3 tháng 9, 2018

Hầu chuyện Trần Xuân Bách

TÁC GIẢ: THEO FB VÀ BLOG PHAN BA.
Tôi đã đặt những câu hỏi với tư cách một nhà báo mong muốn tìm thấy lộ trình đi tới tự do dân chủ cho dân tộc. Rất tiếc vì nhiều lý do, ý kiến tâm huyết của anh, một nhà cách mạng, một trí thức lớn nhất của đảng Cộng sản Việt Nam mà tôi ghi chép nhiều buổi, đã không thể phổ biến đúng lúc. Lý do là vì nền “báo chí nói tiếng nói của Đảng” không cho phép, nhưng lý do chính mà tôi phải nhận là bởi sự hèn kém của mình. Phần hồi ức này, tôi xin ghi lại một số câu hỏi và giải đáp của anh không chỉ có ý nghĩa lịch sử, mà nó vẫn đang còn nguyên giá trị thời sự trong tình hình hiểm nghèo của đất nước trước họa ngoại xâm, và nội xâm, đang rất cần dân chủ hóa để tăng nội lực của dân tộc. Và đây cũng là món nợ ân tình đối với anh, nhiều năm nay lòng tôi luôn bứt rứt (theo Blog Phan Ba)
KD: Bạn bè trên FB mách cho mình bài viết này. Trần Xuân Bách- một nhân vật lịch sử mà rồi đây, chắc chắn hậu thế sẽ phải đánh giá lại. “Những gì của César sẽ phải trả lại cho César”. Mình luôn kính trọng trí tuệ mẫn tiệp, nhìn trước thời đại, và nhân cách khảng khái, chấp nhận “mất hết” để bảo vệ nhận thức mà ông cho là đúng.
Tuy nhiên, do những lý do tế nhị, bài viết này mình cũng không đưa lên FB

————–
Cuối tháng 9 năm 1989, tôi từ Sài Gòn ra, vừa đến trụ sở báo Lao Động (51 Hàng Bồ, Hà Nội) thì cô Phạm Thị Châu, trưởng phòng hành chính đến gặp. Cô trao tấm danh thiếp của anh Trần Xuân Bách gửi cho tôi và háo hức kể: Xe đỗ trước cơ quan, bác ấy đi vào, nói “tôi xin gặp anh Tống Văn Công”. Em trả lời: “Thưa bác, anh Công về Sài Gòn. Hiện đang có mặt hai phó tổng biên tập là anh Huy Đan và Phạm Văn Nhàn. Bác có thể gặp anh nào ạ?” Bác ấy mở cặp lấy danh thiếp đưa cho em, nói: “Khi nào anh Công ra, đồng chí đưa giùm tôi nhé, nói là tôi đang đợi anh ấy gọi”.
Từ lâu tôi đã được ba người bạn có dịp gần gũi anh Trần Xuân Bách là nhà văn Nguyễn Khải gần anh khi còn làm báo quân khu 3 thời chống Pháp, dịch giả Lê Minh Đức gần anh ở ban Dân vận Trung ương và anh Đinh Gia Bảy ủy viên Ban Thư ký Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam từng làm việc dưới quyền của anh Bách lúc giúp bạn ở Campuchia, kể nhiều chuyện về anh Bách, “một người tài đức song toàn”. Tôi cũng được đọc nhiều bài viết của anh, rất hâm mộ, nhưng chưa có dịp gặp, không ngờ tôi lại được anh tìm! Trước khi vào Sài Gòn, tôi đã dự hội nghị nghiên cứu Nghị quyết Trung ương lần thứ 7 (Khóa 6), nên cảm nhận việc anh Trần Xuân Bách đến tìm là điều quan trọng.
Xin nhắc lại một kết luận của Nghị quyết trung ương 7:
Về tình hình thế giới:
Công cuộc cải tổ, cải cách, đổi mới ở một số nước xã hội chủ nghĩa đã thu được những thành tựu nhất định, nhưng ở một số nước gặp khó khăn gay gắt, có nước chủ nghĩa xã hội đang đứng trước thách thức lớn. Lợi dụng tình hình khó khăn trên đây ở một số nước xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ mở cuộc phản kích quyết liệt vào chủ nghĩa xã hội, bằng những thủ đoạn rất xảo quyệt: Răn đe về quân sự; cổ vũ chủ nghĩa đa nguyên chính trị; dùng kinh tế khuyến khích việc cải cách theo hướng phát triển kinh tế tư nhân, thị trường tự do tư bản chủ nghĩa.
Tình hình trong nước:
Những khó khăn về kinh tế và xã hội đã và đang bắt đầu xuất hiện ở nước ta, trong đó đặc biệt nhấn mạnh: các lực lượng bên ngoài đang tập trung đả kích, xuyên tạc Đảng ta không mạnh dạn cải cách chính trị, hạn chế dân chủ, hạn chế tự do báo chí, tự do sáng tác, phê bình.
Trong bốn khuyết điểm dẫn đến tình hình trên, có:”Buông lỏng công tác tư tưởng, thiếu tinh thần chiến đấu chống những tư tưởng, quan điểm lệch lạc, những hành động và lời nói sai trái.
Nghị quyết nhấn mạnh những nguyên tắc của chính sách: Xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên chính trị.
Như vậy, anh Trần Xuân Bách đang là nhân vật có “vấn đề”!
Sau khi cô Châu rời khỏi phòng, tôi gọi điện ngay cho anh Trần Xuân Bách. Giọng anh rất vui: “Bảy giờ tối, tôi đợi anh nhé”. Tôi đáp: “Tôi muốn cùng anh Phạm Văn Nhàn phó tổng biên tập đến thăm anh?” Anh Bách rất vui vẻ: “Ồ, càng nhiều anh em càng vui”.
Tôi không muốn một mình đến anh Bách vì đã có kinh nghiệm qua việc nhà văn Nguyên Ngọc gửi bài cho báo, tôi chưa đọc, nhưng cơ quan an ninh đã cử cán bộ đến yêu cầu được đọc trước! Tôi kể chuyện này với phó tổng biên tập Phạm Văn Nhàn (hiện nay, anh Nhàn ở khu nhà tập thể báo Lao Động, quận Cầu Giấy). Anh Nhàn nói: “Anh ấy bảo càng nhiều anh em càng vui, vậy ta rủ thêm Lưu Văn Hân, vì Hân quen thân với bên vợ anh Bách”. Tôi gọi điện rủ, anh Hân rất vui vẻ nhận lời (anh Lưu Văn Hân lúc ấy là Vụ trưởng Vụ báo chí, Bộ Văn hóa Thông tin, anh Trần Hoàn là bộ trưởng).
Ba chúng tôi đến biệt thự của anh Bách trên đường Phan Đình Phùng bằng chiếc u-oat của báo Lao Động do tài xế cựu chiến binh Nguyễn Văn Tiến lái. Có vài người mặc thường phục đứng trên vỉa hè dòm ngó. Tôi bảo với người bảo vệ là chúng tôi được anh Bách hẹn. Anh bảo về gọi điện thoại vào nhà xin ý kiến. Tôi cứ tưởng anh Bách sẽ cho người giúp việc ra đón chúng tôi, không ngờ anh đích thân chạy ra cổng. Tôi nói “chúng tôi đến quá một người!” Anh Bách cười vui “cảm ơn các anh, tôi rất vui!” Anh đưa chúng tôi lên lầu. Chị Bách chờ sẵn, mời chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn kê sát tường. Chị pha cà phê, gọt táo và cùng ngồi với chồng tiếp khách. Thấy bên cạnh tấm lịch treo tường có kẹp bài thơ, ký tên Bách Xuân, tôi hỏi đùa: “Muốn xin anh bài thơ này đăng trang văn nghệ của báo?” Anh nhìn chị, cười đáp: “Thơ mình chỉ dành riêng cho một bạn đọc này thôi”. Có lẽ, chị Bách nghĩ rằng mấy ông khách thấy chị quá trẻ so với anh, nên đã vui vẻ kể: “Hồi em mới lấy anh ấy, các bạn cứ trêu, sau lấy ông chồng quá đát vậy? Em trả lời, nhưng tâm hồn anh ấy rất trẻ!” Sao mấy chuyện vui, tôi kể cho anh Bách nghe về lớp nghiên cứu Nghị quyết Trung ương 7 của cán bộ cốt cán toàn quốc trước đây hơn một tuần. Anh Bách nghe rất chăm chú.
Lớp nghiên cứu này do ông Đào Duy Tùng ủy viên Bộ Chính trị phụ trách khối tư tưởng văn hóa thuyết trình. Ông nghe phản ánh ý kiến học viên ở các tổ thảo luận, tổng kết đợt học và giải đáp thắc mắc. Sau khi nghe ông Tùng giảng ở hội trường, ban tổ chức lớp học chia học viên theo ngành công tác vào các tổ thảo luận. Tôi dự thảo luận ở tổ báo chí, gồm các tổng biên tập, báo chí, đài, nhà xuất bản ở trung ương (có lẽ các tổ viên ngày ấy chỉ mỗi nhà thơ Hữu Thỉnh còn có mặt trong nguồn máy hiện hành). Tổ trưởng hướng dẫn thảo luận là anh Thái Linh, phó trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (đến Đại hội 7, anh Thái Ninh là trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, anh Hữu Thọ phó trưởng ban thường trực). Khi thảo luận câu hỏi “Vì sao Đảng ta không chấp nhận đa nguyên chính trị”, anh Bùi Tín, phó tổng biên tập Báo Nhân Dân xin phát biểu. Bùi Tín cho biết, anh rất lúng túng khi bị nhiều đồng chí đảng viên các đảng bạn ở Phương Tây hỏi vì sao đảng Cộng sản Việt Nam lại không chấp nhận đa nguyên. Theo Bùi Tín, bản chất cuộc sống là đa nguyên, thực tế Việt Nam cũng đang có những yêu tố đa nguyên: bên cạnh đảng Cộng sản có đảng Dân Chủ, đảng Xã Hội; Mặt trận Tổ quốc gồm có nhiều tổ chức Nông dân, Công đoàn, Thanh niên, Phụ nữ… mỗi giới có tờ báo nói tiếng nói của mình. Phải đa nguyên mới thực sự dân chủ. Anh Bùi Tín nói hơn 30 phút. Cả tổ im lặng lắng nghe. Tổ trưởng Thái Ninh ghi ghi chép chép, không tỏ ra sốt ruột. Không ngờ hôm sau, khi tổng kết và trả lời thắc mắc, ông Đào Duy Tùng đã gay gắt phê phán: “Thật đáng chê trách, tại hội nghị này, gồm những cán bộ tuyên huấn cốt cán của Đảng, lại có một đồng chí nồng nhiệt cổ vũ đa nguyên chính trị! Đồng chí đó không biết rằng, đa nguyên là luận điệu mị dân của các chính trị gia tư sản? Bọn chúng gồm những tập đoàn tài phiệt, cần có đa nguyên để cạnh tranh với nhau. Giai cấp công nhân có sứ mệnh độc quyền lãnh đạo cách mạng, chỉ cần liên minh chiến lược với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức cách mạng. Chủ nghĩa xã hội thực hiện tập trung dân chủ, phải chống đa nguyên. Hôm nay đòi đa nguyên, rồi ngày mai sẽ đòi đa đảng, phải không?”
Anh Bách trầm ngâm, rồi nói: “chúng ta đã thực hiện đa nguyên kinh tế, vậy phải thực hiện đa nguyên chính trị, bước tới bằng hai chân mới cân bằng, không bị vấp váp”. Anh hỏi thêm về Bùi Tín, nhưng tôi chỉ gặp anh Bùi Tín hai lần mà cả hai lần đều cùng là khách được mời ăn cơm. Lần đầu tháng năm 1975, ở Sài Gòn anh Phước Sanh cán bộ báo Quân đội Nhân dân mời dự bữa cơm có sếp của anh là phó tổng biên tập Bùi Tín; lần thứ hai ở Hà Nội, nhà thơ Hải Như mời Bùi Tín, bác sĩ Vân B và tôi, chỉ ít lâu trước khi anh Bùi Tín Đi họp báo nhân đạo và ở lại Pháp. Lúc ông Đào Duy Tùng chì chiết anh Bùi Tín, tôi ngồi ở hàng ghế ngay sau lưng anh.
Hơn 10 giờ khuya, anh Bách tiễn chúng tôi ra tận cổng. Trước khi chia tay, tôi đề nghị: bất cứ lúc nào, anh rảnh, tôi xin mời anh đến nơi tôi ở, số 14 Trần Bình Trọng, đối diện với Bộ Công an. Tôi muốn được anh giải đáp cho một số câu hỏi. Và tôi gợi ý: Anh nên cho dừng xe ở Nguyễn Du, rồi đi bộ vào cổng, tôi sẽ đón bên trong. Kể ra cũng buồn cười, đón ông ủy viên Bộ Chính trị mà phải lén lút như quan hệ với kẻ gian! Hồi đó, tôi vẫn nghĩ nơi ở của mình kín đáo lắm, nên đã từng tiếp đón nhiều bạn bè có lý lịch mà phía an ninh coi là không được trong sáng như Nguyễn Kiến Giang, Lê Đạt, Dương Tường, Phạm Thị Hoài… mãi sau này, tôi mới biết là mọi việc xảy ra ở báo Lao Động đều có trong hồ sơ của cơ quan an ninh! Biết đâu chuyện tôi sắp kể ra đây cũng không phải là ngoại lệ!
Chỉ vài hôm sau, anh Bách hẹn đến, từ hôm đó tôi may mắn được hầu chuyện anh. Tôi đã đặt những câu hỏi với tư cách một nhà báo mong muốn tìm thấy lộ trình đi tới tự do dân chủ cho dân tộc. Rất tiếc vì nhiều lý do, ý kiến tâm huyết của anh, một nhà cách mạng, một trí thức lớn nhất của đảng Cộng sản Việt Nam mà tôi ghi chép nhiều buổi, đã không thể phổ biến đúng lúc. Lý do là vì nền “báo chí nói tiếng nói của Đảng” không cho phép, nhưng lý do chính mà tôi phải nhận là bởi sự hèn kém của mình. Phần hồi ức này, tôi xin ghi lại một số câu hỏi và giải đáp của anh không chỉ có ý nghĩa lịch sử, mà nó vẫn đang còn nguyên giá trị thời sự trong tình hình hiểm nghèo của đất nước trước họa ngoại xâm, và nội xâm, đang rất cần dân chủ hóa để tăng nội lực của dân tộc. Và đây cũng là món nợ ân tình đối với anh, nhiều năm nay lòng tôi luôn bứt rứt.
Hỏi: Tháng 6 năm 1988, Nghị quyết Trung ương 5 cho rằng khuyết điểm nghiêm trọng nhất trong công tác xây dựng Đảng là “vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ”. Nghị quyết cho rằng “mở rộng dân chủ, đi đôi với tăng cường kỷ luật”, và phải “chống những mưu đồ lợi dụng dân chủ và công khai để chống lại sự nghiệp của Đảng và nhân dân”. Đến tháng ba năm 1989, Nghị quyết Trung ương 6 nhắc lại phải “mở rộng dân chủ, dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật”. Tháng tám năm 1989, Nghị quyết Trung ương 7 kết luận: “Xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên chính trị”.
Những kết luận nói trên, cho thấy “dân chủ” như một khái niệm rất mơ hồ, có thể thu hẹp lại, hoặc mở rộng ra. Nhưng mở rộng ra thì phải kèm với “tập trung”, với “kỷ luật”, nếu không thì sẽ xảy ra tình trạng vô chính phủ, hoặc bị bọn phản động có “mưu đồ lợi dụng dân chủ, công khai, chống lại sự nghiệp của Đảng và nhân dân?”
Đáp: Dân chủ không hề có chỗ cho thứ tự vô chính phủ nảy nở. Chế độ dân chủ thiết lập trên cơ sở một bản hiến pháp được xây dựng từ ý chí tự do của nhân dân lựa chọn hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Hiến pháp quy định thể thức bảo đảm tổng tuyển cử tự do, không phân biệt khuynh hướng chính trị, quy định cách thức hoạt động của nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, bảo đảm các quyền tự do của con người và sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật. Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu tuyên ngôn độc lập nước ta, đã nhắc lại tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ và tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, nói đến các quyền tự do của con người mà tạo hóa cho họ. Dân chủ là thể chế hóa các quyền tự do ấy. Cho nên dân chủ là quyền lực của dân, với tư cách là con người tự do. Dân chủ không phải do lòng tốt của những người lãnh đạo muốn bạn ơn cho dân, thấy thuận lợi thì mở rộng, thấy bất tiện thì thu hẹp.
Đại hội 6 kết luận lấy “dân làm gốc”. Dân chủ sẽ khởi động trí tuệ toàn dân tộc, “gốc” sẽ ngày càng vững mạnh, ngăn chặn quan liêu, tham nhũng, vô trách nhiệm. Chế độ dân chủ không có chỗ cho những ai muốn lợi dụng, bè phái. Chỉ có chế độ độc đoán, quan liêu, khép kín mới là rất tốt cho những kẻ xấu làm dụng quyền lực làm những điều phi pháp.
Hỏi: Chế độ dân chủ như vừa miêu tả ở trên có trái với “nền dân chủ xã hội chủ nghĩa” mà Nghị quyết Trung ương 7 kêu gọi xây dựng và phát huy?
Đáp: Chúng ta đã chọn mô hình giáo điều, lai ghép chủ nghĩa xã hội Stalin với chủ nghĩa xã hội Mao Trạch Đông. Liên Xô và các nước Đông Âu đang lâm vào khủng hoảng bởi mô hình Stalin, vi phạm dân chủ, duy ý chí, quan liêu, đặc quyền, đặc lợi. Thế giới xã hội chủ nghĩa phải cải tổ, đổi mới, giải quyết những mâu thuẫn, phá vỡ cái cũ, đạt tới các tiêu chí của thời đại là: dân chủ, khoa học, nhân đạo, hiện đại. Xu thế chủ yếu là chuyển sang sở hữu tư nhân, kinh tế hàng hóa, nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự.
Chúng ta đã đổi mới kinh tế, thực hiện sở hữu tư nhân, kinh tế thị trường. Đã đến lúc phải đổi mới chính trị, dân chủ hóa xã hội, từng bước thực hiện mục tiêu của chủ nghĩa xã hội mà Marx và Engels đã đề ra trong tuyên ngôn Cộng sản: sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người.
Không đổi mới chính trị nhịp nhàng với đổi mới kinh tế thì đến một lúc nào đó sự phát triển kinh tế cũng sẽ bị chựng lại, bởi những rào cản quan liêu, tham nhũng, hạn chế sáng kiến. Đổi mới kinh tế là thực hiện đa nguyên kinh tế, kinh tế nhiều thành phần sẽ làm cho xã hội có sự phân tầng, mỗi giai tầng có quyền lợi, nguyện vọng khác nhau, từ đó nảy sinh đa nguyên chính trị. Đổi mới chính trị là từng bước chấp nhận đa nguyên chính trị song song với đa nguyên kinh tế, đúng như Marx, Engels: “Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội – cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra – cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của ấy”. (Lời tựa cho tuyên ngôn của đảng Cộng sản bản tiếng Đức, 28-6-1883).
Từ một xã hội khép kín, một quốc gia đóng cửa, chúng ta khởi xướng đổi mới, mở cửa, làm bạn với tất cả các nước. Vậy thì trong nước cũng phải là một xã hội mở, chấp nhận tự do báo chí, tự do ngôn luận, nhiều tiếng nói có quan điểm khác biệt đối thoại, thương thảo, quyết định thuộc về đa số, nhưng thiểu số được tôn trọng và bảo vệ. Nhà nước bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền con người và quyền công dân theo hiến pháp, không được ban hành luật lệ vi hiến để hạn chế các quyền ấy. Đảng lãnh đạo, cầm quyền, nhưng quyền lực thuộc về nhân dân. Do đó, đảng phải nằm trong chứ không nằm ngoài và không được đứng trên xã hội.
Hỏi: Chúng ta có sợ đa nguyên chính trị sẽ làm suy yếu đảng Cộng sản Việt Nam và cuối cùng là mất quyền lãnh đạo? Bởi vì chấp nhận đa nguyên chính trị thì phải thực hiện các quyền tự do, trong đó có quyền lập hội, từ đó xuất hiện đảng đối lập có cương lĩnh cạnh tranh với đảng Cộng sản?
Đáp: Đó chính là sự ngộ nhận của những ai có thói quen độc quyền chân lý, theo chủ nghĩa giáo điều. Xu thế thời đại là tự do, dân chủ. Cách mạng khoa học kĩ thuật, bùng nổ thông tin, giao lưu quốc tế làm cho xu thế đó chuyển động rất nhanh chóng và có tính dây chuyền. Không ai có thể bưng bít thông tin, ngoảnh mặt trước đòi hỏi của nhân dân, ngăn chặn sự vận động tất yếu của cuộc sống. Bản chất của cuộc sống là đa nguyên. Đổi mới chính là thuận theo bản chất cuộc sống xã hội vốn mang tính đa nguyên cả về kinh tế, chính trị, văn hóa. Trên kia đã nói, đang nằm trong chứ không nằm ngoài và đứng trên xã hội, có nghĩa là thế nào? Đổi mới chính trị, trước hết Đảng phải tự đổi mới mình, phải trở thành đảng dân tộc, kết tinh truyền thống dân tộc và trí tuệ thời đại. Đảng phải thực hiện dân chủ mạnh mẽ từ trên xuống dưới, từ Bộ Chính trị trở đi.
Đảng không bao biện lấn sân làm thay nhà nước, không duy trì chế độ đảng trị, toàn trị. Nhà nước là công cụ của dân. Nhà nước quản lý theo luật và bằng chính sách chứ không làm thay doanh nghiệp. Kế hoạch nhà nước nằm trong chứ không nằm ngoài và đứng trên thị trường. Ngược lại, nếu duy trì tình trạng như hiện nay thì không phải làm cho Đảng, cho nhà nước vững mạnh mà là tạo môi trường xã hội dung dưỡng độc đoán, lạm quyền, tham nhũng làm thoái hóa Đảng và mục ruỗng Nhà nước.
Kinh tế thị trường đòi hỏi phải có nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Trong hệ tư tưởng Đức, Marx và Engels cho rằng “hình thức thương mại, bởi lực lượng sản xuất đang có quyết định ở một giai đoạn lịch sử và trở lại quyết định lực lượng sản xuất, đó là xã hội dân sự” và “xã hội dân sự bao gồm toàn bộ thương mại vật chất của các cá nhân ở một giai đoạn phát triển nhất định của lực lượng sản xuất”. Hai ông cho rằng, xã hội dân sự tồn tại ở mọi thời đại với tư cách tổ chức xã hội trực tiếp bắt nguồn từ sản xuất và thương mại, đồng thời tạo thành nền tảng của nhà nước và mọi kiến trúc thượng tầng tinh thần khác. Các chế độ độc tài, phát xít Hitler, Mussolini thực hiện chế độ toàn trị xóa bỏ xã hội dân sự đã bị thất bại. Mô hình xô viết Stalin cũng xóa bỏ xã hội dân sự là nguyên nhân đưa tới quan liêu hóa, khủng hoảng xã hội. Tình trạng đó chúng ta phải khắc phục. Nhiều năm qua các đoàn thể quần chúng đều bị chính trị hóa, hành chính hóa, không đại diện quyền lợi cho đoàn viên, hội viên, hạn chế sáng kiến của họ, quan trọng hơn là chỉ tiêu sự góp ý thẳng thắn của họ đối với đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước. Thực hiện quyền tự do lập các hội, đoàn, các câu lạc bộ, hoạt động theo hướng ích nước lợi nhà, tương thân, tương ái, tự trang trải về tài chính, đó chẳng những đáp ứng nguyện vọng chính đáng của quần chúng mà còn khôi phục xã hội dân sự, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền, làm lành mạnh kinh tế thị trường.
Trong môi trường dân chủ, thượng tôn pháp luật, đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như mọi tổ chức và cá nhân có điều kiện để phát triển lành mạnh. Đảng Cộng sản Việt Nam có một quá trình lịch sử lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, khởi xướng đổi mới, nay lại mạnh mẽ tự đổi mới mình để trở thành đảng của dân tộc, không dùng quyền lực thay cho năng lực, trí tuệ. Dân chủ đưa Đảng vào lòng dân tộc. Liệu có đảng đối lập nào đưa ra cương lĩnh trái với lợi ích dân tộc mà giành được lòng dân đối với đảng Cộng sản? Chỉ có làm ngược lại, không chịu đổi mới chính trị, cố giữ thể chế độc quyền, trong khi xã hội đã chuyển sang đa nguyên về kinh tế, đa nguyên thành phần xã hội, tài nguyên tư tưởng, văn hóa thì như vậy không khác nào đặt bản trong tình thế của một cây cổ thụ đứng đơn độc trước bão tố!
Hỏi: Có nên duy trì các chỉ đạo báo chí của Ban Tư tưởng Văn hóa trung ương như hiện nay? Thực dân Pháp đã từng chấp nhận quyền tự do báo chí đối với nhân dân nước Việt Nam thuộc địa. Chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có hai lần thực hiện tự do báo chí, lần đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám cho đến toàn quốc kháng chiến, lần thứ hai sau 30 tháng tư 1975 với báo tư nhân Tin Sáng cho đến tháng 6 năm 1981. Cả hai lần ấy, báo chí tư nhân đều có những đóng góp rất tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đổi mới chính trị, phải chăng đã đến lúc chuyển tự do báo chí tự quyền “tự do của tập thể” sang “quyền tự do của mỗi người” như Marx, Engels nói, như Nguyễn Ái Quốc đòi hỏi? Trong sách “Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương”, Nguyễn Ái Quốc viết: “Tôi gọi báo tức là một tờ báo về chính trị, về kinh tế thì văn học như chúng ta đã thấy ở châu Âu và các nước châu Á khác, chứ không phải một tờ báo do chính quyền lập ra”. Tại sao chúng ta không thực hiện ước nguyện của Hồ Chí Minh từ năm 1919 về quyền tự do báo chí trong bản yêu sách gửi hội nghị Hòa Bình Versailles?
Đáp: Ngày 24 tháng 9 năm 1982, Việt Nam đã ký kết gia nhập Công ước về các quyền dân sự và chính trị. Công ước này có quy định quyền tự do ngôn luận: mọi người có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp; được tự do ngôn luận bao gồm tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến bằng các hình thức tuyên truyền miệng, viết ra, in, tự do sáng tạo các hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.
Công ước đòi hỏi các quốc gia thành viên cam kết không hạn chế hoặc hủy bỏ những quyền tự do tính phổ biến của nhân loại đã được quy định ở đây. Nhà nước ta sẽ phải sớm sửa đổi luật báo chí, luật lập hội, thực hiện tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội như các quốc gia dân chủ trên thế giới.
Cuối năm 1989 anh Trần Xuân Bách có bài phát biểu “Chủ nghĩa xã hội thật sự là gì?” Nội dung bài ấy tương tự những điều anh trả lời trên đây. Nhiều người cho rằng anh Trần Xuân Bách chưa bao giờ nói đến “đa đảng”. Thật ra chấp nhận đa nguyên chính trị tức là chấp nhận sự có mặt của các tầng lớp, các nhóm có lợi ích khác nhau, có quan điểm chính trị khác nhau, cùng tồn tại, hợp tác và đấu tranh. Chấp nhận đa nguyên chính trị tức là đã chấp nhận đa đảng sẽ diễn ra ngày sau đó.
Dịp tết 1990, vài tháng trước khi bị kỷ luật ra khỏi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, anh Trần Xuân Bách có sáng tác bài thơ sau đây.
Bài thơ khai bút 1990
Ngày xuân nhớ cụ Tú Xương,
Cố nhân chính trực, đồng hương nghĩa tình.
Lẳng lặng mà nghe tiếng nói dân.
Lấy dân làm gốc phải nghe dân.
Trí khôn thiên hạ không hề thiếu.
Chỉ sợ người ngu thích kẻ đần.
Nhà thơ Hải Như đề nghị thay chữ “mình” cho chữ “người” ở câu cuối. Anh Bách tiếp thu nhưng bảo, lấy làm tiếc vì đã phổ biến cho nhiều bạn bè.
Chiều thứ 5, ngày 22 tháng 3 năm 1990, anh Bách gọi điện bảo tôi, 7 giờ tối đến nhà anh, có chuyện rất cần biết. Cả ba anh em, Lưu Văn Hân, Phạm Văn Nhàn và tôi cùng đến. Trên lề đường trước nhà anh có nhiều người mặc thường phục đứng trên vỉa hè săm soi số xe. Anh Bách vẫn ra tận cổng đón chúng tôi. Chị Thịnh vẫn vui vẻ pha cà phê, gọt táo mời bạn bè. Anh Bách kể chuyện Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khai mạc từ ngày 12-3. Anh đã bị phê phán rất dữ dội. Anh cho rằng, mình chắc chắn sẽ bị đưa ra khỏi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, thậm chí có ý kiến đòi khai trừ anh ra khỏi Đảng. Tôi tỏ ý băn khoăn, chẳng lẽ lại có thể xảy ra điều tồi tệ đến mức ấy, hoàn toàn trái với tinh thần đổi mới, nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật của Đại hội 6? Anh Bách kể: “Một đồng chí trong Bộ Chính trị cho rằng, việc làm của đồng chí Trần Xuân Bách đã khiến cho đồng chí, bạn bè lo âu, còn kẻ thù thì vô cùng mừng rỡ”. Một người đã bị nhận xét tới mức đó thì làm sao có thể coi trong Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương?” Anh Bách cho biết nhận xét đó không phải là ý kiến cá biệt, quan trọng hơn, đó là quan điểm của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Chỉ có hai ủy viên bộ chính trị, Nguyễn Cơ Thạch và Võ Văn Kiệt cho rằng, từ quan điểm “lấy dân làm gốc”, anh Bách muốn công cuộc đổi mới phải “đi hai chân” để đất nước phát triển và đảng vững mạnh.
Hôm ấy, chia tay anh chị, chúng tôi buồn rười rượi, dù anh động viên: “Cho dù sắp tới sự nghiệp đổi mới có bị khó khăn hơn. Tuy nhiên cái gì thuộc về quy luật, xu thế thì nó vẫn cứ đi tới, dù có chậm”.
Ngày 27-3-1990 Hội nghị Trung ương lần thứ 8, khóa 6, thông qua nghị quyết có những nội dung quan trọng như sau:
… Nghị quyết đã chỉ ra tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng các nước xã hội chủ nghĩa đối với nước ta, trước hết là về các mặt chính trị, tư tưởng: một số người hoài nghi chủ nghĩa xã hội, giảm lòng tin đối với Đảng và nhà nước, một số cán bộ, đảng viên tiếp nhận những tư tưởng, quan điểm sai lầm về cải tổ, cải cách của nước ngoài một cách máy móc, giáo điều; một số ít phần tử cơ hội bất mãn đang đẩy mạnh hoạt động chống lại sự lãnh đạo của đảng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng, đòi dân chủ không giới hạn.
Hội nghị nhận định: đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch đang còn nước ta là một trọng điểm chống phá, ráo riết thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình bằng những thủ đoạn kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa và quân sự rất thâm độc. Cuộc đấu tranh giai cấp giữa cách mạng và phản cách mạng, giữa hai con đường chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa ta và địch trên phạm vi thế giới, ở nước ta và ba nước Đông Dương đang diễn ra gay gắt, quyết liệt và phức tạp.
Việc Bộ Chính trị và ban bí thư tự phê bình và Trung ương góp ý kiến phê bình Bộ Chính trị, ban bí thư được tiến hành một cách nghiêm túc, dân chủ, thẳng thắn, chân thành và thân ái, với tinh thần trách nhiệm và xây dựng, đã góp phần tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong trung ương.
Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa 6 đã quyết định cách chức ủy viên Bộ Chính trị, bí thư trung ương, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng đối với đồng chí Trần Xuân Bách vì đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức và kỷ luật của Đảng, gây ra nhiều hậu quả xấu.”
Sau khi anh Bách bị cách chức, bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch xin nhận anh về làm cán bộ nghiên cứu của Bộ Ngoại giao. Nhưng lúc này chính cái ghế của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cũng đang lung lay. Cũng như Trần Xuân Bách, Nguyễn Cơ Thạch hiểu rất rõ nguyên nhân suy sụp của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là thiếu dân chủ, vi phạm nhân quyền, trái với xu thế thời đại. Nguyễn Cơ Thạch có quan điểm, về đối nội, dân chủ hóa xã hội, đối ngoại cần mau chóng quan hệ bình thường với Hoa Kỳ và thế giới dân chủ. Trong khi đó, tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và nhiều người trong Bộ Chính trị cho rằng phe xã hội chủ nghĩa suy sụp là do các thế lực thù địch đứng đầu là đế quốc Mỹ âm mưu phá hoại. Do đó, để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng phải cầu hòa với Trung Quốc. Trung Quốc dù có tư tưởng bành trướng thì cũng vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa anh em. Để lấy lòng Bắc Kinh, Bộ Chính trị đứng đầu là tổng bí thư Nguyễn Văn Linh loại bỏ Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch một cách vô nguyên tắc, không cho tham gia đoàn cấp cao đi Hội nghị Thành đô. Sau khi Nguyễn Cơ Thạch bị loại, anh Bách cũng xin nghỉ việc.
Anh Trần Xuân Bách bị kỉ luật ít lâu thì phó tổng biên tập Bùi Tín của báo Nhân Dân nhân được cử đi dự họp báo Nhân Đạo, đã trả lời phỏng vấn đài BBC về dân chủ hóa, bị báo Nhân Dân thi hành kỉ luật, và xin tị nạn chính trị tại Pháp.
Sau 20 năm nhìn lại, thực tế diễn ra trên thế giới và trong nước đã cho thấy ý kiến Trần Xuân Bách lòng hoàn toàn chính xác.
Tình hình thế giới:
Do duy trì quá lâu mô hình xô viết cho đến ngày sụp đổ đã khiến cho nhân dân các nước Nga và Đông Âu cạn niềm tin đối với các đảng Cộng sản và cánh tả. Ở liên bang Nga, suốt 20 năm qua, thời hậu Liên Xô, đảng Cộng sản, tổng bí thư G. Zyuganov chỉ nhận được tối đa khoảng 20% số phiếu trong các cuộc bầu cử. Trong khi đó, Đảng Nhân dân Campuchia thì chấp nhận “cuộc chơi” đa đảng đã bị lép vé, nhưng nhờ giương cao ngọn cờ dân tộc, nay đã giành được thế thượng phong trên chiến trường đất nước. Hiện nay, đợt sóng dân chủ lần thứ tư đang cuồn cuộn, nước Miến Điện gần sát Việt Nam đã chuyển từ quân phiệt sang dân chủ.
Sau 20 năm tái lập quan hệ đồng chí, trên cơ sở “16 chữ vàng” và “4 tốt” với Trung Quốc, ta càng ngày càng bị họ dồn ép: thành lập thành phố Tam Sa bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa; mời thầu dầu khí ngay trên vùng đặc quyền kinh tế của ta; xua hàng vạn tàu cá, tàu vũ trang vào vùng biển Trường Sa; đòi “lấy máu người Việt làm lễ tế cờ trong trận chiến Nam Sa!”
Kỷ niệm 10 năm hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA), chính phủ Việt Nam tuyên bố: Việt Nam nhất quán chủ trương sẵn sàng cùng Hoa Kỳ nổ lực đưa quan hệ hai nước Việt Mỹ lên tầm cao mới. Ngày 2 tháng 8 năm 2012 Thượng viện Hoa Kỳ thông qua nghị quyết ủng hộ vai trò ASEAN trong vấn đề biển Đông, ủng hộ tuyên bố DOC năm 2002 giữa ASEAN – Trung Quốc. Hiện nay, Việt Nam đang tích cực đóng góp vòng đàm phán thứ 13 hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Tình hình trong nước:
Nghị quyết trung ương 4 (khóa 11) nhận định “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”. Tham nhũng đã từ vài “con sâu” trở thành cả “bầy sâu”. Sự khiếu kiện đất đai dai dẳng bởi nạn cướp đất, đẩy nông dân tới bước phản ứng bằng bạo lực. Đội quân chủ lực của cách mạng giải phóng dân tộc đã nãy sinh cựu chiến binh Đoàn Văn Vươn làm bom tự tạo chống cưỡng chế phi pháp. Một trăm hộ dân Văn Giang đương đầu với 1000 cảnh sát vũ trang. Giai cấp công nhân được mệnh danh là giai cấp lãnh đạo, có đến 30 % số người bị suy dinh dưỡng. Họ đã tổ chức hơn 5000 cuộc đình công đòi tiền lương, cải thiện bữa ăn, nhiều cuộc huy động từ 5.000 đến 10.000 người, nhưng vẫn bị coi là bất hợp pháp, vì không được sự chỉ đạo của công đoàn! Trí thức bị cấm phản biện bằng Nghị định 97 của thủ tướng. So sánh tư thế của nhà nước Việt Nam với nhà nước Philippines, Hàn Quốc, Nhật Bản trong cuộc đấu tranh chống Trung Quốc xâm phạm chủ quyền, người Việt không khỏi hổ thẹn. Mỹ sẵn sàng giúp Philippines bảo vệ chủ quyền, trong khi đó đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện dân chủ, nhân quyền làm điều kiện “thế chấp”!
Nghĩ về vận nước, không khỏi chua xót nhớ Trần Xuân Bách! Nguyện vọng khoán hộ của Kim Ngọc tuy đã thành hiện thực, từng đưa Việt Nam vào hàng nước xuất khẩu lương thực lớn thứ hai thế giới. Nhưng cho đến nay, giấc mơ về quyền sở hữu ruộng cày và cuộc sống no đủ với hạt gạo do mình làm ra của người dân vẫn còn xa ngái! Bao giờ tư tưởng Trần Xuân Bách trở thành hiện thực trong cuộc sống dân tộc?
Ngày 20-5-2002 tại nhà anh Trần Xuân Bách ở (Trung Tự) Hà Nội, nhà thơ Hải Như đã viết bài thơ tặng anh:
Trần Xuân Bách
Chắc chắn lịch sử sau này sẽ dành một trang về anh,
– khách quan phán xử
Tôi chỉ xin lưu ý nhỏ mai đời:
Cái Trần Xuân Bách mất rõ rồi, nhưng còn cái được,
Tuyệt vời sao!
Chia sẻ tiếng sét giáng xuống đời anh,
Có một người đàn bà nguyện làm ngọn thu lôi vượt qua giông bão.
(Chúng ta từng sống một thời vô luân để hai chữ “liên quan” đè lên cơm áo).
Trần Xuân Bách. Anh là nạn nhân và cũng là tác giả tội ác.
Đúng không nào?
Trên chục năm dài lê thê con chim bằng gậm nhấm nỗi cô đơn
Tâm hồn vẫn sáng trong không rũ buồn vì khép cánh…
Câu “chúng ta từng sống một thời vô luân để hai chữ ‘liên quan’ đè lên cơm áo” tôi cảm thấy như chỉ trích riêng mình!
Sau khi anh Trần Xuân Bách bị kỷ luật, tôi còn tiếp tục làm Tổng biên tập báo Lao Động ba năm nữa, nhưng không đến thăm anh một lần nào! Tôi tự bào chữa: vì thời gian này tôi phải liên tục đối phó với quá nhiều áp lực, chống đỡ cho tờ báo. Vì tôi đặt tòa soạn báo Lao Động ở Sài Gòn; gia đình, vợ con tôi cũng ở Sài Gòn, cho nên thời gian tôi có mặt ở Hà Nội rất eo hẹp. Nhưng mọi lý do vẫn không đủ để cho tôi có thể từ chối cho mình một chữ “Hèn”! Anh Hải Như an ủi: “Mình biết, rất nhiều anh nhờ anh Bách mà leo lên ‘quyền cao chức trọng’, nhưng sau khi anh bị kỷ luật, suốt bao năm có anh nào dám đến thăm ông thầy cũ của họ đâu!”
Cũng đừng trách họ hèn, bởi chúng ta phải sống ‘một thời vô luân’ mà!”
Ngày anh Bách qua đời (1-1-2006), nhà thơ Hải Như viết bài “Vĩnh biệt người bạn cùng quê”, có câu này:
“Ngày anh đi xa, trên báo Nhân Dân, bạn đọc thấy những gì thuộc về anh đều được trả lại”
Tôi nghĩ, Trần Xuân Bách không hiểu rõ cụ Hồ bằng Nguyễn Văn Linh. Ai thân cận với cụ Hồ hơn Vũ Đình Quỳnh? Vậy mà Vũ Đình Quỳnh không đòi hỏi “đa nguyên” như Trần Xuân Bách, vậy mà vẫn bị đi tù! Nhà thơ Hải Như cũng đã không chính xác khi vội mừng “những gì thuộc về anh đều được trả lại”! Cho dù điếu văn có nhắc lại tất cả công lao của Trần Xuân Bách, cho dù đã kể ra đủ các loại huân chương mà anh đã được trao tặng, cho dù cuối cùng, anh đã được nằm trong nghĩa trang Mai Dịch, nơi chỉ dành riêng cho các vị đại công thần của chế độ nhưng tư tưởng cao cả mà Trần Xuân Bách hằng tâm nguyện và dám hiến mình, đâu đã được trả lại?!
Đọc tiếp:
BẠN BIẾT GÌ VỀ NHÀ CÁCH TÂN TRẦN XUÂN BÁCH ?
Tác giả: theo Blog Ngô Minh
MỘT TẤM LÒNG SON
Vũ Cao Đàm Bùi Thế Vĩnh Nguyễn Mạnh Tôn

 
 Ông Trần Xuân Bách là một nhà lãnh đạo có những tư tưởng cải cách rất mạnh dạn đã dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ trong Đảng CSVN và bản thân ông phải nhận những kỷ luật nặng nề của Đảng.Nhân ngày giỗ đầu của ông (1/1/2007) những người thuộc nhóm cộng sự của ông đã viết bài gửi một tờ báo đã từng viết về tư tưởng cải cách của ông nhưng rất tiếc bài viết đã không có may mắn được xuất hiện trên công luận. Nhân kỷ niệm làn thứ năm ngày ông mất (1/1/2011) nhóm cộng sự xin gửi bài viết này tới trang Bauxite Việt Nam để tỏ lòng tưởng nhớ kính cẩn tới một chí sỹ đã dành những năm tháng cuối đời của mình cho một ý tưởng cải cách chưa thành đạt của ông. Vũ Cao Đàm
Hôm nay là giỗ đầu anh Trần Xuân Bách. Chúng tôi xin thành kính gửi gắm những tình cảm sâu nặng tới anh một chí sỹ đã dành trọn những năm tháng cuối cùng của cuộc đời cho ý tưởng trong sáng vì sự phát triển của đất nước. Vào cuối năm 1989 trong quá trình chuẩn bị Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) chung tôi nhận được giấy mời đến Văn phòng Trung ương ĐCSVN để làm việc với anh Trần Xuân Bách. Chúng tôi được tập hợp thành một nhóm nghiên cứu gồm 5 người: Lê Hồng Tâm nhà kinh tế tên thật là Phó Bá Tòng em ruột của Giáo sư Phó Bá Long (Ông Phó Bá Long trước 1975 là Hiệu trưởng Trường Chình trị Kinh doanh Đại học Đà Lạt sau là giáo sư Đại học Georges Town Hoa Kỳ); Vũ Cao Đàm viện trưởng Viện nghiên cứu Chính sách thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ; Bùi Thế Vĩnh viện trưởng Viện Hành Chính học Học viện Hành chính Quốc gia; Nguyễn Mạnh Tôn chuyên viên Ngân hàng Ngoại thương và Nguyễn Thanh Sơn chuyên viên Ban Công nghiệp Trung ương ĐCSVN. Hai người lớn tuổi nhất là anh Tâm và anh Sơn đã mất. Ba người còn lại chúng tôi đều đã lần lượt bước qua tuổi bảy mươi vì vậy chúng tôi mong muốn được ghi nhận lại một vài cảm nghĩ với tư cách là những cộng sự và nhân chứng trực tiếp về những điều anh Bách trăn trở trong suốt những năm cuối đời của anh. Sau nhiều buổi trao đổi để “phát hiện” chúng tôi anh Bách đã giao cho mỗi người chúng tôi phụ trách một chuyên đề: Lê Hồng Tâm nghiên cứu về chính sách kinh tế để phục hưng đất nước; Bùi Thế Vĩnh – biện pháp giải phóng lực lượng sản xuất; Vũ Cao Đàm – hệ thống chính trị trong tiến trình cải cách kinh tế; Nguyễn Thanh Sơn – chính sách phát triển nhân lực; Nguyễn Mạnh Tôn – biện pháp chống lạm phát. Công bằng mà nói nhiều nội dung chúng tôi bàn thời đó còn khác lạ so với những điều được công nhận ngày nay nhưng ngược lại cũng có nhiều biện pháp cải cách ngày nay đã vượt rất xa những điều chúng tôi bàn thời đó; tuy nhiên do anh Bách luôn mạnh dạn gọi sự vật bằng tên thật của nó cho nên đã dẫn đến những hệ luỵ như chúng ta đã chứng kiến. Toàn bộ những nghiên cứu của chúng tôi đã được anh Bách xem xét rất thận trọng và cuối cùng anh đã tóm lược (rất kín kẽ) như sau: Thứ nhất cần mạnh dạn thực hành chính sách kinh tế theo kiểu chính sách kinh tế mới của Lênin và anh Bách đã nói theo cách đã sử dụng từ Đại hội ĐCSVN lần thứ VI là “kinh tế thị trường” với sự tham gia của mọi thành phần xã hội; Thứ hai theo kinh tế quyết định luận của Marx đã đa thành phần kinh tế mà anh gọi là “đa nguyên kinh tế” thì tất yếu sẽ dẫn đến “đa thành phần” trong xu hướng chính trị mà anh cũng thẳng thắn gọi là “đa nguyên chính trị”. Chúng tôi muốn lưu ý anh chưa một lần nào nói đến hai chữ “đa đảng”; Thứ ba anh đưa ra nhận định khái quát “Thị trường và đa nguyên là những thành tựu nổi bật của nhân loại”. Thứ tư anh luôn nhắc đến ý tưởng hàn gắn vết thương dân tộc. Chúng tôi nhớ mãi một lần anh nói đấu tranh cho công bằng xã hội là lý tưởng cao cả của các nhà cải cách xã hội nhưng đáng tiếc cải cách ruộng đất và cải tạo tư sản lại là hai cuộc vận động đã mắc những sai lầm dẫn tới sự chia rẽ dân tộc lớn nhất trong lịch sử nước nhà. Về kinh tế thị trường anh Trần Xuân Bách luôn khẳng định đó là con đường duy nhất dẫn đến dân giàu nước mạnh; về đa nguyên chính trị anh luôn khẳng định đó là một đảm bảo thực tế cho việc hình thành một nền kinh tế thị trường thực thụ và là con đường tất yếu khắc phục sự mất dân chủ trong xã hội xóa bỏ những nhóm độc quyền thao túng chính quyền. Trong suốt những ngày làm việc với anh Bách chúng tôi học được ở anh tấm gương làm việc nghiêm túc. Anh đọc và trao đổi ý kiến rất tỉ mỉ về tất cả những công trình của các nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước mà chúng tôi giúp anh sưu tầm. Anh rất thích những tài liệu nguyên gốc bằng tiếng Pháp chẳng hạn những bài viết về kinh tế thị trường trong chủ nghĩa xã hội của Boukharin; những bức thư đầy tâm huyết với những dự báo sắc sảo về sự diệt vong của nhà nước soviet của nhóm Kameniev và Zinôviev chống quan điểm độc tài trong đường lối tổ chức chính quyền của Lênin. Anh luôn luôn tự viết tất cả những bài anh cần phát biểu trên các diễn đàn. Sau một thời gian thảo luận trong nhóm chúng tôi anh Trần Xuân Bách có hai lần đưa quan điểm của mình thảo luận trong khuôn khổ những diễn đàn rộng hơn: một lần với các nhà khoa học tại phòng họp của Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) Việt Nam ở số 53 phố Nguyễn Du Hà Nội một lần cũng với các nhà khoa học tại Phòng họp của Ban Khoa Giáo Trung ương Đảng ở số 10 phố Nguyễn Cảnh Chân Hà Nội. Trong lần họp ở Liên hiệp các hội KH&KT một người nào đó đã viết bài tường thuật đăng trên một tờ báo chính thống sau đó không thấy có bài phản bác hoặc ủng hộ nào chính thức trên công luận. Trước khi khai mạc Hội nghị BCHTƯ lần thứ VII của Đảng CSVN dự định vào cuối năm 1989 anh Trần Xuân Bách chuẩn bị bài phát biểu trong đó đề cập hai nội dung về kinh tế thị trường và đa nguyên chính trị. Anh đưa bài phát biểu cho nhóm chúng tôi thảo luận để đóng góp ý kiến. Khi đó anh Vũ Cao Đàm có nêu câu hỏi: “Anh cân nhắc thêm xem phát biểu bây giờ liệu có quá sớm không?” anh Bách đã trả lời ý là “Không quá sớm và cũng không quá muộn”. Cuối cùng anh vẫn quyết định trình bày quan điểm của mình tại Hội nghị Trung ương lần thứ VII và kết cục như chúng ta đã thấy anh bị khai trừ khỏi Ban Chấp hành Trung ương và sau đó là khai trừ khỏi Đảng CSVN. Tuy là những người có nhiều cơ hội làm việc với các nhà lãnh đạo nhưng chúng tôi vẫn không khỏi ngỡ ngàng vì cách làm việc của anh: khi anh cần gặp riêng một người nào đó trong chúng tôi anh hầu như không cho thư ký gọi chúng tôi lên văn phòng mà chính anh đến tận nơi chúng tôi làm việc với chiếc xe Peugeot 404 đã cũ không có bảo vệ và cần vụ đi cùng (cần vụ là cách gọi những người phục vụ sinh hoạt cho các nhà lãnh đạo) mặc dầu khi đó anh đã là nhà lãnh đạo rất cao cấp của ĐCSVN. Những lần làm việc như thế thường khi anh ngồi riêng với chúng tôi cả buổi cũng không có thư ký không có bảo vệ và cần vụ chỉ một mình anh. Có lần ngồi quá trưa chúng tôi lo anh đói hỏi anh có muốn ăn chút gì không và anh đã rất hào hứng ăn nắm xôi gói lá dong riềng mà các chị trong cơ quan chúng tôi ra phố mua ở các quán bán xôi dành cho dân nghèo. Sau khi anh nhận kỷ luật của Đảng có một vị lãnh đạo cao cấp của Đảng mời anh ra làm cố vấn anh đã cáo lỗi khước từ. Anh từ chối tất cả những đề nghị phỏng vấn của các nhà báo nước ngoài. Anh cũng đã nhanh chóng trả ngôi biệt thự sang trọng trên phố Phan Đình Phùng dọn về ở khu Trung Tự. Anh chị cùng gia đình ở một phần còn một phần sử dụng để mở lớp mẫu giáo và chính anh chị trực tiếp chăm sóc nuôi dạy các cháu cho đến khi anh qua đời. Trong số những kỷ niệm còn lưu đọng mãi trong chúng tôi là hồi tết nguyên đán năm 1990 anh chị mời chúng tôi đến biệt thự mà anh chị được Văn phòng Trung ương Đảng bố trí trên phố Phan Đình Phùng (thời Pháp có tên là phố Carnot một trong những phố đẹp nhất của Hà Nội hiện nay). Chúng tôi vô cùng sững sờ: Trong căn biệt thự sang trọng chúng tôi nhận ra toàn một loại đồ gỗ tồi tàn mà thời đó được gọi là bàn ghế “tài chính” tủ “tài chính” giường “tài chính” nghĩa là những đồ gỗ do Bộ Tài chính đóng hàng loạt bằng gỗ tạp để phân phát đồng loạt cho cán bộ nhà nước các cấp từ khi vào tiếp quản các thành phố lớn năm 1954. Chúng tôi nhìn quanh bàn làm việc của anh thấy dán chi chít những bài thơ mộc mạc với nét chữ nắn nót mực tím của các cháu viết tặng bố mẹ. Chúng tôi được anh chị tiếp đón với những món mứt đơn sơ truyền thống nhưng thật ấm áp như những người trong nhà. Tuy là vợ một nhà lãnh đạo cao cấp nhưng chị xử sự thật khiêm nhường chị giản dị xưng “em” với chúng tôi không thể hiện chút gì là cao xa theo kiểu các mệnh phụ phu nhân. Nhân ngày giỗ đầu của anh chúng tôi xin được thắp một nén nhang kính cẩn tưởng nhớ anh con người đã dành trọn những năm tháng cuối đời cho một tư tưởng cải cách xã hội chưa thành đạt của anh.

9 tháng 5, 2018

Tứ khúc về Tướng Vĩnh

Tác giả: Nguyễn Hồng Lam

Ngay sau khi Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Phú Thọ ra quyết định khởi tố bị can, ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với ông Phan Văn Vĩnh, trên trang mạng xã hội cá nhân của ông Nguyễn Hồng Lam đã có một bài viết tóm lượt lại mốt số huyền thoại của Tướng Vĩnh. Sau đây Ban biên tập xin giới thiệu nội dung bài viết của ông.
KD: Từ ông Tướng thành kẻ tù tội; từ nổi tiếng thành tai tiếng, cách nhau mỗi chiếc ghế quyền lực đã bị tha hóa.
Nhân tính không bằng Trời tính, là vậy!
Bạn bè gửi cho bài viết này. Xin đăng lên để bạn đọc chia sẻ
                                                 —————
Ông Phan Văn Vĩnh – Nguyên trung Tướng, Nguyên Tổng Cục trưởng Tổng Cục Cảnh sát, Bộ Công an
1. Cuối thập niên 1970, vừa được phân về phụ trách công an một xã vùng chiêm thuộc tỉnh Hà Nam Ninh (cũ), anh công an trẻ đã phải đối mặt ngay với một vụ án rất… nhà quê: HTX bỗng dưng bị trộm cạy kho khuân mất gần 1 tấn thóc giống. Thóc giống thì tất nhiên đắt hơn thóc thường. Đối với nền kinh tế HTX miền Bắc giai đoạn đó, đây là một vụ án rất nghiêm trọng.
Bởi lẽ, không thể dùng thóc loại khác thay vào để gieo mạ, vì như vậy là sai kế hoạch, là phá chủ trương, phá hoại sản xuất. Xin cấp bù lại số thóc giống thì có mà chờ đến Tết mùng thất. Tóm lại là…rất nghiêm trọng. Thiệt hại chính trị của địa phương xem ra còn lớn hơn gấp bội sự bốc hơi của chục tạ thóc.
Sau khi xem xét hiện trường, dò hỏi khắp các nhà dân trong xóm, tân trưởng Công an xã đã yêu cầu một số công an viên, dân quân xã thay nhau rảo quanh chợ phiên các xã trong vùng, kê cho hết danh tính bất kỳ ai bán thóc. Sau ba phiên chợ, lọc lại danh sách, anh khẳng định: “Bắt được rồi!”. Nhà nghi phạm nằm ngay bên cạnh kho hợp tác xã. Vợ anh ta vừa đưa ra chợ 3 thúng, đúng loại thóc HTX bị mất. Bán thóc giống mà tiêu thì chẳng bao giờ có kết quả tốt.
Ngặt nỗi, không có cớ gì khám nhà người ta khi chỉ mới nghi cả. Suy nghĩ một chút, anh Trưởng công an xã cho gọi hết dân quân trong xã đến, bảo đêm nay cứ mang theo gàu, chậu chờ sẵn, khi có chuyện thì làm thế này, thế này….
Ba giờ sáng, cây rơm gần gian bếp nhà nghi phạm đột nhiên bốc cháy đùng đùng. Kẻng vỏ quả bom đánh inh tai, cả xóm bừng dậy dập lửa, cố ngăn không cho cháy lan từ cây rơm sang nhà bếp rồi bắt lên nhà trên. Dân quân vẫn luôn là lực lượng xung kích. Họ cứ xông bừa vào nhà trên khuân đồ đạc ra, phòng cháy lan. Chẳng hiểu sao, họ bình tĩnh ghê gớm, cứ nhè bao, thúng,.. chủ nhà giấu dưới gầm giường ra mà cứu, mà khiêng thẳng ra sân. Tảng sáng, đám cháy được dập tắt, chỉ thiệt hại mỗi cây rơm. Chủ nhà không mừng vì thoát nạn mà ngồi tiu nghỉu, luôn mồm bảo em nhận, em nhận. Không nhận ra mà được à, bao nhiêu thúng thóc giống ăn cắp của hợp tác xã đều đã bị bày ra giữa sân, không thiếu một cân. Có mà chối đằng trời!
Ông Phan Văn Vĩnh
2. Cũng anh Công an đó, sau này lên huyện, lại điều tra ra một vụ Công an xã mất súng rất thần tình. Chỉ bọn giang hồ ngoài ga Nam Định mới cần súng chứ không ai khác. Có điều thằng nào trộm, trộm rồi bán cho thằng nào thì chịu. Lại sau một hồi suy nghĩ, anh công an này bảo cấp dưới đi…may một túi năm gang bằng vải ka ki dày màu đen, đầu miệng thắt dây rút. Hỏi để làm gì, anh bảo khắc biết.
Ba giờ sáng – luôn luôn là ba giờ sáng nhé – nhà của một tay giang hồ gộc khu vực ga Nam Định đột nhiên có tiếng gõ cửa lộc cộc. Vừa mắt nhắm mắt mở ra ra mở cửa, chưa kịp nhận ra khách là ai, gã đã bị chụp bao giải rút lên đầu. Một người hất gã lên vai chạy băng băng trong đêm, ba bốn người khác chạy theo vữa đỡ, vừa rít răng: “Muốn sống thì im mồm!”.
Bao giải rút có gã giang hồ nằm trong được đặt ngay ngắn vắt ngang hai thanh ray đường xe lửa. Một người lôi bao thuốc lá ra châm điếu cuối cùng, tiện tay nhặt cục đá đường tàu nhét vào vỏ bao, nới giải rút nhét luôn vào ngực áo kẻ mới bị vác chạy đang khiếp đảm.
Hỏi: “Biết cái gì trong ngực mày không?”. Trả lời: “Dạ biết, quả lựu đạn”. “Uhm, biết mày đang nằm đâu không?”. Trả lời: “Dạ, ngang đường tàu”. Người kia hắng giọng: “Đúng rồi, có hiểu biết. Đường tàu đấy. Mày cứ nằm im đi, chút nửa tàu chạy qua sẽ cắt mày làm ba. Mày mà cựa quậy, lựu đạn trong túi nó nổ banh xác. Hiểu chưa?”.
Hiểu quá đi chứ. Thằng giang hồ đái ra quần đọc luôn một bài trăng trối: “Em cắn rơm cắn cỏ lạy các bác, các đại ca. Em còn mẹ già, vợ dại, 4 đứa con thơ nheo nhóc. Các bác, các đại ca, các lãnh tụ mở lượng hải hà cho em được sống, muốn gì em cũng chiều. Bảo cắt tiết thằng mèo mả gà đồng, ma cô ma cạo nào em cũng xin vâng…”.
Người kia cắt ngang: “Chẳng cắt, thẻo ai cả. Tao chỉ muốn nghe một câu thôi: khẩu súng trộm của xã đâu rồi?”. Thằng kia lại rống lên: “Em hứa, em thề, em bảo đảm, em không liên quan. Trộm súng là thằng X “sủi”. Nó không bán, mà trộm rồi giao lại cho anh Z “ga”. Bọn “quân khu” (lưu manh xuất thân là bộ đội ra quân) đang định “đánh giậm” mẻ lớn ạ. Em hứa, em thề, em bảo đảm. Em mà nói sai, lựu đạn nổ banh xác, tàu hỏa cán thây 18 mảnh…”.
Lại bị cắt ngang, nhưng lần này là bởi những tiếng phì cười. Gỡ bao giải rút ra khỏi đầu tên giang hồ, lôi gói thuốc ra khỏi túi nó, người kia cười to: “Ừ, sẽ nổ, nếu có lựu đạn. Nhưng đây chỉ là cục đá thôi. Bố bảo mày cũng không dám láo đâu. Tao tin. Giờ thì im lặng về nhà ôm vợ, coi như đêm nay mày chưa hề ra khỏi giường đâu nhé”.
Thằng giang hồ chân không bám đất, đến khi đó mới tạm hồi dương. Nhận ra những người vừa khiến nó chết khiếp không phải là bọn đầu gấu ngoài ga hay đám ưa lảng vảng tụ tập quanh khu vực nhà máy dệt, nhà thờ Khói Đồng hay bờ hồ Vị Xuyên, nó thảng thốt kêu lên: “Chú Vĩnh”!
Ba tiếng đồng hồ sau, thằng trộm súng và kẻ nhận súng đều bị bắt, khẩu súng được thu hồi.
Ông Phan Văn Vĩnh
3. Những giai thoại phá án liên quan đến “chú Vĩnh”, Phan Văn Vĩnh nhiều không đếm hết. Không thằng lưu manh thành Nam Định nào nghe qua tên ông mà không run. Nhưng chúng phục ông. Ông làm án, đối đầu và đối thoại với giang hồ, tội phạm không cứng nhắc, không máy móc. Vụ nào kể lại cũng nhuốm màu giai thoại. Ông bảo, “không phải khi nào đó cũng là lợi thế. Nhiều khi “già quá lại hóa non”. Và tôi đã từng phải trả giá”.
Ngày 12-3-1991, nắm được trước kế hoạch có 5 tên cướp từ Thái Bình sang Nam Định đánh cướp hiệu vàng Thịnh Vượng, Phan Văn Vĩnh quyết định cho đón lõng bắt quả tang. Biết rõ đám cướp này mày manh động, không ngần ngại dùng hàng nóng nếu bị truy bắt, Phan Vĩnh chủ trương chỉ bắt tại trận một tên, những tên khác để cho chúng chạy, CSHS sẽ bắt nguội sau để bảo đảm an toàn.
Khoảng 3 giờ sáng ngày 13-3, toán cướp xuất hiện. 4 tên rút đồ chơi ém hai bên, tên thứ 5 vào đạp cửa gọi chủ tiệm dậy để mua vàng. Trinh sát tên Đài đóng vai chủ nhà vừa mở cửa đã bị tên cướp gí súng vào giữa mặt. Nhanh như cắt, Đài đánh bật súng của tên cướp. Toán cướp hiểu ngay chúng đã bị công an mai phục giăng lưới, lập tức túa ra chạy. Tên cầm súng tên là Phạm Văn Quang bị Phan Văn Vĩnh lao theo quật ngã, nằm đè lên người. Tên cướp Nguyễn Mạnh Cường thấy thế bèn rút lựu đạn ném vào ngay chỗ tên Quang bị Phan Văn Vĩnh đang đè, nhằm giết cảnh sát truy đuổi, giết luôn đồng bọn để diệt khẩu. Lựu đạn nổ, khắp người Vĩnh dính hàng chục mảnh, một mảnh găm vào mắt. Tên Quang nằm dưới, trên người có Phan Văn Vĩnh chắn mảnh nên hầu như không hề hấn gì. Hắn hất Phan Văn Vĩnh ra bỏ chạy nhưng bị tiêu diệt ngay. Bốn tên kia chạy thoát khỏi hiện trường nhưng cũng bị bắt ngay khi vừa về đến Thái Bình, cùng với 4 quả lựu đạn.
Phan Văn Vĩnh tỉnh dậy trong bệnh viện và biết mình chỉ còn một mắt phải. Từ đó viên sĩ quan công an lẫy lừng có thêm một biệt danh giang hồ hơn cả giang hồ: Vĩnh “chột”!
Làm án lẫy lừng nhưng Phan Văn Vĩnh hầu như không cho báo chí tiếp cận. Trang wikipedia lập về ông cũng ghi rất sơ sài. Cả sau này, khi đã là trung Tướng Tổng cục trưởng, ông vẫn ít chịu tiếp xúc báo chí. Hiểu cho đúng, đó không phải là sự dè dặt của một người khiêm tốn. Đó là sự kiêu ngạo không bộc lộ và không ưa bộc lộ của một cao thủ cực kỳ lão luyện trong nghề đánh án.
Có một giai thoại kể rằng, bên lề Hội nghị Công an Toàn quốc năm 1996, báo chí đã vậy quanh Trung tá Phan Văn Vĩnh với câu hỏi: nhờ đâu mà chỉ trong một thời gian ngắn giữ chức GĐ CA Nam Định, ông đã khiến giang hồ gần như biệt bóng ở xứ này, trong khi trước đó thành Nam khét tiếng đất dữ, thủ phủ giang hồ Bắc? Phan Văn Vĩnh đã trả lời: “Dễ lắm. Nhậm chức giám đốc xong, tôi hẹn hết 500 thằng đấu gấu giang hồ lại, phát cho mỗi đứa một cái phong bì. Tôi bảo: “Anh vừa lên giám đốc. An hay nguy đất này giờ là trách nhiệm của anh. Các chú cầm lấy ít tiền, qua bên kia phà Tân Đệ, về Thái Bình, Hải Phòng ….hay đi đâu đó mà làm ăn, để đây cho anh yên tí. Lỡ có “móm” thì về, anh lại cho một ít”. Chúng nó quý nên nghe tôi, kéo nhau bỏ đi hết. Vậy là Nam Định yên lành. Nào có bí quyết gì đâu”.
Chuyện này do chính ông Phan Văn Vĩnh tường thuật cho 3 nhà văn Minh Chuyên, Nguyễn Kế Nghiệp, Nguyễn Hồng Lam nghe trong một bữa uống rượu khan trong quán bar, lúc 3h sáng tại Nam Định vào tháng 3- 1997. Nghe đó, biết đó, tôi chỉ nhắc lại. Đúng hay sai, ai thắc mắc cứ kiếm ông Phan Văn Vĩnh mà hỏi. Vẫn không tin thì cứ đi tra Goole. Nhưng tôi phải nói trước là Google chẳng biết chả gì đâu mà tra.
Ông Phan Văn Vĩnh
4. Và bây giờ, vị Tướng làm án lẫy lừng ấy lại trở thành nhân vật tiêu điểm trong một vụ án khác với vai trò ngược lại. Ngày mai, chỉ ngay ngày mai thôi, tên ông sẽ là đề tài cho những bình luận bất tận, nhưng câu chuyện bất tận mà nhiều khi ngay chính người viết ra cũng không chắc đã biết. Tựu trung, người ta sẽ suy đoán, lý giải rằng ông gục ngã vì tiền, rất nhiều tiền, tự biến mình từ khắc tinh của tội phạm trở thành kẻ tiếp tay cho tội phạm.
Tôi nghĩ khác một chút. Vai trò của tiền, của vật chất tất nhiên khó phản bác, nhưng có lẽ với trường hợp cựu Trung Tướng Phan Văn Vĩnh, đó không phải nguyên nhân chính. Cốt lỏi là sự kiêu ngạo của quyền lực mang màu sắc giang hồ. Với một người lão luyện như Phan Vĩnh, rất có thể ông sẽ tự phụ rằng không có thể loại tội phạm nào có thể qua được mắt ông. Ông trị chúng, điều khiển chúng như ông muốn. Bắt hay tha, số phận và “sự nghiệp” của chúng đều do ông quyết định. Mọi cạm bẫy, mọi sự đe dọa đều vô nhiễm vào ông. Có chăng, ông chỉ quên mất một điều: ông nắm rõ và điều khiển, quyết định được mọi loại tội phạm nhưng không chắc ông đã tự nhìn được cái gáy của mình, không chắc có thể điều khiển và quyết định được số phận của mình.
Âu cũng là một đoạn kết đáng tiếc và rất buồn…

Tổng bí thư: Khắc phục tình trạng chạy chức, thân quen, ‘cánh hẩu’

Tác giả: Thu Hằng
Phát biểu khai mạc hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành TƯ Đảng khoá 12 sáng nay, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu phải cố gắng chỉ ra khâu đột phá là khâu nào, đánh giá cán bộ hay sắp xếp, bố trí cán bộ, khắc phục tình trạng “chạy chức, chạy quyền” hay “thân quen, cánh hẩu” (TH).
KD: Thú thật là cách đây hơn 40 năm, khi còn là cô nhà báo trẻ, tóc tết hai vai, mình đã từng nhận xét: Công tác cán bộ là “phản động” nhất (theo nghĩa triết học), cản phá sự phát triển. Bởi mình thấy sự nịnh bợ, e kip, dốt nát và đạo đức giả, chỉ hô khẩu hiệu là mạnh, rất phổ biến, chả thấy vì việc chung đâu cả. Hơn 40 năm sau, từ e kip đã thành lợi ích nhóm, và kinh khủng hơn là sự chạy chức chạy quyền nó … mạnh hơn tất cả
Vì sao công tác nhân sự (cán bộ)- yếu tố cốt tử của một QG, một đất nước nó lại … “phá” mạnh sự phát triển đến vậy? Nếu không phải thì sao có hàng chục đại án, bị cáo bị can hầu tòa đều là những kẻ quan chức “có máu mặt”? Làm đất nước đã nghèo càng nghèo, dân càng oán thán?
Sự khuyết tật chắc chắn nằm ở thiết kế cấu trúc guồng máy, khi mà quyền lực không có sự kiểm soát, ngược lại, rất nặng tính “duy ý chí”, cho dù “phê và tự phê”, cho dù” học tập đạo đức”.
Xin nói, không có công cụ nào điều chỉnh hành vi con người bằng pháp luật. Thế nhưng nếu pháp luật cũng phải “cầm tay chỉ việc” thì sự tha hóa một số không nhỏ đội ngũ nhân sự trong thời hiện đại, chắc chắn không tránh khỏi! 
Và bài học này- nhân sự hiện nay- chưa có lời giải cuối cùng
                                                —————–
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng gợi mở một số vấn đề để các đại biểu dự hội nghị thảo luận, xem xét, quyết định.
Về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, Tổng bí thư cho rằng, đây là vấn đề đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cách mạng.
Tổng bí thư dẫn lại câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”.
Theo Tổng bí thư, từ trước đến nay, nhất là trong những nhiệm kỳ gần đây, Đảng ta luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng; đã có nhiều quyết sách rất đúng về cán bộ và công tác cán bộ; kiên trì, kiên quyết lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện các chính sách, biện pháp, đạt được những kết quả quan trọng.
Nhờ đó, đội ngũ các cấp đã có bước trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, chất lượng ngày càng nâng lên; cơ cấu độ tuổi, giới tính, dân tộc, ngành nghề, lĩnh vực công tác có sự cân đối, hợp lý hơn/
Nhìn chung, đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn rèn luyện, phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Đa số cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có năng lực, phẩm chất, uy tín; cán bộ cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chính Minh, có tư uy đổi mới, có khả năng hoạch định đường lối và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện.
“Gần đây, việc xử lý kịp thời, nghiêm minh một số tổ chức, cá nhân vi phạm đã góp phần cảnh tỉnh, cảnh cáo, răn đe, ngăn chặn tiêu cực làm trong sạch đội ngũ cán bộ, từng bước củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng và Nhà nước”, Tổng bí thư nhấn mạnh.
Chậm đẩy lùi chạy chức, chạy quyền
Tuy nhiên, Tổng bí thư lưu ý, đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ còn bộc lộ không ít những hạn chế, yếu kém. Đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị đông nhưng chưa mạnh, tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ xảy ra ở nhiều nơi.
Bên cạnh đó, cơ cấu giữa các ngành, nghề, lĩnh vực chưa thật sự hợp lý, thiếu sự liên thông giữa các cấp, các ngành; thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành.
Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ; thiếu gương mẫu, chưa thật sự gắn bó mật thiết với nhân dân; vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm.
Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành TƯ Đảng khoá 12 khai mạc sáng nay
Không ít cán bộ, quản lý DN thiếu ý chí tu dưỡng, rèn luyện, thậm chí lợi dụng sơ hở, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng.
“Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội, … chậm được ngăn chặn và đẩy lùi”, Tổng bí thư chỉ rõ.
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, sự trưởng thành, phát triển của đội ngũ cán bộ và những ưu điểm trong công tác cán bộ là nhân tố then chốt, quyết định làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới đất nước.
Song những yếu kém, khuyết điểm của một bộ phận cán bộ và những hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ cũng là một trong những nguyên nhân làm cho đất nước phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.
Khắc phục tình trạng “thân quen, cánh hẩu”
Tổng bí thư nhắc lại yêu cầu của Nghị quyết đại hội 12 của Đảng là phải tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ theo đúng tinh thần “thời kỳ nào, phong trào nào thì cán bộ đó”.
Tổng bí thư cho hay, ngay từ tháng 5/2016, Ban Bí thư đã thành lập Ban chỉ đạo xây dựng Đề án để thực hiện nhiệm vụ Đại hội 12 đã đề ra, tiến hành tổng kết 20 năm (1997 – 2017) thực hiện Nghị quyết TƯ 3 khoá 8 về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, trên cơ sở đó xây dựng Đề án và dự thảo Nghị quyết để trình hội nghị TƯ lần này.
“Đề án và dự thảo Nghị quyết đã được xây dựng, biên tập, chỉnh sửa nhiều lần, lắng nghe ý kiến đóng góp của các ban, bộ, ngành và các tỉnh uỷ, thành uỷ trực thuộc TƯ; tham vấn ý kiến của nhiều đồng chí nguyên là cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cán bộ lão thành, các nhân sĩ, trí thức và các nhà khoa học”, Tổng bí thư nói.
Tổng bí thư đề nghị các đại biểu thảo luận đề án này, trả lời cho được câu hỏi: Vì sao 20 năm qua, đặc biệt những năm gần đây mặc dù Đảng ta đã có rất nhiều chủ trương, chính sách về công tác cán bộ được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, nhưng trong thực hiện vẫn còn nhiều bất cập, hiệu quả còn thấp? Nguyên nhân từ đâu, ở khâu nào, ở cấp nào?
Đồng thời phân tích, dự báo tình hình trong nước, quốc tế trong thời gian tới; xác định rõ yêu cầu, nhiệm vụ mới, bối cảnh mới, nhất là những yếu tố tác động, cả tích cực lẫn tiêu cực đến cán bộ và công tác cán bộ.
Từ đó, đi sâu thảo luận, làm rõ, tạo sự thống nhất cao về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài và những nhiệm vụ, giải pháp lớn, có tính đột phá khả thi cao để sớm khắc phục triệt để những hạn chế trong thời gian qua. Từ đó xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
Tổng bí thư yêu cầu phải cố gắng chỉ ra khâu đột phá là khâu nào, đánh giá cán bộ hay sắp xếp, bố trí cán bộ, khắc phục tình trạng “chạy chức, chạy quyền” hay “thân quen, cánh hẩu”, chú trọng đặc biệt phẩm chất hay năng lực hay coi trọng cả hai?
“Vì sao có nhiều nghị quyết rất đúng, rất trúng nhưng việc thực hiện hiệu quả lại thấp? Vì sao quy trình thì đúng nhưng bố trí con người cụ thể lại sai? Vướng mắc chính là ở chỗ nào? Cơ chế giám sát quyền lực đã đủ chưa? Chính sách tạo ra động lực để cán bộ tâm huyết gắn bó với sự nghiệp là gì?”, Tổng bí thư nêu hàng loạt câu hỏi với các ủy viên TƯ.
Sau hội nghị TƯ 7, Ban chấp hành TƯ sẽ tiến hành quy hoạch nhân sự khoá 13, trong đó có quy hoạch đối với tất cả chức danh từ Tổng bí thư.
Mấy chục năm qua, trong khi lương chưa được cải cách cơ bản, thì như một quy luật tất yếu, ngành nào cũng kêu lương thấp.
Thành ủy TP.HCM yêu cầu ông Tất Thành Cang kiểm điểm trách nhiệm trong vụ chuyển nhượng đất cho công ty Quốc Cường Gia Lai.
600 cán bộ cấp chiến lược gồm các ủy viên TƯ, ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, bộ trưởng, thứ trưởng, bí thư, chủ tịch tỉnh…
Hội nghị TƯ 7 tuần tới sẽ bàn hàng loạt các vấn đề trong công tác cán bộ như: Kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền…
Đề án cải cách tiền lương sẽ tạo ra một mặt bằng mới, tất cả cán bộ, công chức, viên chức đều được tăng lương.

Dân ghét cán bộ – Bi kịch từ đâu?

Tác giả: Hoàng Dân
KD: Công thức này có thể lý giải “bi kịch” dân ghét cán bộ : Đặc quyền, đặc lợi + Pháp luật thiếu thượng tôn= Dân mất sạch niềm tin.
Dân đã mất sạch niềm tin thì nhìn đâu cũng thấy… ghét 
Cái sự đặc quyền đặc lợi không phải bây giờ mới có. Xin nhớ cho, từ thời bao cấp, đã có câu vè: “Mỗi người làm việc bằng hai/ Để cho cán bộ mua đài mua xe. Mỗi người làm việc bằng ba/ Để cho cán bộ xây nhà/ xây sân”. Nhưng có lẽ chưa bao giờ cái sự bất công giàu nghèo giữa dân và cán bộ nó kinh khủng như bây giờ- thời Kim Tiền. Các vụ đại án là một phép so sánh đau đớn. 
Dù phải công bằng mà nói rằng, trong lịch sử chống tham nhũng thời hiện đại, chưa bao giờ, những loại sâu bọ lớn bị “lôi cổ” nhiều đến thế. Đó là một điều cần ghi nhận.
Nhưng sau chống phải là xây. Xây gì? Nếu không phải là xây một thiết chế kiểm soát quyền lực một cách hữu hiệu. Mà điều này, chả cần phải nghiền ngẫm, nghiên cứu để đưa ra mô hình. Các QG văn minh đã có đầy. Vấn đề là VN có muốn học và làm thật hay không
                                    ——————
Nhà báo Lê Thanh Phong viết trên trang cá nhân của mình rằng, bi kịch lớn nhất của quan chức thời nay là không được dân yêu. Không làm thì bị chửi vô tích sự, làm thì bảo mị dân hoặc làm để kiếm ăn. Không có bằng cấp thì bảo ngu dốt, có bằng cấp thì bảo lãnh đạo không cần giáo sư tiến sĩ.
Tôi nghĩ nhận định trên rất đúng. Nếu phân tích ra thì rất nhiều vấn đề để bàn, nhưng trong khuôn khổ bài viết này tôi chỉ nêu ra một vài khía cạnh để lý giải từ đâu và tại sao quan chức thời nay lại không được dân tin yêu và hay bị chửi, bị ghét.
Trước năm 1975, ở Miền Bắc và cả nước thời bao cấp dù cuộc cuộc sống khó khăn, thiếu thốn, gian khổ nhưng người dân vẫn tin vào Đảng, tin vào cán bộ. Bởi lẽ, cán bộ (quan chức) thời đó sống giản dị, trong sạch, ít tham nhũng và đặc biệt là gần gủi, gắn bó với dân.. Công bằng mà nói, thời đó ngay đến cả Chủ tịch, Bí thư tỉnh thậm chí kể cả lãnh đạo cấp trung ương khi đương chức hay về hưu tài sản cũng chỉ là căn nhà tập thể mấy chục mét vuông ở thành phố hay căn nhà cấp 4 ở quê nhà và cái sổ lương.
Nhưng kể từ khi đổi mới tới nay thì hoàn toàn ngược lại. Cán bộ trở nên giàu có, thậm chí là siêu giàu. Cuộc sống của họ tách biệt thậm chí là đối lập với dân và mâu thuẩn bắt đầu nảy sinh. Nạn tham nhũng, lạm quyền, hách dịch, mị dân, độc đoán, nói một đằng làm một nẽo, thất hứa, đạo đức lối sống suy đồi, không dám đấu tranh bảo vệ lẽ phải…tràn lan. Nếu trước đây, cán bộ tham nhũng chỉ đếm trên đầu ngón tay, thì ngày nay người thanh liêm, trong sạch khó tìm. Cho nên người dân không còn tin, không yêu cũng là lẽ đương nhiên.
Dân mình xưa nay quen với hình tượng cán bộ kiểu như anh chủ nhiệm “áo nâu bạc màu bay với gió”. Nay thấy giàu có, ở nhà lầu đi xe hơi thì sinh ra nghi ngờ, đố kỵ. Rằng tiền đâu, trong khi lương không đủ sống ?
Ông Nguyễn Trần Nam, Thứ trưởng Bộ Xây dựng nói, nếu chỉ trông vào lương, người nghèo đừng nghĩ đến nhà thu nhập thấp, vì “lương cỡ Bộ trưởng cũng phải 40 năm mới đủ tiền mua”. Vậy tiền đâu mà nhiều quan chức xây biệt phủ, mua xe đẹp, con cái du học ? Chỉ có thể là tham nhũng mà thôi. Thậm chí đến chủ tịch xã cũng xây được biệt thự thì nói gì cấp cao hơn. Cho nên, việc Tổng Thanh tra Chính phủ, Bí thư, Chủ tịch tỉnh, huyện, giám đốc sở, ban ngành… xây biệt phủ cũng không lấy gì làm ngạc nhiên.
Cuộc sống đã thay đổi, kinh tế phát triển, nhu cầu xã hội cũng khác xưa. Lương cán bộ công nhân viên chức lại quá thấp, mỗi lần tăng lương không đủ bù trượt giá. Đói thì đầu gối phải bò, từ đó sinh ra tham nhũng.
Và sở dĩ nạn tham nhũng trở thành quốc nạn cũng do cơ chế thiếu minh bạch, pháp luật có nhiều kẻ hở và xét xử sai phạm không nghiêm.
Đã có quá nhiều vụ việc không minh bạch, không xử lý nghiêm đúng người đúng tội, nói thẳng ra là bao che hoặc xử án theo kiểu “giơ cao đánh khẻ” khiến cho người dân bất bình, mất hết niềm tin vào chế độ. Chẳng hạn như: Những vụ thất thoát hàng ngàn tỷ đồng của các tập đoàn kinh tế, những sai phạm trong việc thu hồi đất biến nông dân thành dân oan, những cái chết oan trong đồn công an không được làm rỏ, những cán bộ dùng nhục hình bức cung gây ra án oan thế kỷ không bị trừng trị, những vụ lợi dụng cổ phần hoá để chia chác tài sản của nhà nước…có vụ nào xử tới nơi tới chốn đâu.
Chuyện cán bộ “bán không trừ thứ gì” và “ăn không trừ thứ gì” không còn là chuyện hiếm mà trở nên phổ biến, đâu đâu cũng có, mọi cấp mọi ngành: Cấp xã, ăn chặn từ gói mì tôm cứu trợ cho đến bò dê ủng hộ người nghèo, bớt xén phần khẩu phần ăn học sinh, rút ruột dự án nông thôn mới, lạm thu quỹ. Từ cấp huyện trở lên thì ăn dự án, bán đất, bán rừng, bán tài nguyên, bảo kê này nọ.…
Tham nhũng quyền lực, chuyện cả nhà, cả họ làm quan ở khắp nơi, cha bổ nhiệm con, chồng bổ nhiệm vợ, anh bổ nhiệm em…
Rồi nạn chạy chức chạy quyền, bằng cấp giả, bài bạc, đánh nhau, ăn mãi lộ, nhận phong bì, chạy án, nhục hình bức cung, quan hệ bất chính, hối lộ tình dục…
Xin lỗi chứ, Cán bộ xây biệt thự, đi ô tô mà nói rằng, tôi liêm khiết, tiền tôi xây nhà là do tôi buôn chổi, nuôi lợn, chạy xe ôm thì ai mà tin cho được. Tướng Công an, đứng đầu cơ quan chống tội phạm của đất nước mà tiếp tay, bảo kê cho tội phạm thì còn gì để nói ? Bí thư một tỉnh mà bổ nhiệm mấy chục người trong gia đình, họ hàng giữ các chức vụ chủ chốt thì sao dân không bất bình cho được ?
Quan chức đã tham nhũng, hoặc dính dáng tới tham nhũng thì nói dân không bao giờ nghe. Nhưng họ cũng không thể sống trong cơ chế thị trường với đồng lương tháng èo ọt mãi được. Không có sự thay đổi cơ chế, không cải cách tiền lương, luật pháp không nghiêm, thiếu dân chủ thì không thay đổi được gì cả.

6 tháng 5, 2018

Chính quyền nói thất lạc, dân bức xúc công bố bản đồ gốc Thủ Thiêm

Tác giả: Văn Bình
–Người dân Thủ Thiêm khẳng định, bản đồ quy hoạch Thủ Thiêm tỷ lệ 1/5000 là có và họ đang giữ tấm bản đồ này.
KD: Xét cho cùng, vì luật pháp vốn rúm ró, được “cầm tay chỉ việc”, nên c/q mới coi thường dân quá
                                                 —————
Liên quan đến thông tin bản đồ gốc quy hoạch Thủ Thiêm tỷ lệ 1/5000 bị “thất lạc” khiến việc đền bù, giải tỏa mặt bằng tại Khu đô thị (KĐT) Thủ Thiêm vẫn chưa được giải quyết trong thời gian qua.
Ông Lê Văn Lung (nhà số 9, đường Trần Não, quận 2) cho biết, nhiều lần người dân Thủ Thiêm đã yêu cầu UBND TP.HCM cho xem bản đồ 1/5000 để xác định ranh giới giải tỏa mặt bằng nhưng đều bị từ chối.
“Chúng tôi yêu cầu TP phải trưng ra bản đồ quy hoạch 1/5000 để xác định ranh giới, nhưng họ bảo thất lạc. Việc này đẩy người dân vào vòng tranh chấp khiếu kiện kéo dài từ năm 1996 đến nay”, ông Lung nói.
Đặt vấn đề, tấm bản đồ gốc quy hoạch KĐT Thủ Thiêm tỷ lệ 1/5000 có hay không? ông Lung khẳng định là có và đang giữ một tấm bản đồ có đầy đủ dấu mộc, ký xác nhận của cơ quan chức năng.
Để chứng minh điều này, ông Lung đã đưa tấm bản đồ này ra, trên bản đồ ghi cụ thể “Quy hoạch xây dựng Khu đô thị Thủ Thiêm – Tổng quy hoạch”, phía dưới ghi rõ các cơ quan chức năng đóng dấu xác nhận gồm: Sở Xây dựng và Công ty Dịch vụ phát triển đô thị với ký hiệu bản vẽ KT-06, ngày 12/6/1995, tỷ lệ 1/5000.
Tấm bản đồ quy hoạch KĐT Thủ Thiêm tỷ lệ 1/5000 mà ông Lung đang giữ
Ông Lung cho rằng: “TP trả lời bản đồ thất lạc là điều không tưởng, vì quản lý đất đai trong đó có bản đồ này, nhiều đơn vị từ cấp cơ sở đến chính quyền cao nhất là TP nắm giữ”.
Từ đó, ông Lung đặt vấn đề: “Liệu có khuất tất gì liên quan đến tấm bản đồ này trong việc giải quyết tranh chấp ranh giới ở KĐT mới Thủ Thiêm hay không?”
Trước đó, ông Nguyễn Hồng Điệp (Vụ trưởng, Trưởng Ban tiếp dân Trung ương – Thanh tra Chính phủ) cho biết, nếu “thất lạc” bản đồ 1/5000 ở TP thì tại các cơ quan, đơn vị liên quan phải còn.
“Làm gì có việc thất lạc mãi mà không tìm thấy” – lời ông Điệp.
Vì vậy, theo ông Điệp, TP.HCM nên trả lời thẳng thắn với người dân khiếu kiện là “không có bản đồ gốc” và giải quyết thoả đáng lợi ích, quyền lợi của họ.
Thu hồi đất năm 2002 sử dụng quyết định năm 2005?
Tại cuộc họp báo Chính phủ hôm qua, ông Lê Quang Hùng, Thứ trưởng Bộ xây dựng cho biết, hiện nay quá trình triển khai dự án, xác định ranh giới, thu hồi mặt bằng ở khu đô thị Thủ Thiêm là theo quy hoạch chung năm 2005.
“TP.HCM hôm nay trả lời là tất cả bản đồ cũng như hồ sơ pháp lý hiện có đầy đủ từ năm 2005, quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết, quy hoạch ranh giới có đầy đủ và đang triển khai dự án, thu hồi đất dựa trên các quy hoạch này”, ông Hùng nói.
Ông Hùng giải thích, quy hoạch chung năm 1996 về pháp lý đã được thay đổi bằng quy hoạch năm 2005.
Liên quan vấn đề này, ông Lê Văn Lung cho rằng, việc trả lời của Thứ trưởng Bộ xây dựng là không chính xác.
“Việc triển khai dự án, thu hồi mặt bằng theo bản đồ Quy hoạch điều chỉnh năm 2005 này là trái pháp luật. Vì quyết định thu hồi đất chúng tôi có từ ngày 10/2/2002 theo Quy hoạch 367 của Thủ tướng Chính phủ kèm bản đồ 1/5000”, ông Lung nói.
Ông Lê Văn Lung, đại diện cho nhóm 71 hộ dân khiếu kiện về vấn đề tranh chấp đất ở Thủ Thiêm
Theo ông Lung, cơ quan chức năng cần phải sử dụng tấm bản đồ 1/5000 trong Quyết định 367 của Thủ tướng ngày 4/6/1996 để căn cứ ranh giới được phê duyệt xây dựng KĐT Thủ Thiêm.
Người dân Thủ Thiêm cho rằng, tấm bản đồ này, là mấu chốt chính trong việc khiếu kiện của cả trăm hộ dân Thủ Thiêm kéo dài hàng chục năm qua.
Họ cho rằng đất của mình không nằm trong khu vực quy hoạch nhưng lại bị giải tỏa. Người dân đòi chính quyền TP.HCM phải đưa ra bản đồ 1/5.000 KĐT Thủ Thiêm để xác định rõ ràng việc này.
Huyện Ba Vì (Hà Nội) đang tìm hiểu, làm rõ thông tin liên quan đến một Thứ trưởng mua bán đất lâm trường.
Một toà lâu đài màu trắng bề thế đi vào giai đoạn hoàn thiện ở một vùng quê tại Hà Tĩnh khiến người dân không khỏi trầm trồ.
Thứ trưởng Bộ Xây dựng Lê Quang Hùng thông tin về bản đồ quy hoạch Thủ Thiêm bị thất lạc.
Không vùng cấm nào trong việc xử lý cán bộ tham nhũng, dù đó là cấp tướng, ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên TƯ Đảng, Bộ trưởng – Chủ tịch QH nói.

Đây chính là lý do bản đồ Quy hoạch Thủ Thiêm biến mất

Tác giả: theo FB Hoàng Hải Vân
Bản đồ quy hoạch gốc này đương nhiên phải có, bởi nếu không có thì Thủ tướng phê duyệt cái gì. Nhưng khi dân kiện, yêu cầu phải đối chiếu bản đồ quy hoạch do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì tấm bản đồ này đã biệt tích. Nó biệt tích một cách triệt để, chứng tỏ rằng nó đã được những người rất có quyền lực tổ chức cho nó “bỏ trốn”, trốn khỏi các bộ ngành ở Trung ương, trốn luôn khỏi Văn phòng (Hoàng Hải Vân) 
KD: Dư luận XH các trang mạng và báo chí đang ồn ào vụ này. XH mình rất lạ, cứ đụng tới vụ việc gì thì hồ sơ vụ đó biến mất. Vụ TXT ư, vụ Hot Girl Thanh Hóa ư? Nay đến vụ Thủ Thiêm, đều biến mất… đúng quy trình- cái khái niệm của guồng máy chính trị các cơ sở đưa ra 
“Tài thật. Tài đến thế là cùng. Tiên sư những anh Tào Tháo”!
                                            —————–
Giám đốc Sở Quy hoạch Kiến trúc TP HCM cho biết bản đồ gốc năm 1996 quy hoạch khu đô thị mới Thủ Thiêm đến giờ này vẫn chưa tìm ra.
Vào tháng 10-2007, Báo Đại đoàn kết do anh Lý Tiến Dũng, một nhà báo nổi tiếng chính trực làm Tổng Biên tập đã cho đăng loạt bài “Dự án Khu đô thị mới Thủ Thiêm: Ai phá nát quy hoạch?”. Báo Tuổi Trẻ do anh Lê Hoàng, cũng nổi tiếng là một nhà báo chính trực làm Tổng Biên tập, đã cho đăng lại trên Tuổi Trẻ online. Không rõ các kỳ tiếp theo có đăng trên Đại Đoàn Kết hay không (nhờ anh Đào Tuấn kiểm tra lại nhé), hiện chỉ còn kỳ 1 “Giấy thông hành cho quá trình phá nát” nằm trên Tuổi Trẻ online :
Bài báo này cho thấy, Khu đô thị mới Thủ Thiêm (ĐTMTT) được Chính phủ phê duyệt (QĐ 367/TTg) 930ha, trong đó: khu trung tâm 770ha và 160ha để tái định cư cho dân. Sau 6 năm án binh bất động, đến ngày 22-3-2002, văn phòng UBND TP.HCM ban hành một lúc hai thông báo truyền đạt ý kiến của Chủ tịch UBND TP Lê Thanh Hải đến Kiến trúc sư trưởng và Giám đốc Sở Địa chính nhà đất.
Thông báo thứ nhứt, số 77/TB-VP, yêu cầu cắm mốc giao đủ 770 ha cho khu trung tâm. Điều đáng nói là trong 770h theo quy hoạch thì có đến 130ha mặt nước, có nghĩa là muốn cắm mốc giao đủ thì hoặc là phải lấp 130 ha mặt sông Sài Gòn hoặc là phải lấy 130 ha dành cho tái định cư, nhưng vì lấp sông Sài Gòn là điều không thể nên phải làm theo cách thứ hai.
Thông báo thứ hai là công văn hỏa tốc số 78/TB-VP, yêu cầu xác định 160 ha tái định cư không nhất thiết tập trung 1 địa điểm mà có thể bố trí 3-4 địa điểm trên địa bàn quận 2. Có nghĩa là, diện tích khu đô thị Thủ Thiêm được Thủ tướng phê duyệt đã bị ông Lê Thanh Hải tự tiện cho “sáng tác” thêm một diện tích khá lớn nữa. Đáng chú ý là, bản đồ quy hoạch sau đó được UBND TP “cho vẽ một đường dích zắc, lắt léo, thò lên, thụt xuống theo ranh giới của các dự án tư nhân, đang được phân lô, bán nền và coi đó là ranh quy hoạch của khu trung tâm. Đưa 28 dự án tư nhân ra khỏi ranh quy hoạch mà thực tế đây chính lại là đất để TĐC cho dân”. Để bảo kê cho 28 dự án phân lô bán nền của tư nhân đáng lẽ phải được thu hồi đó, UBND TP đã thu hồi đất một cách phi pháp của dân để bù vào.
Đó là tóm tắt nội dung mà bài báo đã đề cập. Từ đó đến nay, nghe nói quy hoạch Thủ Thiêm tiếp tục thò ra lấn tới nữa, dân tiếp tục bị giải tỏa một cách phi pháp nữa, nhưng đâu còn bản quy hoạch gốc mà đối chiếu.
Bản đồ quy hoạch gốc này đương nhiên phải có, bởi nếu không có thì Thủ tướng phê duyệt cái gì. Nhưng khi dân kiện, yêu cầu phải đối chiếu bản đồ quy hoạch do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì tấm bản đồ này đã biệt tích. Nó biệt tích một cách triệt để, chứng tỏ rằng nó đã được những người rất có quyền lực tổ chức cho nó “bỏ trốn”, trốn khỏi các bộ ngành ở Trung ương, trốn luôn khỏi Văn phòng Chính phủ là nơi lưu giữ Quyết định của Thủ tướng. Bằng chứng là, theo báo Tuổi Trẻ, khi Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình trực tiếp giải quyết khiếu nại của dân liên quan đến khu đô thị Thủ Thiêm cũng không tìm thấy tấm bản đồ quy hoạch này.
Đọc bài trên Đại Đoàn kết xin một lần nữa nghiêng mình trước anh linh của nhà báo Lý Tiến Dũng. Tôi biết một trong những lý do khiến anh bị cho thôi chức Tổng Biên tập là đã can trường cho đăng bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp phản đối việc dỡ bỏ Hội trường Ba Đình để xây dựng nhà Quốc Hội mới, bức thư đã bị các báo từ chối vì Ban Tuyên giáo Trung ương cấm đăng (hình như theo lệnh miệng của người đứng đầu Chính phủ lúc đó), giờ còn biết thêm anh đã đương đầu từ rất sớm với các nhóm lợi ích vô cùng thế lực ở TP.HCM nữa.

Chính cán bộ cao cấp đầu cơ đất Thủ Thiêm??? Và chuyện dừng thanh tra đột ngột…

Tác giả: Theo facebook Ba Kiem Mai và Trương Châu Hữu Danh (Dân Việt)
Đoàn Thanh tra Chính phủ và các nhà báo nên phỏng vấn hai ông Bẩy Thanh và Chín Lực để biết các lãnh đạo ác ôn nào từng thâu tóm đất đai Thủ Thiêm. Không công bố quy hoạch cho người dân bị giải tỏa, làm mất bản đồ là vi phạm luật pháp! (Ba Kiem Mai)
KD: Kinh quá, tác giả dùng từ “lãnh đạo ác ôn” khiến mình tự nhiên nhớ “chế độ ngụy quân, ngụy quyền thối nát”… ngày xưa 
Xin đăng cả hai thông tin để bạn đọc tiện theo dõi.
Title bài chủ Blog xin đặt 
                                                  ————— 
Khoảng năm 2000, trong cuộc họp HĐND TPHCM, sau khi phê phán gay gắt lãnh đạo Q.2 chậm trễ trong công tác giải tỏa đền bù, chủ tịch UBND TP Võ Viết Thanh gút lại: “Anh Chín Lực (Đỗ Tiến Lực – chủ tịch UBND Q.2), tôi đã chỉ đạo, nhắc nhở anh nhiều lần phải tiến hành cắm mốc đường dẫn từ hầm Thủ Thiêm lên (đường Mai Chí Thọ bây giờ), để bàn giao cho đơn vị thi công, tôi cho anh hứa lần cuối, chừng nào cắm xong?”. Anh Chín Lực ngửa bài: “Thưa anh Bảy, anh làm ơn nói với các ông lớn, bà lớn cho tôi biết đất chỗ nào của ông nào hay của bà nào, để tôi biết đường mà cắm”. Toàn thể đại biểu cười rần, có lẽ chạm nọc nhạy cảm, ông Bảy Thanh chuyển sang phần nghị sự khác.
Hôm sau, chỉ có báo Phụ Nữ đăng câu nói của anh Chín Lực, anh khều tôi nói nhỏ, báo Phụ Nữ chịu chơi! Không ngờ vài tháng sau, ông Bảy Thanh cách chức chủ tịch Q.2, điều anh Chín Lực về làm bí thư đảng ủy kiêm chủ tịch HĐQT công ty Samco (Cơ khí Ô tô Sài Gòn) chuyên đóng ô tô buýt. Anh Chín rất bản lĩnh, xuống chức vẫn vui vẻ.
Đoàn Thanh tra Chinh phủ và các nhà báo nên phỏng vấn 2 ông 7 Thanh và 9 Lực để biết các lãnh đạo ác ôn nào từng thâu tóm đất đai Thủ Thiêm. Không công bố quy hoạch cho người dân bị giải tỏa, làm mất bản đồ là vi phạm luật pháp!
P/S: Luật Quy hoạch đô thị Số: 30/2009/QH12
Điều 9. Lưu trữ, lưu giữ hồ sơ đồ án quy hoạch đô thị
1. Hồ sơ đồ án quy hoạch đô thị đã được phê duyệt phải được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.
2. Cơ quan quản lý về quy hoạch đô thị, cơ quan quản lý đất đai các cấp có trách nhiệm lưu giữ hồ sơ đồ án quy hoạch đô thị và cung cấp tài liệu về đồ án quy hoạch đô thị cho cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.
Điều 53. Công bố công khai quy hoạch đô thị
1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được phê duyệt, đồ án quy hoạch đô thị phải được công bố công khai bằng các hình thức sau đây:
a) Trưng bày thường xuyên, liên tục bản vẽ, mô hình tại trụ sở cơ quan quản lý nhà nước các cấp có liên quan về quy hoạch đô thị, trung tâm triển lãm và thông tin về quy hoạch đô thị và tại khu vực được lập quy hoạch;
b) Thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng;
c) In thành ấn phẩm để phát hành rộng rãi.
2. Nội dung công bố công khai gồm các nội dung cơ bản của đồ án và Quy định quản lý theo đồ án quy hoạch đô thị, thiết kế đô thị đã được ban hành, trừ những nội dung liên quan đến quốc phòng, an ninh, bí mật quốc gia.
3. Cơ quan quản lý quy hoạch đô thị có trách nhiệm cập nhật đầy đủ tình hình triển khai thực hiện đồ án quy hoạch đô thị đã được phê duyệt để cơ quan có thẩm quyền công bố công khai kịp thời cho các tổ chức, cá nhân biết và giám sát thực hiện.
Điều 54. Trách nhiệm công bố công khai quy hoạch đô thị
1. Ủy ban nhân dân thành phố, thị xã, thị trấn công bố công khai đồ án quy hoạch chung được lập cho thành phố, thị xã, thị trấn do mình quản lý.
2. Ủy ban nhân dân quận, huyện thuộc thành phố trực thuộc trung ương;, Ủy ban nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn có trách nhiệm công bố công khai đồ án quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết được lập cho các khu vực thuộc phạm vi địa giới hành chính do mình quản lý.
Đọc thêm:
Bản đồ Thủ Thiêm “mất tích” và chuyện dừng thanh tra đột ngột
Tác giả: Trương Châu Hữu Danh
Câu chuyện mất bản đồ, hay câu chuyện đột ngột dừng thanh tra một dự án khuất tất liên quan hàng chục ngàn hộ dân, đến giờ này không còn là chuyện “nội bộ” của TPHCM và Thanh tra Chính phủ với những văn bản lẽ ra phải công khai lại được che giấu bằng “dấu mật”, phải được xử lý rốt ráo từ cấp cao hơn.
Bản đồ gốc quy hoạch KĐT mới Thủ Thiêm hiện đang bị “mất tích” 
Chuyện cái bản đồ Thủ Thiêm “bị mất”, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình đã từng phát hiện ra từ hồi cuối tháng 11.2017 khi ông làm việc với TP.HCM. Tại cuộc họp đó, TP.HCM đã báo cáo “các sở ngành liên quan đều không tìm thấy”.
Cho đến cuộc họp báo ngày 2.2, một lần nữa TP.HCM “lại không tìm thấy” dù bản đồ này liên quan trực tiếp đến ít nhất 15.000 hộ dân.
Trưa 2.5, Chánh Văn phòng UBND TP. HCM Võ Văn Hoan đã chủ trì cuộc họp báo định kỳ để thông tin về tình hình kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng tháng 4 trên địa bàn. Tại cuộc họp, các cơ quan báo chí cũng như các cán bộ dự họp khá bất ngờ khi phóng viên Hồ Văn của báo Dân Việt đặt câu hỏi “Bản đồ đi kèm Quyết định 367 về quy hoạch xây dựng khu đô thị mới Thủ Thiêm (KĐTMTT) năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ hiện nay đang ở đâu?”. Người chuyên quản lý việc vẽ bản đồ – Giám đốc Sở Quy hoạch Kiến trúc TP.HCM Nguyễn Thanh Nhã tiếp tục cho biết… đến giờ vẫn tìm chưa ra.
“TP đã chỉ đạo các sở – ngành rà soát lại từng nguồn, đơn vị tư vấn trước đây và cũng có văn bản hỏi các bộ – ngành trung ương nhưng đến giờ vẫn chưa tìm thấy” – ông Nhã nói.
Theo ông Nhã, từ năm 1996 đến nay đã hơn 20 năm, nhiều đơn vị đã chuyển địa điểm nên không lưu trữ bản đồ này. Ông Nhã cho biết tài liệu hồ sơ thì có lưu nhưng bản đồ đi kèm lại không có, đồng thời khẳng định TP đã báo cáo Chính phủ và Bộ Tư pháp để xin ý kiến.
Nói rõ hơn, Chánh Văn phòng UBND TP.HCM Võ Văn Hoan cho hay bản đồ KĐTMTT chưa tìm thấy trong bộ hồ sơ lưu chứ không phải là không có, các bộ, ngành cũng đang cố gắng tìm.
“Trong thủ tục trình Chính phủ phải có đầy đủ giấy tờ theo quy định thì mới được phê duyệt. Rất tiếc, hơn 20 năm rồi, không hiểu lúc ấy công tác lưu trữ làm như thế nào, đến hôm nay vẫn chưa tìm thấy bản đồ quy hoạch đó. Quyết định 367 kèm theo bản đồ là cơ sở pháp lý để Thủ tướng phê duyệt dự án nên không thể không có bản đồ được” – ông Hoan nhấn mạnh. Theo ông Hoan, TP đã chỉ đạo phải tìm bằng được và “nghe nói” đã tìm thấy bản photocopy chứ không phải bản gốc, bản màu.
Thực ra thì bản đồ không hề mất. Ngay trong năm 1996, bản đồ này đã được đăng trên báo Lao Động, công khai ở địa phương bị thu hồi đất. Hiện nay, hàng chục người dân xin được bản sao ở Chi cục Văn thư lưu trữ, dấu mộc đỏ chót. Thậm chí, công dân Lê Văn Lung – người đi khiếu nại 20 năm qua, ngoài “bản đồ gốc” còn nắm giữ hàng trăm bản đồ giải thửa của bà con xung quanh.
“Họ cần chúng tôi sẽ cho không. Nhưng không có bản đồ thì làm sao mà thu hồi đất. Họ sợ lộ vụ Thủ Thiêm nên thủ tiêu thôi chứ mất sao được!” – ông Lung cười chua chát.
Bản đồ đi kèm Quyết định 367 được xem là “chìa khóa” giải quyết chuyện khiếu nại, khiếu kiện của người dân ở Thủ Thiêm kéo dài nhiều năm qua. Để đầu tư xây dựng “siêu dự án” này, TP HCM đã mất nhiều năm giải tỏa gần như toàn bộ bán đảo Thủ Thiêm, khoảng 15.000 hộ dân đã di dời. TP.HCM cũng đã huy động gần 30.000 tỷ đồng để chi trả bồi thường, tái định cư. Cũng từ đó, chuyện khiếu nại của người dân ở khu vực này phát sinh. Vấn đề khiếu nại kéo dài, mấu chốt nằm ở việc xác định ranh giới quy hoạch.
Theo “bản đồ gốc”, phần thu hồi tập trung đất nông nghiệp, ít đất dân cư và các cơ sở công cộng, trường học. Nhưng sau đó, hàng loạt hộ dân cũng bị thu hồi đất vì không hiểu sao nằm ngoài quy hoạch cũng bị thu hồi. Những công dân ở đây chua xót khi có nhiều ngôi trường đạt chuẩn quốc gia vừa xây xong đã bị đập phá nhường đất cho dự án. Nhiều nhà cửa nằm ngoài quy hoạch cũng bị cưỡng chế di dời.
Mấy năm qua, xung quanh Trụ sở tiếp Công dân của Thanh tra Chính phủ ngoài Hà Đông (Hà Nội) bỗng dưng xuất hiện “làng Thủ Thiêm” khi cả trăm người dân Thủ Thiêm kéo ra đây sống vạ vật kế bên để khiếu nại kéo dài.
Năm 2015, người dân mừng khấp khởi khi Thanh tra Chính phủ ra quyết định thanh tra Dự án Thủ Thiêm. Nhưng, đoàn thanh tra sau vài ngày làm việc, phát hiện hàng loạt sai phạm thì Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Ngô Văn Khánh bất ngờ có văn bản “Mật” đề nghị hoãn thanh tra toàn bộ dự án.

Ông Lê Văn Lung và tấm bản đồ do Chi cục Văn thư lưu trữ cung cấp (Ảnh: Hữu Danh)
Vào giữa năm 2016, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Thành Phong đã đối thoại với đại diện các hộ dân khiếu nại trong dự án. Tại cuộc đối thoại, các hộ dân cho rằng họ không nằm trong quy hoạch KĐTMTT và đề nghị chính quyền cung cấp bản đồ đi kèm Quyết định 367 để xác định ranh giới. Tuy nhiên, người ta không thể cung cấp được bản đồ này. Qua năm 2017, ông Ngô Văn Khánh có văn bản thông tin sẽ thanh tra dự án này trên cơ sở kế thừa các kết quả cũ. Tuy nhiên, đến nay đã gần giữa năm 2018, dự án này vẫn chưa bị thanh tra.
Câu chuyện mất bản đồ, hay câu chuyện đột ngột dừng thanh tra một dự án khuất tất liên quan hàng chục ngàn hộ dân, đến giờ này không còn là chuyện “nội bộ” của TP.HCM và Thanh tra Chính phủ với những văn bản lẽ ra phải công khai lại được che giấu bằng dấu “mật”, phải được xử lý rốt ráo từ cấp cao hơn.
Chưa lúc nào hơn lúc này, người dân Thủ Thiêm lại trông chờ hình ảnh cái lò đốt sạch củi khô đến vậy.

Chuyện làng “Vãi Đụ”

Tác giả: Võ Tòng Đánh Mèo (theo FB Trần Quốc Trọng)

Tức thật! ĐKM! Thế này thì tức thật! Đã thế, hắn chửi cái công trình đường sắt trên cao, khởi công từ cái thuở hắn chửa dậy thì, lún phún lông tơ. Giờ, hắn đã sang giai đoạn tiền mãn tinh, chim hai thứ tóc rồi mà cái công trình vẫn chưa đi vào hoạt động. Rồi hắn lại chửi tiên sư đứa nào làm mất cái bản đồ quy hoạch làng Vãi Đụ. Nhưng mà biết đứa nào đã làm mất? Có mà trời biết! Hắn không biết, cả cái làng Vãi Đụ này cũng không ai biết… (Võ Tòng Đánh Mèo)
KD: Đúng là chuyện của cả làng “Vãi Đụ” hôm nay. Hẹ….hẹ…he..      
                                                ————
Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu hắn chửi hội thánh đức chúa giời. Có hề gì? Mấy thằng đi theo cái hội đó đến cả bát hương tổ tiên chúng nó còn đập thì mấy câu chửi của hắn chúng nó có coi ra gì? Rồi hắn chửi cán bộ. Thế cũng chẳng sao: cán bộ cũng có cán bộ tốt và cán bộ đểu. Và cán bộ nào cũng tự nhủ: “Chắc nó trừ mình ra!”. Không ai lên tiếng cả.
Tức thật! ĐKM! Thế này thì tức thật! Đã thế, hắn chửi cái công trình đường sắt trên cao, khởi công từ cái thuở hắn chửa dậy thì, lún phún lông tơ. Giờ, hắn đã sang giai đoạn tiền mãn tinh, chim hai thứ tóc rồi mà cái công trình vẫn chưa đi vào hoạt động. Rồi hắn lại chửi tiên sư đứa nào làm mất cái bản đồ quy hoạch làng Vãi Đụ. Nhưng mà biết đứa nào đã làm mất? Có mà trời biết! Hắn không biết, cả cái làng Vãi Đụ này cũng không ai biết…
Rồi hắn ghé cái quán rượu đầu làng, giọng lè nhè, gọi một xị rượu A Chín Năm – là loại rượu được nấu từ gạo quê nguyên chất, uống vào rất phê và bốc, nên được bà con dân làng ưa chuộng. Thế nhưng mụ chủ quán rượu lắc đầu, bảo: “Rượu A Chín Năm khai tử rồi, chỉ có rượu E Năm thôi, uống thì uống, không uống thì biến”.
“Ôi cái đệt!” – Chí Phèo nghĩ thầm – “Cái rượu E Năm ấy nấu toàn bằng sắn pha với cồn, uống như nhồn”. Hắn đã uống thử một lần, uống xong người cứ lịm đi, ỉu xìu, nấc cụt liên tục, chả còn chút sức lực. Tuy là giá có rẻ hơn tí xíu thật, nhưng nếu một xị rượu A Chín Năm hắn uống từ sáng đến nửa đêm vẫn phê, thì cái rượu E Năm, cũng một xị từ sáng, mà đến xế chiều đã thấy trong người chả còn tí hơi rượu nào. Đã vậy còn nghe đồn cái rượu sắn cồn ấy uống lâu rất hại người: nam dễ bị hại thận, xuất tinh sớm, liệt dương, nữ dễ rối loạn kinh nguyệt, ung trứng, tiểu đường…
Chí Phèo uất quá, gằn giọng: “Thằng nào bảo cấm rượu A Chín Năm để bán rượu E Năm? Thằng nào?”. Mụ chủ quán thở dài: “Thằng Bá Kiến chứ thằng nào! Nó đầu tư bao nhiêu tiền để xây cái lò nấu rượu E Năm, không cấm A Chín Năm thì chó nó uống E Năm à?”.
À, ra vậy! Lại là thằng Bá Kiến. Nó khiến bà con cái làng Vãi Đụ này khổ vãi cứt rồi: Nó dồn Lão Hạc vào đường cùng đến nỗi phải bán chó; Nó đẩy chị Dậu vào thế tận đến nỗi phải bán sữa; và giờ, nó lại bắt Chí Phèo phải uống cái thứ rượu E5 sắn cồn chất lượng như nhồn ấy nữa!
Chí Phèo vồ lấy con dao, rồi ước gì lão Bá Kiến chính là quả xoài đang để trên bàn để hắn có thể lao vào băm vằm lão ra cho hả dạ. Mà nếu lão Bá Kiến là quả xoài thật, thì cũng chả đến lượt Chí Phèo đâu, bởi rất nhiều bà con dân làng đã đã nhảy vào băm nát lão từ lâu…

Trang