chính quyền địa phương theo số liệu báo cáo của các địa phương, không nắm đầy đủ, chính xác nợ của chính quyền địa phương và giới hạn vay nợ theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước.
Số dư quỹ tích lũy trả nợ nước ngoài đến cuối năm 2013 đạt 49.885 tỷ đồng. Nhưng theo Kiểm toán Nhà nước, việc lập kế hoạch chi hoàn trả ngân sách từ quỹ không sát thực tế; chuyển trả ngân sách các khoản trả nợ nước ngoài vay về cho vay lại không kịp thời; chưa theo dõi nguồn hình thành tài sản, nguồn hình thành và cơ cấu hình thành quỹ; không đánh giá lại số dư các khoản ngoại tệ tại thời điểm cuối kỳ kế toán…

Đừng tưởng

Tác giả: theo FB Hao Anh Pham
Đừng tưởng cứ núi là cao.. Cứ sông là chảy, cứ ao là tù
Đừng tưởng cứ dưới là ngu.. Cứ trên là sáng cứ tu là hiền
Đừng tưởng cứ đẹp là tiên.. Cứ nhiều là được cứ tiền là xong
Đừng tưởng không nói là câm.. Không nghe là điếc không trông là mù
Đừng tưởng cứ trọc là sư.. Cứ vâng là chịu cứ ừ là ngoan
Đừng tưởng có của đã sang.. Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây
Đừng tưởng cứ uống là say.. Cứ chân là bước cứ tay là sờ
Đừng tưởng cứ đợi là chờ.. Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần
Đừng tưởng cứ mới là tân.. Cứ hứa là chắc cứ ân là tình
Đừng tưởng cứ thấp là khinh.. Cứ chùa là tĩnh cứ đình là to
Đừng tưởng cứ quyết là nên.. Cứ mạnh là thắng cứ mềm là thua
Đừng tưởng cứ lớn là khôn… Cứ bé là dại, cứ hôn… là chồng
Đừng tưởng giàu hết cô đơn.. Cao sang hết ốm, tham gian hết nghèo
Đừng tưởng cứ gió là mưa.. Bao nhiêu khô khát trong trưa nắng hè
Đừng tưởng cứ hạ là ve.. Sân trường vắng quá ai khe khẽ buồn…
Đừng tưởng thu lá sẽ tuôn.. Bao nhiêu khao khát con đường tình yêu.
Đừng tưởng cứ thích là yêu.. Nhiều khi nhầm tưởng bao điều chẳng hay
Đừng tưởng vua là anh minh.. Nhiều thằng khốn nạn, dân tình lầm than.
Đừng tưởng đời mãi êm đềm.. Nhiều khi dậy sóng, khó kềm bản thân.
Đừng tưởng cười nói ân cần.. Nhiều khi hiểm độc, dần người tan xương.
Đừng tưởng trong lưỡi có đường.. Nói lời ngon ngọt mười phương chết người
Đừng tưởng cứ chọc là cười.. Nhiều khi nói móc biết cười làm sao
Đừng tưởng khó nhọc gian lao.. Vượt qua thử thách tự hào lắm thay
Đừng tưởng cứ giỏi là hay.. Nhiều khi thất bại đắng cay muôn phần
Đừng tưởng nắng gió êm đềm.. Là đời tươi sáng hóa ra đường cùng
Đừng tưởng góp sức là chung.. Chỉ là lợi dụng lòng tin của người
Đừng tưởng cứ tiến là lên.. Cứ lui là xuống, cứ yên là nằm
Đừng tưởng rằm sẽ có trăng.. Trời giăng mây xám mà lên đỉnh đầu
Đừng tưởng cứ khóc là sầu.. Nhiều khi nhỏ lệ mà vui trong lòng
Đừng tưởng cứ nghèo là hèn.. Cứ sang là trọng, cứ tiền là xong.
Đừng tưởng quan chức là rồng
Đừng tưởng dân chúng là không biết gì.
——————– ☆☆☆☆☆ ——————–
Đời người lúc thịnh, lúc suy
Lúc khỏe, lúc yếu, lúc đi, lúc dừng.
Bên nhau chua ngọt đã từng
Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau.
Ở đời nhân nghĩa làm đầu
Thủy chung sau trước, tình sâu, nghĩa bền.
Ai ơi nhớ lấy đừng quên…!

Đảng CSVN có xa rời mục tiêu Chủ nghĩa Xã hội hay không?

Sẽ không trình Quốc hội VN phương án lấy lại tên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, với lý do việc thay đổi tên nước trong thời điểm này sẽ dẫn đến những hệ quả không có lợi, thậm chí bị xuyên tạc là đang xa rời mục tiêu tiến lên CNXH.
Vậy hiện tại, Đảng CSVN có xa rời mục tiêu CNXH như đã ghi trong cương lĩnh hay không? Dư luận nói gì về điều này?
Cương lĩnh và Điều lệ chính thức hiện nay khẳng định, Đảng CSVN lấy chủ nghĩa Marx-Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng. Với mục đích xây dựng một nước VN dân chủ, giàu mạnh theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN) và thực hiện lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.
Theo Chủ nghĩa Marx-Lenin, thì Chủ nghĩa Xã hội (CNXH) là những tư tưởng chính trị ủng hộ một hệ thống kinh tế - xã hội mà trong đó việc sở hữu các tài sản là của toàn dân, nhằm mục đích thiết lập sự công bằng và không chấp nhận chế độ người bóc lột người như trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
Tuy vậy ở Việt nam hiện nay, Đảng CSVN đang cố gắng hướng mọi mặt kinh tế, xã hội, giáo dục văn hóa… của VN theo xu hướng Kinh tế thị trường, thậm chí họ còn đề nghị các quốc gia phát triển công nhận VN là một quốc gia có nền Kinh tế thị trường hoàn chỉnh.
Theo báo Dân trí cho biết, Chủ nhiệm UB Pháp luật của Quốc hội, ông Phan Trung Lý cho biết, sẽ không trình Quốc hội phương án đổi tên nước, lấy lại tên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Với lý do việc thay đổi tên nước trong thời điểm này sẽ dẫn đến những hệ quả không có lợi, thậm chí bị xuyên tạc là đang xa rời mục tiêu tiến lên CNXH và làm phát sinh nhiều thủ tục hành chính, gây tốn kém, phức tạp.
Bình luận về vấn đề này, TS. Nguyễn Quang A nguyên Viện trưởng Viện phản biện IDS nhận định: “Tôi nghĩ rằng rất là dễ hiểu, tình hình đang rất là khó khăn thì việc xới lên quốc hiệu thì nó là cái việc khó đối với họ. Thực sự tôi nghĩ rằng, đó không phải là việc khẩn cấp nhất bây giờ, cho nên họ đã lựa chọn một phương án trung dung nhất. Có lẽ vấn đề ấy sẽ được xới lại trong phiên đầu tiên hay một vài phiên họp đầu tiên của Quốc hội mới, mà sẽ bắt đầu khoảng hơn một năm nữa.”
Theo báo Nhân dân, GS. Nguyễn Đức Bình, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương đã bày tỏ sự lo ngại về việc Đảng CSVN đã và đang đi chệc đường lối. Ông cho rằng: "Không thể vừa là chiến sĩ cộng sản lấy việc xóa bỏ chế độ bóc lột làm lý tưởng đời mình, lại vừa làm ông chủ tư bản lấy bóc lột lợi nhuận làm lẽ sống. Thật vô cùng nghịch lý khi nghĩ rằng kết nạp cả tư sản để mở rộng cơ sở xã hội, cơ sở quần chúng cho cách mạng xã hội chủ nghĩa! Quần chúng công nông, các lực lượng vũ trang con em công nông sẽ hỏi chúng ta ngay: vậy các anh là Đảng của ai?".
Cộng sản, hay Phong kiến, Tư sản Đỏ?
Bức ảnh gây xôn sao một thời gian: Tổng bí thư đảng cộng sản VN, Nồng Đức Mạnh ngồi trên bộ nghê như ngai vàng tiếp Bí thư thứ nhất trung ương đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Xuân 2015.
Nói về việc thực hiện cương lĩnh của Đảng CSVN hiện nay, TS. Nguyễn Quang A thấy rằng, Đảng CSVN trong suốt thời gian tiến hành đường lối xây dựng CNXH theo Chủ nghĩa Marx-Lenin đã phạm phải những sai lầm, mà bản thân Đảng CSVN cũng đã thừa nhận và cuối cùng đảng đã phải tiến hành đổi mới thông qua việc cải cách về kinh tế. Ông nói:“Họ vẫn phải bám víu vào những cái phao, mà thực sự những cái phao ấy đã tan rồi, lời nói thì họ nói như vậy nhưng trên thực tế là hoàn toàn ngược lại. Cái gọi là Chủ nghĩa Marx-Lenin về kinh tế là phải hủy diệt khu vực kinh tế tư nhân, sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất v.v… và v.v… Và họ còn nói đến chuyện người bóc lột người này khác, thử hỏi ai làm chuyện người bóc lột người hiện nay? Chính những ông tư bản đỏ là những người bóc lột tàn bạo nhất.”
Trả lời câu hỏi, trên thực tế hiện nay Đảng CSVN vẫn đi theo đúng đường lối XHCN như trong cương lĩnh hay đã xa rời lý tưởng của mình?
Ở VN hiện nay vẫn không hề thấy cái gì là CNXH, Trung tá Nguyễn Nguyên Bình, một cán bộ quân đội đã nghỉ hưu nhận xét: “Bao nhiêu năm qua trong mắt tôi ở trên đất nước VN này, chả thấy cái chủ nghĩa xã hội, thế thì những cái đang thực hành ở VN có lẽ không phải là chủ nghĩa xã hội mà nó là một thứ gì đó mà tôi chả biết định nghĩa như thế nào?”.
Một khi đã chấp nhận đi theo nền kinh tế thị trường, chấp nhận kinh tế tư nhân tức là chấp nhận sự tồn tại của việc người bóc lột người, thì còn gì gọi là kiên định với CNXH. GS. TS. Mạc Văn Trang ghi nhận: “Bây giờ thì tiền hậu bất nhất, người ta nói lý tưởng là như thế nhưng trong thực tế nó lại sinh ra một cái xã hội trong đó phân hóa ra giàu nghèo, với những nhóm lợi ích càng giàu hơn và nhiều bất công hơn. Xã hội bây giờ ngày càng bộc lộ những cái hạn chế và những cái xấu hơn.”
Cùng một lúc, qua các phát biểu của các lãnh đạo hàng đầu của VN, cho thấy tồn tại song song hai khái niệm, Kinh tế thị trường Định hướng XHCN và Kinh tế thị trường hoàn chỉnh. Đây là một cái mẹo của những người lãnh đạo VN hiện nay, họ nói theo một cách nhưng thực hiện thì theo một cách khác. TS. Nguyễn Quang A khẳng định: “Trong thực tế, họ chẳng làm một chút gì theo hướng XHCN cả, mà họ đang xây dựng một thứ Chủ nghĩa Tư bản man rợ chứ không phải là một thứ Chủ nghĩa Tư bản văn minh. Toàn bộ hành động của họ là như vậy, hoạt động vì lợi ích của chính bản thân họ, chứ cũng chẳng cho gì mục đích của giai cấp công nhân hay nhân dân lao động.”
Đại tá Nguyễn Đăng Quang, một cán bộ công an đã nghỉ hưu thấy rằng, mục tiêu của CNXH là xây dựng một xã hội bình đẳng, mọi tư liệu sản xuất thuộc về sở hữu của toàn dân. Bây giờ, Đảng CSVN chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, tức là họ đã đang làm ngược lại với Chủ nghĩa Marx-Lenin. Đó là biến sở hữu toàn dân thành sở hữu tư nhân. Ông cho biết: “Hiện nay họ luôn nói giương cao ngọn cờ CNXH, nhưng trên thực tế một số cái là không đúng, không đáp ứng được đòi hỏi này. Vì CNXH thì không thể có các tập đoàn lợi ích sử dụng của cải của nhân dân, của toàn xã hội phục vụ cho riêng mình.”
Nói về lý do vì sao Đảng CSVN lo ngại của trước việc dư luận đánh giá cho rằng, họ đã và đang xa rời mục tiêu tiến lên CNXH theo cương lĩnh của mình. TS. Nguyễn Quang A giải thích: “Bởi vì đấy là một sự biện minh cho cái tính liên tục của một cái ý thức hệ, mà thực sự cái ý thức hệ ấy đã bị nhân dân vứt vào sọt rác. Tuy nhiên, về nội bộ thì họ vẫn cần đến cái đó để làm vũ khí đấu đá lẫn nhau và dùng nó làm một cái lý lẽ để yên lòng một số ít người ở cái tuổi rất là già.”
Trên thực tế đã cho thấy, cho đến nay Đảng CSVN đã hoàn toàn đưa mọi mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục… của VN theo xu hướng Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Điều đó đã chứng tỏ rằng, họ đã hoàn toàn xa rời con đường XHCN theo Chủ nghĩa Marx-Lenin như đã ghi trong cương lĩnh chính trị của Đảng CSVN. Dư luận cho rằng, mọi hành động biện minh của họ, chỉ nhằm duy trì quyền lãnh đạo độc tôn của Đảng CSVN mà thôi.
Anh Vũ/(RFA)

RẬM RÌ ‘RỪNG LUẬT’ (!)

Sự chồng chéo về luật, thông tư, nghị định đã làm cho luật pháp nước ta phức tạp là điều đương nhiên. Cái "đương nhiên" vô lý đó còn bị cộng hưởng bởi các văn bản giải thích mà mỗi địa phương, ban ngành đều vận dụng sự giải thích theo cách chẳng ai giống ai.
Phát biểu tại Hội nghị “Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật VN đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”, tổ chức tại Thành phố HCM ngày 16/5, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường nói rằng “Không có nước nào có hệ thống pháp luật phức tạp như VN, quá nhiều cơ quan được Quốc hội ủy quyền lập pháp. Vì chúng ta ở trong “rừng luật” nên việc chấp hành pháp luật của người dân càng khó khăn hơn. Cấp quản lý, cán bộ khi được hỏi một vấn đề nào đó chưa chắc trả lời ngay và chính xác được thì làm sao đòi hỏi người dân phải thông, phải hiểu pháp luật” (Thanh Niên, 16/5).
Mê hồn trận
Bộ trưởng Tư pháp đã nói khá rõ rằng nguyên nhân chủ yếu là do có quá nhiều cơ quan được ủy quyền lập pháp. Cha ông cũng nói rõ cái gì quá đều không tốt, kể cả cái sự tốt – ‘thái quá bất cập’.
Vậy, biết rõ như thế tại sao lại không đổi thay?
Từ thuở có nhà nước, các nhà lập pháp cổ xưa đã nhấn mạnh rất rõ và rất kỹ rằng luật pháp được sinh ra khi mỗi cá nhân (mỗi cơ quan) phải chấp nhận cái thiệt thòi riêng để phục vụ cho mục đích chung. Sự chồng chéo về luật, thông tư, nghị định đã làm cho luật pháp nước ta phức tạp là điều đương nhiên. Cái ‘đương nhiên’ vô lý đó còn bị phức tạp cộng hưởng bởi các văn bản giải thích mà mỗi địa phương, ban ngành đều vận dụng sự giải thích theo cách chẳng ai giống ai.
'Rừng luật' càng rậm, càng dễ làm theo 'Luật Rừng'
Chẳng hạn, tỉnh Đồng Nai đã vận dụng ‘vô cùng linh hoạt’ Luật Môi trường nên mới có chuyện dở khóc và cười ra nước mắt như bây giờ: Lấp sông thì đã lấp rồi, ‘móc đất’ lên hay cứ để đó ‘phục vụ du lịch’ như cách giải thích của chủ ngôi nhà lấn chiếm trái phép trên núi Hải Vân, là câu chuyện nhiều kỳ.
Hay như Điều 140 Luật Hình sự quy định ở khoản 4, mục (a) rằng nếu lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản từ 500 triệu đồng trở lên thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc phạt tù chung thân. Câu hỏi đặt ra là, nếu 500 triệu thì phạt tù 12 năm, vậy bao nhiêu là 20 năm, bao nhiêu là chung thân thì chỉ có quan tòa mới tự trả lời được(?)
Dẫn chứng mới nhất, một cơ quan huyện chi sai gần 01 tỷ đồng đi tham quan nước ngoài, 03 năm rồi chưa đòi lại được một đồng nào thì xử sao đây, hay lại ‘thả gà ra đuổi’, bởi chưa thấy ai cho rằng đó là một trong những cách thức để lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà chỉ giải thích là… chi sai (Đất Việt, 04/05)! Chi sai dẫn đến mất cả tỷ đồng tiền dân, của nước được đặt bên cái án ‘lạm dụng tín nhiệm’ làm mất 500 triệu phải chịu ít nhất 12 năm tù, quả là điều chập chênh khó chấp nhận…
Làm thế nào để xóa bỏ sự chồng chéo?
Chuyên môn hóa – chuyên trách hóa đại biểu Quốc hội là yêu cầu đầu tiên và, cũng là đòi hỏi đổi thay quan trọng nhất. Nó cho phép ĐBQH chuyên tâm, chuyên trí thực hiện vai trò chủ yếu của mỗi đại biểu là lập pháp. Như thế sẽ bớt đi sự ‘ủy quyền’.
Tất nhiên, đại biểu chuyên trách phải kèm theo điều kiện bắt buộc là phải tốt nghiệp ngành luật. Nếu không có chuyên môn về luật, làm sao có thể làm ra các điều luật theo đúng những đòi hỏi khe khắt, cẩn trọng của luật? Dĩ nhiên, vẫn tồn tại một số đặc thù trong cơ cấu của QH nhưng các ĐB đặc thù đó chỉ là số ít trong tổng số ĐBQH. Nước ta có 23.600 cơ quan có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật (trong đó cấp địa phương là 23.000), nhưng các văn bản đó luôn có tỷ lệ sai chiếm đến 13-14%, làm ảnh hưởng, xâm phạm đến lợi ích công dân (Thanh Niên, 16/5)!
Thứ hai, rất ít nước khi ban hành luật lại có văn bản, thông tư hướng dẫn. Lý do thật giản dị: Ngôn từ trong luật pháp phải ít mơ hồ nhất; các chế tài của mỗi điều luật phải được lập ra ngắn gọn nhất, khung hình phạt hẹp nhất; các quy định hay phạm vi khái quát của luật phải đạt đến mức độ đầy đủ nhất có thể và, cụ thể nhất có thể.
Thứ ba, khó có thể hình dung hàng chục ngàn cơ quan có thẩm quyền làm ra luật pháp. Sự chồng chéo, vênh nhau giữa các bộ, ngành, địa phương là không thể tránh khỏi. Nguyên tắc của nhà nước pháp quyền đòi hỏi với cấp độ ưu tiên cao nhất là phải quy về một mối. Chỉ có ĐBQH mới có quyền đề xuất dự luật và dự luật đó sẽ được xem xét, nghiên cứu từ các tiểu ban đến toàn thể QH.
Ba yêu cầu trên, nếu được thỏa mãn, sẽ không cần bất kỳ một sự hướng dẫn nào bởi đã có giải thích, hướng dẫn là có vận dụng.
Sự ổn định, vững mạnh của chính quyền chỉ có thể có được trên nền tảng luật pháp minh bạch. Chừng nào luật nhiều, phức tạp như một cánh rừng thì không thể nào dứt bỏ hết các loài “dây leo” chằng chịt làm cản trở mọi sự lưu thông, tạo ra những ách tắc không đáng có. Hành lang pháp lý thiếu, chồng chéo, phức tạp là nguyên nhân đầu tiên tạo nên cơ chế phức tạp, cồng kềnh làm cho bộ máy hành chính luôn phải vận hành trên những con đường gập ghềnh…
Thịnh Hà/VnN

Để được làm người tử tế

Tác giả: Hồ Quốc Tuấn (Đại học Bristol, Anh – Thời báo Kinh tế Sài Gòn)
Trong một thời gian dài, Việt Nam đã chọn mô hình tăng trưởng kinh tế có tính “đi tắt đón đầu”, chọn cái dễ mà làm, dựa vào nguồn ngoại lực và tài nguyên sẵn có, và hệ quả là đã làm triệt tiêu nội lực, thỏa hiệp với tiêu cực và chèn ép người tử tế…
Từ một mô hình kinh tế “đi tắt đón đầu”…
Từ khi kinh tế mở cửa, Việt Nam đã đạt được những bước tăng trưởng rất ấn tượng trong hơn hai thập niên, bất chấp đợt khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có tính đi tắt đón đầu, chọn cái dễ mà làm.
Đặc trưng của mô hình này chính là việc dựa vào nguồn ngoại lực như vốn nước ngoài, bao gồm cả FDI, ODA và vốn đầu tư gián tiếp, đồng thời thúc đẩy những tập đoàn kinh tế nhà nước lớn, nhắm tới làm những cái to lớn, “hàng đầu thế giới”, trong khi bỏ qua việc chăm lo cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa và từng bước xây dựng nội lực để phát triển kinh tế.
Mô hình kinh tế này tận dụng sự thâm dụng nguồn tài nguyên sẵn có, lao động và vốn (mà một phần đáng kể là nguồn vốn bên ngoài), và sự lạc quan đối với một nền kinh tế mở cửa để tạo ra tiêu dùng, đầu tư và tăng trưởng.
Nhưng quá trình mở cửa và gỡ bỏ những rào cản trong môi trường kinh doanh đó đã chững lại từ những năm đầu thế kỷ 21. Những năm 1998-2001, để duy trì tăng trưởng kinh tế, thay vì tiếp tục chọn con đường có nhiều thử thách là đẩy mạnh cải cách và cởi trói cho môi trường kinh doanh, Chính phủ đã chọn con đường dễ hơn, gia tăng vay nợ (bao gồm ODA) và ưu đãi cho dòng vốn đầu tư quốc tế, bất chấp việc phải cấp nhiều vốn hơn mới đạt được 1% tăng trưởng. Nhưng một phần lớn nguồn lực đó chủ yếu lại được chuyển qua các nhóm lợi ích như các tập đoàn kinh tế nhà nước, một phần không nhỏ dòng vốn nước ngoài lại chảy vào bất động sản hoặc những hoạt động kinh doanh không đem lại những chuyển giao kỹ thuật.
Hệ quả của con đường tăng trưởng dễ dàng này là hiệu quả đầu tư và ứng dụng công nghệ trong nền kinh tế ngày một giảm sút trong khi môi trường kinh doanh hầu như không cải thiện đáng kể. Hệ số về hiệu quả sử dụng vốn ICOR cho thấy chi phí vốn tăng thêm để tạo ra một đồng tăng thêm của GDP ngày càng cao. Theo một bài về đánh giá hiệu quả đầu tư của tác giả Bùi Trinh trên TBKTSG năm 2011, nếu giai đoạn 2000-2005 bỏ ra gần 5 đồng có thể tạo ra 1 đồng tăng thêm của GDP, thì đến giai đoạn 2006-2010 phải bỏ ra 7,4 đồng mới tạo ra 1 đồng tăng thêm của GDP.
Trong phân tích của mình, tác giả Bùi Trinh cũng cho thấy hệ số TFP, đo lường đóng góp của tiến bộ công nghệ đến tăng trưởng kinh tế, chỉ còn đóng góp 8,8% vào tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2006-2010 so với mức 22% của giai đoạn 2000-2005. Nói cách khác, phí tổn vốn cho 1 đồng tăng trưởng GDP tăng đến gần 50% trong giai đoạn 2006-2010 trong khi tác động của công nghệ đến tăng trưởng kinh tế tụt dốc thảm hại trong khi người ta vẫn cho rằng với việc mở cửa và đón nhận FDI chúng ta sẽ học hỏi được kinh nghiệm và công nghệ của nước ngoài.
Trong khi đó, môi trường kinh doanh (theo báo cáo Doing Business của Ngân hàng Thế giới) không có cải thiện đáng kể ở các khoản mục thành lập doanh nghiệp, cung cấp điện, thuế, bảo vệ nhà đầu tư từ sau năm 2005. So với các quốc gia láng giềng, xếp hạng về môi trường kinh doanh của Việt Nam bị bỏ xa so với nhóm Singapore, Malaysia và Thái Lan, và quanh đi quẩn lại trong nhóm với Indonesia, Philippines và Trung Quốc.
Thực trạng xếp hạng thấp từ báo cáo của Doing Business 2015 và con số TFP năm 2011 của tác giả Bùi Trinh tuy khác nhau về thời điểm nhưng chỉ ra một điều: cơ sở hạ tầng và khả năng hấp thu công nghệ của Việt Nam đã và đang tụt hậu so với yêu cầu của nền kinh tế. Nói cách khác, tăng trưởng dựa vào ngoại lực không hề lan tỏa thành một cú hích đáng kể cho nội lực, mà lại còn triệt tiêu nó.
Có thể nói, tình thế nợ công tăng, nợ xấu nhiều, doanh nghiệp tư nhân suy yếu như hiện nay là hệ quả của một tư duy tăng trưởng kinh tế dễ dàng, đi tắt đón đầu, dựa vào ngoại lực và bỏ bê nội lực, đến mức mà chuyên gia Phạm Chi Lan phải lo ngại là sắp tới chúng ta chỉ có thể còn các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chứ không còn “nhỏ và vừa” nữa.
Việt Nam đang cố gắng đầu tư cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Ảnh: MINH KHUÊ
...Biến điều bất thường thành bình thường
Không chỉ nợ công, nợ xấu cao và nền kinh tế kiệt quệ nội lực, cái nguy hiểm nhất của mô hình tăng trưởng dễ dàng này là nó đi kèm với một tư duy phải tạo ra thành tích nhanh và nhiều, sẵn sàng thỏa hiệp với tiêu cực miễn sao “được việc”, dẫn đến những điều bất bình thường được xem là bình thường.
Lấy ngành ngân hàng làm ví dụ. Đã có một giai đoạn, sở hữu chéo giữa các ngân hàng trở thành chuyện bình thường trong giai đoạn trước khi khủng hoảng toàn cầu lan rộng đến Việt Nam và thậm chí vài năm sau đó. Nếu không có sự sụt giảm tăng trưởng dẫn đến nợ xấu ngân hàng tăng nhanh và những hệ lụy sau đó, có lẽ đó vẫn là một điều được hiển nhiên chấp nhận trong ngành ngân hàng.
Không chỉ trong ngành nhạy cảm như ngân hàng, mà ở khắp các lĩnh vực trong nền kinh tế, hành vi trốn thuế, làm giá chứng khoán, vay nợ không có trách nhiệm, buộc ngân sách bù đắp những khoản lỗ, duy trì tình trạng độc quyền và bất chấp lợi ích dân tộc để bảo vệ lợi ích nhóm… sinh sôi và nảy nở nhanh chóng. Người ta không quan tâm đến cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng bằng cách cải tiến chất lượng và năng suất, mà chỉ quan tâm làm sao tiêu diệt được đối thủ nhanh nhất và làm giàu dễ nhất.
Càng ngày chúng ta lại càng thấy nhiều hơn những điều không bình thường. Những thương hiệu mà người Việt Nam có thể tự hào là của mình ngày một giảm đi (bị bán đi hoặc mất đi). Môi trường bị tàn phá khiến chúng ta không còn nhiều cảnh đẹp thiên nhiên để khoe với bạn bè quốc tế, chỉ còn lại những bờ biển bị băm nát. Con số tiến sĩ chúng ta đào tạo ngày càng tăng nhanh nhưng số công trình khoa học được đăng tạp chí quốc tế có uy tín và số ứng dụng công nghệ không tăng tương ứng.
Những điều này thoạt đầu xuất hiện thì gây bàn tán trong dư luận như những điều lạ, bất thường, dần dần, dường như trở thành một sự thật hiển nhiên đang diễn tiến tại Việt Nam. Càng ngày người ta càng nhắm mắt với những tiêu cực, từ các cơ sở kinh tế cho đến bệnh viện, trường học, miễn là nó “bôi trơn” được cho sự vận hành của nền kinh tế.
…và hiệu ứng “chèn ép người tử tế”
Khi những tiêu cực của xã hội ngày một nhân rộng và trở thành chuyện bình thường, những người tử tế không chấp nhận thỏa hiệp với tiêu cực sẽ hoặc là phải tự động rút lui hoặc bị “chèn lấn” (mượn từ thuật ngữ crowding out trong kinh tế học). Đây là một hiệu ứng không mong muốn của mô hình tăng trưởng cũ của Việt Nam.
Lấy ví dụ, trong một nền kinh tế mà bong bóng tài sản bị đẩy lên đỉnh điểm như cách đây vài năm, để có thể vay vốn ngân hàng trong một nền kinh tế tăng trưởng nhanh và mọi người đòi hỏi tỷ suất sinh lợi cao một cách bất hợp lý (do bong bóng tài sản và lãi suất cao gây ra), khi không có cách nào để kiếm ra tỷ suất sinh lợi đó một cách đàng hoàng thì người ta móc nối với nhau để làm ra những con số, những dự án không có thật, thổi phồng những chiêu kiếm tiền để lừa ngân hàng, lừa nhà đầu tư và lừa lẫn nhau. Hệ quả là nợ xấu ngày càng chồng chất, các vụ án kinh tế, lừa đảo ngày một nhiều, còn người làm ăn tử tế thì vay không được tiền hoặc không dám vay vì lãi suất quá cao.
Trong lĩnh vực giáo dục hay y tế cũng dễ tìm thấy những cái không tử tế. Chẳng hạn, vì việc chạy theo cái gọi là có công trình khoa học đăng báo quốc tế nhanh nhất, người ta bất chấp mọi cách để có tên đăng báo, bất chấp ngụy tạo số liệu, đồng tác giả, hay thậm chí cố mà ra được một tạp chí quốc tế và tranh cho được quyền tổng biên tập. Vậy thì làm sao có người dám ngồi làm một công trình nghiên cứu công phu nhiều năm mà cuối cùng kết quả cũng y như người “đi tắt đón đầu”?
Bài học khủng hoảng tài chính gần đây ở nước ngoài và những vấn đề trong nước cho chúng ta thấy thỏa hiệp với những điều không đàng hoàng sẽ mang lại hệ quả khôn lường. Đối với ngành ngân hàng trong nước, chúng ta đã làm quá trễ trong chuyện kiểm soát rủi ro, dẫn đến nợ xấu tăng mạnh. Đối với tài chính công, chúng ta đã để cho sự lãng phí và tham nhũng trong các dự án công và công ty nhà nước đi quá xa để dẫn đến những sự cố “Vina”. Chúng ta không nên để những chuyện như vậy lặp lại nữa.
Đã đến lúc chúng ta phải thừa nhận rằng con đường của Việt Nam sẽ không còn dễ dàng, dựa vào vận may như trước nữa. Chắc chắn sẽ có nhiều cách nhìn khác nhau về mô hình tăng trưởng mới ở Việt Nam. Nhưng là gì đi nữa, chắc ai cũng sẽ đồng ý: nó không nên là một mô hình chèn ép người tử tế.
Muốn tạo ra thay đổi đối với sức cạnh tranh cốt lõi ở Việt Nam thì không nhất thiết chỉ có thể bắt đầu từ những thứ to tát như tranh cãi về chuyện có nên bơm tiền, kích cầu, phá giá đồng tiền hay không. Mà hãy bắt đầu bằng việc tạo ra một môi trường để người ta có thể làm ăn tử tế, sòng phẳng và không bị chèn ép.
Hy vọng rằng sau 10 năm nữa, những điều này không phải là chỉ là mơ ước ở Việt Nam.

23 tháng 5, 2015

Tại sao Tổng Bí thư nói những điều đã quá tất nhiên ?

* BÙI VĂN BỒNG
Sau Hội nghị Trung ương 11, TBT Nguyễn Phú Trọng lại (như bao lần khác) gặp cử tri quận Ba Đình, quận tây Hồ (Hà Nội). Khi các cử tri ‘lục vấn’ về nhân sự cho Đại hội 12 sắp tới, Tổng bí thư ‘buộc phải’ thừa nhận đây là việc "vô cùng khó khăn". Ông nói: “Từ xưa đến nay, bất kỳ đại hội nào công tác chuẩn bị nhân sự cũng có ý kiến này ý kiến khác. Thậm chí toàn dân bàn nhân sự, trong chưa bàn nhưng dư luận đã có rất nhiều phương án, không chỉ chúng ta quan tâm mà các nước bạn cũng quan tâm”. Câu lý giải của TBT tưởng có lý mà lại…ắp đầy vô lý. Nhiều khi ông nói những điều, những việc rất chung chung, những chuyện tất nhiên phải thế và xưa nay vẫn thế: “Từ xưa đến nay, bất kỳ đại hội nào công tác chuẩn bị nhân sự cũng có ý kiến này ý kiến khác”. Điều đó ai chả biết, trong xã hội, trong một tổ chức đảng có nhiều người, ý kiến này ý kiến khác là đương nhiên. Sao ông lại nói ra cái điều đã rõ kiểu như ‘rau mà cũng nhiều loại khác nhau’? Chẳng lẽ ông ‘lý tưởng hóa’ đến mức trong xã hội ai cũng phải nghĩ, nói và hành động giống nhau. Ngay như trong gia đình nho nhỏ của ông cũng vậy, một việc gì đó cũng mỗi người mỗi cách nghĩ, cách nói chứ. Người, chứ đâu phải hàng hóa sản xuất ‘tự động hóa’ mà cả loạt đều giống nhau đến từng mã vạch? Nhưng không hiểu sao một giáo sư nghiên cứu nhiều về triết, về xã hội học mà lại ngán ngại, thậm chí sợ sự khác nhau về quan điểm, cách nhìn, khác về nhận thức? Nếu như thế thì có thực sự “khách quan, biện chứng” như từ thường dùng của ông hay không?

Ông nói: “Toàn dân bàn nhân sự”. Hóa ra “dân chủ” đến thế kia đấy! Có không? Toàn dân có được "bàn nhân sự không"? Đảng viên và cả cấp ủy viên còn không được bàn, nói gì đến dân! Mà nếu đảng viên, nhân dân được bàn, có nghe theo không-hay bỏ ngoài tai?! Nhưng thực chất, dân nào được bàn nhân sự? Ai cho bàn? Vì lần này ai thuộc “diện cơ cấu” thì từ Bộ Chính trị đến các cấp ủy tận xã phường đã được “chấm” hết cả rồi. Danh sách đó là một hằng số, là không đổi, bất di bất dịch, như dân ta thường nói: “Bỏ cối không trật”! Ngoài danh sách mà “trên” đã chốt, không ai được quyền đề cử, ứng cử thêm. Trong đảng đã mất dân chủ, thì lấy đâu mà dân được ‘quyền dân chủ’? Đã đến mức vào khuôn sẵn như vậy, nếu như “dư luận đã có nhiều phương án” thì cũng chỉ là chuyện phiếm thôi. Điều này giáo sư TBT đã hiểu quá rồi, sao còn nói với cử tri như vậy?
Ông nói: “Các nước bạn cũng quan tâm”. Đúng thế, theo dõi về chính trị các nước, ai mà không quan tâm xem ‘con tạo xoay vần đến đâu’. Nhưng cũng chỉ là quan tâm. Mà đó cũng là sự đương nhiên. TBT không nói, ai cũng biết tất nhiên nó đã vậy từ xưa llawsm rồi. Nhất là thời đại bùng nổ công nghệ thông tin toàn cầu như hiện nay. Nếu nói ‘nước bạn quan tâm”, thì chắc chắn rằng quan tâm và cả chỉ đạo, định hướng phải là “bạn 16+4 Trung Nam Hải”!?
Ông nói: “Xây dựng được một cơ quan lãnh đạo tốt nhất thì phải làm từng bước, theo quy trình rất chặt chẽ, quan trọng nhất là theo đúng nguyên tắc của Đảng, đúng Điều lệ Đảng”. Vậy xin hỏi ông: “Quy định về chọn nhân sự cho nhiệm kỳ Đại hội 12 kèm theo những động thái lãnh đạo nghiêm ngặt và rất chủ quan từ Ban chấp hành Trung ương đến Bộ, ngành, tỉnh, thành, quận, huyện, phường , xã…có đúng “nguyên tắc điều lệ đảng hay không”?
Ông nói: “Đây là vấn đề rất lớn, rất nhạy cảm. Cách làm phải thật chặt chẽ, có đổi mới, vừa dân chủ vừa tập trung, kiên quyết không để lọt vào Ban chấp hành TƯ những người không đủ tiêu chuẩn nhưng làm thế nào để đạt được điều đó không hề đơn giản”. Thế tại sao “vừa dân chủ, vừa tập trung” mà chỉ thấy tập trung đến mức như thể chế “Trung ương tập quyền”, đâu thấy dân chủ, áp đặt đến mức không cho ai phát hiện nhân sự mới, không cho ứng cử, đề cử. Nhiều cấp xã phường đại hội xong khóa này rồi, nhưng phần nhiều đảng viên đều lắc đầu: “Vậy cần gì đại hội, chỉ là hình thức, như công khai vở diễn, đảng cấp trên cử ai thì thông báo cho các chi bộ là đủ rồi”!
Lại nữa, trong phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 11, TBT Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh cần kiên quyết không để lọt vào Ban Chấp hành Trung ương những người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm..., nhiều cử tri mong muốn Đảng ta sẽ tăng cường chỉ đạo để thực hiện cho bằng được mục tiêu này.
Điều đó cũng tất yếu và cần thiết, không ai cãi. Nhưng chắc gì trong “Danh sach đã chốt sẵn” không có những kẻ cơ hội và có đủ các ‘tật xấu, yếu kém’ như TBT đã nêu trên?
Liên quan đến công tác cán bộ, cử tri quận Ba Đình và quân Tây Hồ đều cho rằng cần chú ý cán bộ đầu ngành, mạnh dạn đổi mới trong công tác tuyển chọn để thu hút những người có đủ đức, đủ tài tham gia trong bộ máy Nhà nước, có như vậy mới vận hành, đưa đất nước tiến lên được. 
Qua “sự kiện” Hội nghị 11 và những phát biểu của TBT khi gặp cử tri mới rồi, Luật sư Vũ Đức Khanh tin rằng chỉ những người 'thua cuộc' mới hay 'nói nhiều' và 'nói lớn lên', đồng thời cho từ sâu xa, các phát biểu nói trên, mặc dù không tường minh 'nhắm vào đối tượng nào'… Nhưng chúng ta đọc kỹ bài diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương 11 vừa qua, thì có thể thấy rằng những tiêu chuẩn vào cấp ủy từ Trung ương trở xuống theo chỉ đạo còn quá mập mờ, chồng chéo nhau, cái này dính vào cái kia, rất là phức tạp. Tựu trung, như thế nào là thì gọi là người cơ hội chủ nghĩa, thì vấn đề đó ông Trọng và những người theo quan điểm của ông ấy cần phải nêu rõ ra. Cái khái niệm như thế nào gọi là người cơ hội chủ nghĩa?".

Tăng trưởng kinh tế chưa ra khỏi ‘vùng đáy’ của 25 năm qua

Báo cáo đề dẫn về tổng quan nền kinh tế tại Diễn đàn kinh tế mùa Xuân năm 2015 có chủ đề"Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh: Biến lời nói thành hành động" tại TP Vinh, Nghệ An sáng 21/5, TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, đánh giá nền kinh tế Việt Nam tuy phục hồi, nhưng vẫn trong vùng đáy.
Phục hồi không bền vững
Báo cáo đề dẫn về tổng quan nền kinh tế tại Diễn đàn kinh tế mùa Xuân năm 2015 có chủ đề "Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh: Biến lời nói thành hành động" tại TP Vinh, Nghệ An sáng nay, TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đánh giá, nền kinh tế Việt Nam tuy phục hồi, nhưng vẫn trong vùng đáy.
Mức tăng trưởng trung bình giai đoạn 1990-2010 là 7,8%. Nhưng kể từ 2009 đến nay, tăng trưởng luôn dưới con số này. Từ năm 2012, tăng trưởng có nhích lên chậm rãi thì GDP 2014 vẫn là 6,8%, chưa đến 7%.
"Đáng chú ý, văn hoá tăng trưởng ở Việt Nam là đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi. Tức là, đầu năm ăn tiêu tiết kiệm, dè xẻn, tăng trưởng chậm, nhưng cuối năm chi tiêu tăng lên, tăng trưởng lại bò lên. Đó là sự tăng trưởng chưa bền vững", TS Thiên bình luận.
Ông nhấn mạnh, chất lượng phục hồi vẫn còn nhiều điều quan ngại. Đó là nền kinh tế phục hồi trong xu thế gia tăng bất cân xứng cơ cấu, thiên lệch ngoại lực.
Theo ông, phục hồi của nền kinh tế năm qua vẫn chỉ là uống thuốc khoẻ, bồi bổ tăng lực mà chưa thực sự chữa bệnh. Cơ bản tăng trưởng vẫn là số lượng mà ít thấy có dịch chuyển đẳng cấp về chất lượng và sức cạnh tranh. Đẳng cấp nền kinh tế vẫn là đẳng cấp thấp, cả công nghiệp, dịch vụ. Các điểm yếu kém cơ cấu và mô hình tăng trưởng cũ còn nguyên.
Các nền tảng tăng trưởng bền vững vẫn chưa được xác lập vững chắc mà điển hình là cục máu đông nợ xấu chưa giải toả được, nợ công gia tăng nhanh.
Ông Thiên cho biết, nợ xấu bị xích lại hầu hết, nhưng chưa được xử lý theo nguyên tắc thị trường. Còn dự báo nghĩa vụ trả nợ/thu ngân sách sẽ vượt vạch đỏ, là 25,9%. Nợ công có xu hướng nội địa hoá, dựa nhiều vào trái phiếu Chính phủ thay vì ODA. Đáng chú ý là nguy cơ lãi suất nợ cao, thời hạn nợ ngắn, tranh chấp vốn và cạnh tranh lãi suất với tín dụng khu vực kinh doanh khốc liệt.
Nền kinh tế luỵ FDI
Trở lại câu chuyện phục hồi tăng trưởng, TS Thiên đặt vấn đề.
Ông cho rằng, khu vực FDI đóng vai trò quan trọng hơn, quyết định khả năng phục hồi của nền kinh tế.
Dẫn chứng rõ nét nhất là vừa qua FDI vào nhiều, với các tập đoàn đa quốc gia hàng đầu như Samsung, Microsoft, Toyota vào Việt Nam đã làm thay đổi sâu sắc cơ cấu chủ thể phát triển của nền kinh tế. Số lượng không nhiều, nhưng vị thế và chất lượng tốt hơn hẳn khu vực nội địa.
Nhưng câu hỏi đặt ra là, các đại gia FDI đưa gì vào Việt Nam và xu hướng đó có làm thay đổi đẳng cấp công nghệ, đẳng cấp phát triển của Việt Nam như ta mong đợi?
"Tại sao DN Việt Nam không hội nhập quốc tế được ngay trên đất nước mình, không thể mượn sức mà lớn lên? Chúng ta kéo thế giới vào đây rồi nhưng không hội nhập được. Samsung họp cả nghìn DN nhưng cũng chỉ tuyển được 4-5 DN vào làm hỗ trợ", ông Thiên nhấn mạnh.
Vị Viện trưởng lo ngại, nếu FDI vẫn dồn dập đổ vào thì sẽ xảy ra hai xu hướng, một là FDI lấn át các DN nội, hai là nguy cơ khi FDI rời bỏ Việt Nam, chẳng hạn, Samsung rút khỏi Thái Nguyên, Bắc Ninh khi chu kỳ tận thu lợi thế của Việt Nam chấm dứt thì điều gì sẽ xảy ra?
Ông cho biết, các bạn doanh nghiệp Hàn Quốc đã nói, nếu Việt Nam không cải thiện gì thì 5-7 năm nữa, Samsung cũng phải rời đi, trong khi họ đã chiếm 22% xuất khẩu của Việt Nam.
Về cơ cấu doanh nghiệp, ông Thiên cho rằng, có xu hướng bất bình thường. Ví dụ, FDI lỗ lớn và chuyển giá, có tới hơn 60% kê khai lỗ kéo dài, nhưng lại là khu vực có tốc độ tăng vốn nhanh nhất, đặc biệt là DN lớn như Pepsi, Metro. Đồng thời, tuy lỗ nhưng FDI tăng trưởng doanh thu và xuất nhập khẩu ngoạn mục nhất, liên tục xuất siêu lớn, chiếm 65-67% kim ngạch.
Trong khi đó, doanh nghiệp nội địa đóng cửa ngày càng nhiều. Năm 2010, cả nước có 40.000 DN đóng cửa nhưng đến năm 2014, con số đóng cửa đã lên tới 67.832 DN.
Dường như, địa phương nào có nhiều FDI lớn là tăng trưởng vọt lên. Chẳng hạn như ở Bắc Ninh, khi có Samsung đầu tư mạnh thì GDP cao, nhưng năm qua, Samsung chuyển sang đầu tư ở Thái Nguyên, FDI ở tỉnh này giảm sút, công nghiệp tăng trưởng âm 4,5% và GDP cả năm 2014 chỉ hơn 0,2%. Thái Nguyên ngược lại, nhờ Tập đoàn này mà có tăng trưởng tới 18,6% và công nghiệp tăng tới 33,4%.
Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam đề nghị, năm 2015, Việt Nam cần tập trung 5 ưu tiên lớn, trong đó tập trung cổ phần hoá DNNN theo thị trường, đẩy mạnh cải cách bộ máy điều hành của Nhà nước như trường hợp ngành thuế vừa qua, chuẩn bị năng lực hội nhập khi việc ký kết các FTA quan trọng đã được dự báo chốt năm 2015, tiếp tục tháo nút thắt nợ xấu, tỷ giá.
(Tầm nhìn)

Nợ công đang kìm hãm, chế áp tăng trưởng

Trong 3 năm gần đây, ngân sách thường chỉ dành từ 14-16% tổng thu để trả nợ, chứ không phải mức trên 31%. Quy mô nợ công so với GDP tuy đang ở mức cao, gần với ngưỡng được Quốc hội cho phép, nhưng do nguồn lực ngân sách còn hạn chế nên vẫn cần huy động vốn vay trong và ngoài nước để đầu tư. Đó là những khẳng định vừa được Bộ Tài chính đưa ra khi triển khai Chỉ thị 02 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quản lý nợ công.
Nền kinh tế nếu có tăng trưởng cũng không bù đắp được sự gia tăng chóng mặt của nợ công và sự lãng phí, tùy tiện chi tiêu tràn lan.
Đánh giá cao kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2014, những tháng đầu năm 2015 do Chính phủ báo cáo, ông Nguyễn Văn Giàu, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội, đề nghị báo cáo của Chính phủ cần phân tích, đánh giá cụ thể hơn về một số vấn đề.
Thực tế cho thấy, dù đã đưa ra nhiều chủ trương, biện pháp và những mổ xẻ, chứng minh, phân tích gay gắt, có cả sự ‘kêu gào’, nhưng công tác quản lý, điều hành vẫn bị buông lỏng, lãng phí và lợi dụng phát sinh các dự án, các khoản chi để tham nhũng, chia nhau trong các ‘nhóm lợi ích’ vẫn là tác động nguy hại trì kéo sự phát triển kinh tế-xã hội.
Theo đánh giá của Chính phủ: Số ước thực hiện báo cáo tại Kỳ họp thứ 8 và số liệu kết quả thực tế có sự chênh lệch quá lớn: CPI kế hoạch Quốc hội giao tăng khoảng 7%, số báo cáo Quốc hội tại Kỳ họp thứ 8 tăng 4,5 – 4,6%, số liệu đánh giá lại chỉ tăng 1,84% bởi công tác dự báo, điều hành CPI sẽ tác động mạnh đến kế hoạch đầu tư, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, người dân và tâm lý xã hội, tâm lý thị trường. Vì thế, không thể xem nhẹ sự ‘nhảy múa’ của các con số thống kê, cần đánh giá tác động toàn diện hơn về mức độ tăng trưởng, công tác điều hành chỉ số giá tiêu dùng… 
Tăng trưởng GDP bốn tháng đầu năm 2015 đạt 6,03 là mức tăng cao nhất so với cùng kỳ những năm gần đây. Tuy nhiên nghĩa vụ trả nợ công năm 2015 lên đến 31% tổng thu ngân sách. Ông Nguyễn Văn Giàu cho rằng mức tăng trưởng này chưa thật sự bền vững, do tác động về giá dầu thô đối với nền kinh tế ở mức thấp.
Đó là con số được xem là ấn tượng nhất trong năm năm qua của nền kinh tế. Tăng trưởng cao nhưng nợ công cũng cao. Nghĩa vụ trả nợ công trong năm 2015 cũng lên đến 31% tổng thu ngân sách, vượt mức dự kiến trong chiến lược đề ra. Yếu tố chính góp phần cho tăng trưởng là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và khai khoáng (khai thác dầu thô, than đá). Trong khi đó mức tăng trưởng của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ở mức thấp, chỉ tăng 2,14% so với mức tăng 2,68% cùng kỳ năm trước.
Ông Giàu phân tích: “Bên cạnh đó, một số chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, đóng tàu đánh bắt thủy sản, nhà ở cho người thu nhập thấp… được đánh giá là chính sách đúng đắn, kịp thời nhưng triển khai chậm chạp, gặp nhiều vướng mắc gây phiền hà, chưa như mong đợi của người dân”.
Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cũng đánh giá trong bốn tháng đã nhập siêu 3 tỉ USD, tương đương 6% tổng kim ngạch xuất khẩu (cao hơn so với chỉ tiêu Quốc hội là 5%) là một tín hiệu không mấy tốt lành.
Dự báo xuất khẩu năm 2015 sẽ khó khăn hơn, nhất là nhiều nước giảm giá mạnh đồng tiền so với đồng USD, dẫn đến thâm hụt thương mại năm 2015 ở mức cao.
Về nợ công – vấn đề đã cảnh báo từ nhiều kỳ họp trước, phân tích của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho thấy năm 2015 nghĩa vụ trả nợ công sẽ ở mức rất cao, chiếm đến 31% so với tổng thu ngân sách nhà nước. Trong khi đó chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 thì nghĩa vụ trả nợ công không được quá 25% so với tổng thu ngân sách nhà nước.
Tác giả Lê Phương phản ánh trên báo Lao Động: Tính đến ngày 18/5, theo đồng hồ báo nợ toàn cầu của tạp chí Economist, nợ công Việt Nam đang ở mức xấp xỉ 89,41 tỷ USD. Với dân số ước tính 91,5 triệu người, tính ra, mỗi người dân đang gánh nợ 983USD. Một năm trước, con số này là 81,18 tỷ USD và 897,84 USD.
Với tốc độ tăng trưởng kinh tế như hiện tại, The Economist dự đoán nợ công Việt Nam sẽ tăng lên 97,35 tỷ USD vào năm tới, tức mỗi người dân sẽ gánh nợ 1.065 USD.
Theo con số từ Bộ Tài chính, tỷ lệ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với tổng thu ngân sách nhà nước năm 2014 là 13,8% và năm 2015 dự kiến khoảng 16,1%, dưới mức quy định là 25%.
Tuy nhiên, cách đây không lâu Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cho rằng con số thực về tỷ lệ trả nợ trực tiếp nước ngoài của Việt Nam lên đến 31% chứ không phải dừng lại ở con số thấp như Bộ Tài chính đưa ra.
Tuy nhiên đại diện bộ cho biết: “Do nguồn lực còn hạn chế nên vẫn cần huy động vốn vay để đầu tư”.
Vậy, hãy cùng làm một vài phép tính nhỏ để dễ tưởng tượng độ “khủng” của nợ công Việt Nam trong thời điểm hiện tại.
Lo ngại nợ công gia tăng với tốc độ cao, báo Dân Việt đăng bài của tác giả Ngọc Lương, chỉ thẳng ra rằng: Nợ công của Việt Nam tiếp tục gia tăng với tốc độ cao. Trong năm 2015, dự báo nghĩa vụ trả nợ so với tổng thu ngân sách ở mức 31%.
Nợ công tiếp tục gia tăng với tốc độ cao, trong năm 2015 dự báo việc thực hiện ‘nghĩa vụ trả nợ’ còn nhiều khó khăn, ách tắc. Theo Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030: Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ (không kể cho vay lại) so với tổng thu ngân sách nhà nước hàng năm không quá 25% và nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia hàng năm dưới 25% giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ. Theo báo cáo số 2289, ngày 18.10.2014 của Ủy ban Tài chính – Ngân sách Quốc hội, nghĩa vụ trả nợ so với tổng thu ngân sách nhà nước năm 2015 dự kiến ở mức 31%.
Những khó khăn của nền kinh tế cũng được Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thẳng thắn chỉ ra trong báo cáo của Chính phủ. Nổi lên là số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động tăng 4,5% (so với cùng kỳ năm 2014); thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản phục hồi chậm…
Dự kiến, tỷ lệ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2015 là 16,1%. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, năm 2014 đã huy động 627.800 tỷ đồng, trong đó trên 98% vốn vay được sử dụng cho các dự án hạ tầng. Dự kiến, tỷ lệ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2015 là 16,1% và vẫn nằm trong phạm vi 25% của chiến lược nợ công. Về tỷ lệ 31% mà Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội đưa ra gần đây, Bộ Tài chính cho biết, con số trên đã bao gồm cả những khoản vay về để cho vay lại. Hiện có tới 60% khoản vay về được đưa vào ngân sách và 40% là để cho vay lại.
Trịnh Đình Duyên - tổng hợp 

‘Ăn chặn’ cả tiền hỗ trợ nông dân mất mùa?

Bị mất mùa tới 70 – 80%, các hộ dân ở xã Xuân Bình, huyện Như Xuân (Thanh Hóa) được hỗ trợ 5kg giống và tiền mất mùa. Tuy nhiên đã một năm trôi qua, vẫn chưa thấy UBND xã cấp phát số tiền trên đến tay người dân.
Chưa được nhận tiền hỗ trợ
Theo phản ánh của người dân xã Xuân Bình, vụ chiêm xuân năm 2014 hầu hết các hộ dân gieo cấy giống lúa PC15 nhưng đến kỳ thu hoạch lại không cho năng suất, lúa không trổ bông, hạt lép…
Trước thực trạng trên UBND tỉnh Thanh Hóa đã hỗ trợ người dân có diện tích trồng giống lúa PC15. Theo đó người dân xã Xuân Bình được hỗ trợ tổng cộng số tiền 42 triệu đồng, tuy nhiên đến nay người dân chưa được nhận bất cứ một đồng tiền hỗ trợ nào.
Bà Hồ Xuân Hương (thôn 12) cho biết, vụ chiêm xuân năm 2014 gần như mất trắng, số bông có hạt thì không thể dùng được, gia đình bà phải cắt về làm thức ăn cho trâu bò.
Khi hỏi đến số tiền hỗ trợ, bà Hương cho biết bà chưa nghe thấy có tiền hỗ trợ nào ngoài 5kg giống. Đến giờ bà cũng không biết gia đình nhà mình được hỗ trợ bao nhiêu tiền.
Bà Hương cho biết chưa nhận được tiền hỗ trợ nào
Cũng như nhà bà Hương, gia đình chị Trần Thị Thảo cũng tỏ ra ngỡ ngàng khi chúng tôi đề cập đến chuyện đã nhận được tiền hỗ trợ hay chưa.
"Khi giống PC15 bị mất mùa, cán bộ khuyến nông ở thôn, xã cũng có đến kiểm kê diện tích của từng hộ và nói tới đây sẽ hỗ trợ. Một thời gian sau thì thấy hỗ trợ 5kg giống, người dân chúng tôi không hề biết có hỗ trợ tiền" - lời chị Thảo
Danh sách các hộ dân trong diện được hỗ trợ
Được biết xã Xuân Phú có hơn 500 hộ dân thuộc diện được hưởng hỗ trợ, nhưng tất cả đều chưa nhận được một đồng tiền nào?!.
Có dấu hiệu ăn chặn
Ông Lê Văn Lại, PCT xã Xuân Bình thừa nhận việc đến thời điểm này người dân chưa nhận được tiền hỗ trợ của nhà nước về giống lúa PC15.
Ông Lại cho biết thêm, chủ trương hỗ trợ giống và tiền là trên toàn tỉnh Thanh Hóa, khi mất mùa vụ chiêm xuân 2014 cấy giống PC15.
Tháng 6/2014, huyện đã chuyển tiền hỗ trợ về cho xã Xuân Bình tổng cộng là 41.940.000đ của 530 hộ với diện tích hơn 850 sào.
Ông Lê Văn Luân trao đổi với phóng viên
“Sau khi có danh sách cụ thể tôi đã ký chuyển cho kế toán chi trả cho các hộ dân. Tuy nhiên việc chi trả vẫn chưa được kế toán thực hiện, trong khi đó kế toán lại báo cáo với chủ tịch là đã quyết toán rồi”.
“Đã nhiều lần trong các cuộc họp tôi đã báo cáo với chủ tịch UBND xã là làm cách nào đó trả tiền hỗ trợ cho dân nhưng không hiểu vì lý do gì đến nay chủ tịch và kế toán vẫn không chi trả”, ông Lại nói.
Ông Lê Văn Luân, kế toán xã Xuân Bình thừa nhận chưa chi trả cho dân và số tiền trên đang để trong quỹ?.
Ông Luân lý giải, sở dĩ xã chưa trả cho các hộ dân là vì danh sách ở dưới thôn lập lên một số tên bị lệch nên cần phải sửa lại. Và tới đây khi sửa xong sẽ tiến hành chi trả cho người dân.
Theo nguồn tin riêng của VietNamNet, sở dĩ cả một năm nay xã không trả tiền hỗ trợ cho các hộ dân là do đã được dùng vào việc khác và kế toán lập danh sách quyết toán khống (tự ký vào danh sách các hộ nhận tiền) để hợp thức hóa hồ sơ hòng qua mặt UBND huyện và người dân, đến khi phóng viên về điều tra ra thì sự việc mới bị vỡ lở.
Lê Anh/VnN

'Việt Nam tiếp khách một tháng bằng châu Âu chi một năm'

Dù nguồn vốn dưới hình thức nào, con cháu đều phải trả! Do đó, nguồn vốn vay hay viện trợ đều phải được quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích.
- PV:- Có chuyên gia cho rằng, sự lãng phí cho tiếp khách, hội họp... như trên không đáng kể gì so với nhiều dự án ngàn tỉ đang bị bỏ hoang, chi phí làm đường cao tốc đắt hơn Mỹ, công trình hoành tráng quá cỡ, lãng phí nhiều nhất trong đầu tư công... nhưng chính sự tùy tiện trong việc dùng ngân sách là căn nguyên của những lãng phí lớn hơn nói trên. Ông có đồng tình với ý kiến đó không và vì sao?
Gs.Ts Đặng Đình Đào, Viện trưởng Viện Nghiên cứu
Kinh tế và Phát triển, Đại học KTQD Hà Nội.
- GS.TS Đặng Đình Đào: Tôi cho rằng sự lãng phí cho tiếp khách, hội họp, “bôi trơn” … không phải là một khoản nhỏ, nhất là đối với một nước nông nghiệp còn nghèo như nước ta. Trong khi người dân còn rất nhiều khó khăn, hưởng lợi từ thành quả đổi mới chưa nhiều thì không thể xem nhẹ chuyện lãng phí dù chỉ một đồng và càng không không thể coi là không đáng kể gì?
Tất nhiên khi so với nhiều dự án ngàn tỷ đồng đang bị bỏ hoang, chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng còn cao hơn rất nhiều các nước trên thế giới, lãng phí trong đầu tư công lớn, ta càng thấy phải đặt ra yêu cầu bức xúc trong quản lý sử dụng ngân sách nhà nước phải thật nghiêm minh và có hiệu quả hơn; Thực hiện luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí phải đi vào thực chất hơn, không theo kiểu đăng ký tiết kiệm phong trào như hiện nay.
Phải thẳng thắn, sự lãng phí cho tiếp khách, hội họp hay các dự án nghìn tỷ bị bỏ hoang, nhiều công trình vừa khánh thành đã hư hỏng, xuống cấp đều là có tội với người dân. Vì đó là nguồn tiền do dân đóng thuế mà có.
- PV:- Thưa ông, nhiều người cho rằng cái khó của Việt Nam là rất nhiều công trình đầu tư xây dựng cơ bản chủ yếu dựa vào nguốn vốn vay, nguồn viện trợ nên phải chịu các ràng buộc. Còn việc hào phóng chi tiêu cho việc hội họp lễ tân đâu đó vẫn được xem như sự đảm bảo về năng lực tài chính và tiềm lực quốc gia. Quan điểm của ông như thế nào? Nếu như vậy thì muốn giảm bớt sự xài sang của Việt Nam đi có đơn giản hay không?
- GS.TS Đặng Đình Đào: Đúng là nhiều công trình đầu tư xây dựng cơ bản chủ yếu dựa vào vốn vay, nguồn viện trợ nên phải chịu những ràng buộc nhất định. Nhưng điều đó không thể biện minh cho sự thất thoát và lãng phí, có thể nói là rất lớn trong đầu tư xây dựng công trình như hiện nay.
Trong kinh tế thị trường, “Không có cái gì là cho không cả và đã cho không thì không có giá trị” nên dù nguồn vốn dưới hình thức nào thì con cháu chúng ta cũng đều phải trả! Do đó, nguồn vốn vay hay viện trợ đều phải được quản lý chặt chẽ và sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả.
Theo tôi, chính do cách quản lý sử dụng vốn như hiện nay mới có hiện tượng “Chạy dự án” đủ các kiểu ở Việt Nam. Còn việc hào phóng chi tiêu cho hội họp, lễ tân đâu đó thì cũng là tiền từ ngân sách nhà nước, tiền đi vay mà có nhưng vẫn còn nhiều người coi đó như là một sự thể hiện cho năng lực tài chính và tiềm lực của mình?.
Đã có nhiều dự án chưa triển khai, chưa đi vào hoạt động nhưng chủ doanh nghiệp đã chi hàng chục tỉ đồng để mua xe hạng siêu sang, xây dựng cơ sở hoành tráng nhưng cuối cùng rồi phá sản!
Rõ ràng là muốn giảm bớt sự xài sang của Việt Nam đi là cả một quá trình và là điều không hề đơn giản chút nào?
- PV:- Bộ Tài chính vừa mới thừa nhận, nợ công của Việt Nam đã gần sát ngưỡng Quốc hội cho phép nhưng trong điều kiện hiện tại chúng ta vẫn tiếp tục phải đi vay thêm. Ông bình luận như thế nào về phát biểu trên? Tư duy của người quản lý túi tiền quốc gia như vậy có khiến ông kỳ vọng sẽ có một chiến lược thắt chặt chi tiêu, giúp Việt Nam dần thoát khỏi vòng luẩn quẩn nợ nần?
- GS.TS Đặng Đình Đào: Đúng là Bộ tài chính luôn cho rằng, nợ công của ViệtNam hiện nay là không đáng lo ngại và hiện vẫn ở dưới mức cho phép là 65%. Tuy nhiên, đó là do quan niệm chưa thống nhất về nợ công.
Nợ công của Việt Nam không bao gồm nợ của doanh nghiệp nhà nước không được nhà nước bảo lãnh, nợ đọng xây dựng cơ bản… Cho nên sự thừa nhận đó chưa phản ánh đúng nguy cơ thực tế. Theo tính toán của nhiều chuyên gia, nếu tính đủ nợ công phải lên tới gần 100% GDP.
Trong điều kiện như vậy, chúng ta lại phải tiếp tục đi vay thêm mà các khoản vay đó lại chủ yếu là để trả nợ. Hơn nữa, theo các chuyên gia, trong cơ cấu, nợ ngắn hạn rất lớn, tốc độ tăng nợ lại nhanh hơn tốc độ tăng GDP … nên rõ ràng nợ công đe dọa an ninh tài chính quốc gia.
Nhưng một khi mà chưa nhận rõ được nguy cơ thực sự của nợ công thì rất khó mà có được một chiến lược thắt chặt chi tiêu, giúp Việt Nam dần thoát khỏi cảnh nợ nần.
- PV: - Xin cảm ơn Giáo sư đã trả lời phỏng vấn!
Vũ Lan/ĐVO

Trang