4 tháng 6, 2015

QUY TRÌNH Ở VIỆT NAM RẤT LẠ (!?)

* TÔ VĂN TRƯỜNG
Báo chí gần đây bàn luận nhiều về công văn số 2159/BTNMT-TNN ngày 29/5 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên & Môi trường báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả kiểm tra thực địa, làm việc với UBND tỉnh Đồng Nai, rà soát các tài liệu, thủ tục pháp lý liên quan đến quá trình chuẩn bị và triển khai dự án “Cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai”.
Tín hiệu tích cực
Công văn của Bộ Tài nguyên & Môi trường về nội dung chuyên môn đã tiếp thu nhiều ý kiến phản biện xã hội trong thời gian vừa qua của nhân dân và chuyên gia, đặc biệt về vấn đề thoát lũ, lưu thông dòng chảy, bồi lắng, xói lở lòng sông, bờ sông vv...
Trong bối cảnh nhiều dự án được xã hội phản biện không có phản hồi chính thức từ những cơ quan có trách nhiệm thì việc công khai ý kiến của Bộ TNMT là việc đáng ghi nhận, trong đó nêu rõ quan điểm đề nghị Thủ tướng chỉ đạo UBND tỉnh Đồng Nai tiếp tục dừng thực hiện dự án. Có thể nói đó là “Lẽ phải may mắn đã thắng”! 
Tôi sử dụng cụm từ “may mắn”, bởi vì thử phản biện sang các lĩnh vực “nhạy cảm” khác sẽ thấy, họ không nghe mà còn truy vấn... cả những điều không liên quan. Có vị trí thức ngao ngán nhận xét : "Một người đang đói, được người khác cho ăn. Ăn no xong quay sang truy vấn: Lấy ở đâu cho tôi ăn, phải chứng minh...". Minh chứng, ông Trần Đình Bá say sưa phản biện dự án sân bay Long Thành thì bị lãnh đạo Bộ giao thông vận tải đề nghị truy vấn thẩm tra bằng tiến sĩ? Thử hỏi đã có ai truy vấn ông Bộ trưởng Đinh La Thăng có bằng cấp về dầu khí hay giao thông không nhỉ?
Những điều còn lấn cấn chưa rõ ràng
Người dân chưa thấy thỏa mãn với công văn nói trên. Với chức năng, nhiệm vụ của Bộ đúng ra phải có những luận điểm rõ ràng, thẳng thắn hơn để tham mưu, trình báo cáo Thủ tướng. Báo cáo chưa nói gì đến vấn đề trách nhiệm quản lý liên quan của các bên đến lưu vực sông Đồng Nai. Cần chỉ rõ về mặt quản lý Nhà nước các dự án đầu tư, xây dựng: Quy trình phê duyệt, thẩm tra, trình báo cáo ‘đánh giá tác động môi trường’ (ĐTM) .
Phần yếu tố pháp lý, Bộ TNMT cũng đã khẳng định là chưa chặt chẽ. Tuy nhiên, những yếu tố pháp lý mà bộ đưa ra vẫn chung chung quá, chưa đầy đủ so với những gì mà dự án đã vi phạm.
Đối với bất cứ dự án nào, điều đầu tiên phải kể đến là tính pháp lý của nó, khi mà tính pháp lý không đảm bảo thì... làm sao có thể bàn đến những chuyện khác? Nên việc mà Bộ TNMT kiến nghị Thủ tướng giao cho Bộ TN-MT chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan thẩm định lại ĐTM của dự án có cần thiết không? Bởi vì đã sai, vi phạm về mặt quản lý, pháp lý rồi thì còn thẩm định lại làm gì. Việc còn lại bây giờ là kiểm tra xem tỉnh bồi thường cho chủ đầu tư như thế nào? Xử lý hậu quả ra sao (đất đá đã thi công,...).
Còn nếu đặt vấn đề thoát lũ, lưu thông dòng chảy, bồi lắng, sạt lở bờ, lòng sông, về chuyên môn này thì Bộ Nông nghiệp & PTNT có nhiều chuyên gia chuyên sâu, có kinh nghiệm hơn là Bộ Tài nguyên môi trường. Báo cáo của Bộ trưởng cũng không nói rõ thời gian nào sẽ hoàn thành báo cáo thẩm định lại ĐTM?
Trong công văn Điểm b mục 1 phần II đánh giá: "Dự án đã tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành về đất đai , xây dựng, đầu tư, giao thông đường thủy và đã có báo cáo đánh giá tác động môi trường", mâu thuẫn với đánh giá ở điểm d mục 1 phần II: Dự án thuộc loại phải lấy ý kiến của Bộ TNMT nhưng "trong quá trình triển khai, dự án chưa lấy ý kiến của Bộ TNMT". Như vậy không thể gọi là đã tuân thủ các quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng. Báo cáo cũng không nêu việc chủ dự án không đầu tư di dời trạm thủy văn mà lại đầu tư bằng một dự án khác sử dụng vốn ngân sách nhà nước nghĩa là vẫn bao che cho sai phạm của Tỉnh.
Nếu như công luận, báo chí, trí thức Việt không phát hiện và lên tiếng sớm thì dự án còn thực hiện được đến đâu nữa, chi phí cho thi công, các chi phí thực hiện dự án lớn ra sao? Vấn đề đặt ra, phải chăng cứ làm sai, phát hiện ra là dừng lại? Vai trò, trách nhiệm của người phê duyệt, các đơn vị tư vấn và thẩm định dự án đến đâu? Qua đây cho thấy vai trò quản lý, giám sát của các cơ quan liên quan, cơ quan quản lý vẫn còn những hạn chế. Việc thực thi pháp luật, các quy định, quy trình của Nhà nước vẫn còn nhiều bất cập gây ra những thiệt hại không chỉ về kinh tế mà còn ảnh hưởng đến xã hội và môi trường.
Chính quyền có những quyết định sai cũng đương nhiên phải trả giá. Nếu sòng phẳng thì những ai có trách nhiệm phê duyệt dự án này phải xin lỗi doanh nghiệp và công luận, phải có sự đền bù cho những tổn thất của cộng đồng, và cả của doanh nghiệp. Họ phải chịu trách nhiệm cá nhân và cần có hình thức kỷ luật thích đáng.
Quy trình ở Việt Nam rất lạ chính quyền là vua, dân chúng chỉ có quyền kiến nghị.
Dự án lấn sông Đồng Nai cái sai đã rõ từ vi phạm pháp luật đến không đủ tin cậy về cơ sở khoa học của dự án. Đây không phải là trường hợp cá biệt vì cuộc chiến giữa những người bảo vệ sự sống, bảo vệ sự phát triển bền vững với những người chạy theo lợi lộc trước mắt, nhắm mắt làm bừa còn cam go từng ngày, trên từng thước đất, dòng sông. Hoàng đế nước Pháp Napoleon đã nói : “Thế giới đã phải chịu tổn thất rất lớn. Không phải vì sự tàn ác của những người xấu, mà là vì sự im lặng của những người tốt”.
Báo Thanh niên ngày 3/6/2015 :”Các nhà khoa học cho rằng cần hủy ngay dự án lấn sông Đồng Nai, trả lại nguyên trạng ban đầu vv..” Vế đầu thì chuẩn không cần chỉnh nhưng vế sau đòi trả lại trạng thái ban đầu tức là múc hết đất đá đã đổ, không đơn giản như thế. Dòng sông có quy luật của nó, các mô hình toán thủy lực kể cả các mô hình thông dụng MIKE của Đan Mạch cũng chưa tính được độ lan truyền của độ đục (giả thiết tất cả các hạt trung bình D50) không đúng với thực tế vv... Dừng, hủy dự án là đúng nhưng việc xử lý hậu quả cần phải có luận chứng cơ sở khoa học thuyết phục để đừng “tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa” .
Nhiều người dân có chung nhận xét qui trình ở Việt Nam rất lạ. Nếu đã có luật, qui định trên cơ sở luật thì ở các nước khác, người ta sẽ không kiến nghị các ông có quyền dừng lại hành động mà người ta làm 2 hành động khác thay thế:
1. Phản đối và đòi hỏi chính quyền dừng lại;
2. Ra tòa với tư cách người bị hại, hoặc có thể bị hại, yêu cầu tòa án ra lệnh dừng lại trên cơ sở phía hành pháp vi phạm luật và qui định.
Hiện nay xã hội Việt Nam chính quyền là vua, dân chúng chỉ có quyền kiến nghị!?

“Thu nhập của Bộ trưởng gấp nghìn lần mức lương”

“Tiền của họ có được chủ yếu là do tham nhũng, do chấm phẩy %, do nhận đút lót, rồi việc lên lương lên chức của cấp dưới… Đó là các khoản thu nhập từ tham nhũng dồn đến Bộ trưởng và từ Bộ trưởng nó sẽ tiếp tục dồn lên Bộ Chính trị. Đó là cái điều mà dân VN gần như 100% ai cũng biết, do vậy có nói kiểu gì đi chăng nữa thì 100% dân VN họ cũng không tin. Chắc chắn là họ sống được là nhờ tham nhũng”.
Trong báo cáo gửi QH, Bộ trưởng Nội vụ Nguyễn Thái Bình cho rằng: mức lương hiện hành của Bộ trưởng hiện nay chỉ vào khoảng 14,4 triệu đồng/tháng.
Dư luận xã hội đặt câu hỏi, vậy Bộ trưởng VN sống bằng gì?
Nghịch lý của đồng lương và đời sống
Một điều khá nghịch lý ở VN, đó là tiền lương hầu hết là không đủ trang trải các nhu cầu cuộc sống của người lao động, đó là điều hết sức phổ biến và được coi là chuyện bình thường.
Điều đó xảy ra với mọi đối tượng làm công ăn lương của nhà nước trong toàn xã hội, điều đáng ngạc nhiên là cho dù người đó là các chính khách hay Bộ trưởng.
Mới đây, trong báo cáo gửi QH, Bộ trưởng Nội vụ Nguyễn Thái Bình cho rằng mức lương hiện hành của bộ trưởng hiện nay chỉ vào khoảng 14,4 triệu đồng/tháng.
Bình luận về vấn đề này, từ Hà nội Nhà báo Nguyễn Vũ Bình, nguyên Biên tập viên của Tạp chí Cộng sản cho biết: “Phải nói là cái mức lương 14,4 triệu đồng này, nếu một gia đình Bộ trưởng có vợ và 2 đứa con với mức tiêu của chức vụ Bộ trưởng hiện tại thì số tiền này chỉ đủ cho họ ăn sáng. Tức là mỗi người bình quân hơn 3 triệu. Nhưng thực chất số tiền như thế chỉ đủ cho một người trong nhà họ ăn sáng mà thôi.”
Theo báo Dân trí, ĐBQH Dương Trung Quốc cho rằng: “Hiện tại, không có ai sống bằng đồng lương thật, kể cả người lao động bình thường cho đến những quan chức ở cấp bậc cao… Còn tôi thấy chắc chắn một điều là thu nhập của các Bộ trưởng rất cao, cứ trông cách sống của họ là biết”
Điều đó cũng trùng hợp với dư luận khi cho rằng, trên thực tế cuộc sống của những người là Bộ trưởng hay tương đương rất cao, giàu sang tột đỉnh. Họ có đầy đủ nhà lầu xe hơi, biệt thự, con cái du học nước ngoài ..., không thua gì các nhà giàu ở các nước tư bản.
Đây là một sự khác biệt rất cơ bản giữa thời bao cấp và thời buổi kinh tế thị trường hiện nay. TS. Trần Nhơn, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy lợi, cho biết cuộc sống của các Bộ trưởng thời bao cấp đã sống ra sao. Ông nói với chúng tôi: “Theo tôi hồi xưa, cái nhu cầu cho một cán bộ không cao lắm, những tiêu chuẩn bao cấp, qua tem phiếu và các chế độ cho các cấp lãnh đạo là đủ, không có cần chi phí nào khác. Do không có nhu cầu nên nó không có đòi hỏi tham nhũng gì cả. Còn việc cho các con em các bộ cao cấp đi học nước ngoài, thì qua bên đó họ cũng được học bổng, nên gia đình cũng không tốn kém gì cả.”
Theo VnEconomy, TS. Cao Sĩ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, ĐBQH đã nói thẳng về thu nhập của các Bộ trưởng, ông cho biết: “Nếu nói mức lương của Bộ trưởng hiện nay khó sống thì rất vô cùng. Thực tế thì không ai khó sống, mà lại sống rất đoàng hoàng…Thu nhập của Bộ trưởng cao gấp nghìn lần mức lương”.
100% ai cũng biết
Trả lời câu hỏi, vậy hiện nay các Bộ trưởng (và chức vụ tương đương) đã và đang sống bằng nguồn thu nhập nào?
Bằng một thái độ thẳng thắn, Nhà báo Nguyễn Vũ Bình cho chúng tôi biết nhìn nhận của ông, ông nói: “Tiền của họ có được chủ yếu là do tham nhũng, do chấm phẩy %, do nhận đút lót, rồi việc lên lương lên chức của cấp dưới… Đó là các khoản thu nhập từ tham nhũng dồn đến Bộ trưởng và từ Bộ trưởng nó sẽ tiếp tục dồn lên Bộ Chính trị. Đó là cái điều mà dân VN gần như 100% ai cũng biết, do vậy có nói kiểu gì đi chăng nữa thì 100% dân VN họ cũng không tin. Chắc chắn là họ sống được là nhờ tham nhũng”.
Khi trả lời qua điện thoại, TS Trần Nhơn đã từ chối trả lời câu hỏi này của chúng tôi, tuy vậy ngay sau đó qua e.mail, ông cho chúng tôi biết thêm: “Đó là chưa kể không ít các đương sự phải chạy tốn rất nhiều tiền để đầu tư vào các chiếc ghế đó. Nên khi được ngồi vào chiếc ghế ấy, họ phải nghĩ ngay đến việc "hoàn vốn đầu tư".”
Khi được hỏi, sự khác biệt cơ bản giữa thời kinh tế bao cấp trước kia và thời kinh tế thị trường hiện nay, khi mọi chi tiêu Bộ trưởng (kể cả tiền tham nhũng) vẫn dùng từ nguồn từ ngân sách?
Nhà báo Nguyễn Vũ Bình thừa nhận và cho rằng, về bản chất thì giống nhau, kể cả tiền và vật chất mà các Bộ trưởng có được từ tham nhũng cũng là các đồng tiền thuế của dân. Ông cho biết:
“Khác nhau ở chỗ là tiền, thời bao cấp thì không có tiền hoặc ít tiền. Nhưng thời này thì nhiều tiền vì có nhiều dự án, bây giờ là kinh tế thị trường rồi, thì chủ yếu người ta dùng tiền để giao dịch, vì nó đơn giản hơn. Thời trước thì không có tiền thì họ chủ yếu dựa vào các tiêu chuẩn ưu đãi. Cái khác nhau cơ bản là như thế.”
Trả lời câu hỏi, nên có giải pháp hợp lý thế nào để Bộ trưởng có thể sống bằng thu nhập chính đáng của họ, mà không phải tham nhũng như hiện nay?
Trong trường hợp đó, lương ko biết phải tăng lên mấy chục lần cho đủ, để khắc phục cơ bản tình hình này, chỉ có công khai hóa, minh bạch mọi khâu tuyển chọn và sử dụng cán bộ. TS. Trần Nhơn đề xuất suy nghĩ của ông, ông nói: “Trong một thể chế, cơ chế tài chính mà ông không cho nó cân bằng thì nó sẽ tự động cân bằng, nhưng cái tự động đó sẽ sinh ra tiêu cực, sẽ sinh ra tham nhũng. Nên theo tôi bây giờ lương Bộ trưởng, nếu để họ không tham nhũng, thì phải ở mức 20 đô la Mỹ/giờ làm việc. Tức là cỡ gấp 6-7 lần mức lương 15 triệu bây giờ.”
Không thể dùng các chính sách kinh tế hay các ưu đãi về thu nhập đối với các Bộ trưởng của VN, vì các Bộ trưởng VN hiện đã đi qua xa, họ không đơn giản như chúng ta nghĩ. Nhà báo Nguyễn Vũ Bình khẳng định: “Bây giờ Bộ trưởng VN có thu nhập gấp hàng trăm lần lương của Bộ trưởng Singapore cơ, thì bây giờ lại dùng tiền lương để bảo họ đừng tham nhũng nữa thì không được đâu. Vấn đề là phải có một cơ chế giám sát độc lập, tức là các đảng phái giám sát nhau, hoặc người dân tham gia giám sát nhà nước và hệ thống công quyền. Phải có những thiết chế như thế thì mới có thể giám sát được. Chứ còn còn có liên quan, còn chức còn quyền, còn quyền lợi liên quan đến nhà nước thì làm sao mà chống được? Nó phải riêng biệt ra và không liên quan. ”
TS. Trần Nhơn đã đề xuất giải pháp chung, ông cho biết: “Chống tham nhũng thì phải minh bạch hóa, công khai hóa tức là một khi họ định tham nhũng thì đã lộ ra ngay, thông tin đã có trên báo chí. Nếu như thế thì họ sẽ không dám tham nhũng, vì nếu ông bị lộ ra thì mọi quyền lợi sẽ mất hết. Nhưng mà phải làm cho họ không dám tham nhũng, không thể tham nhũng vì có cơ chế minh bạch và có nhiều kênh kiểm tra”.
Dư luận cho rằng, không chỉ đối với các Bộ trưởng hay các chính khách khác, mà kể cả toàn bộ viên chức nhà nước, nếu như có được mức lương thỏa đáng thì họ sẽ yên tâm làm việc, có trách nhiệm hơn khi thấy cống hiến của mình được ghi nhận. Khi đó họ sẽ không cần phải vòi vĩnh hay tìm mọi cách tham nhũng để đảm bảo chi phí cho cuộc sống của bản thân và gia đình họ. Đó cũng là cách để giữ và tôn trọng tư cách làm người cho họ.
Anh Vũ/(RFA)

Kế hoạch phục sinh Đại Hán Quốc của Tập Cận Bình

Ngày 26-5, Văn phòng Thông tin Quốc vụ viện Trung Cộng công bố Sách Trắng về chiến lược quân sự, nêu rõ hải quân nước này sẽ tiếp tục tổ chức và thực hiện các cuộc tuần tra, sẵn sàng chiến đấu thường kỳ cũng như duy trì hiện diện quân sự ở biển Đông. Sách Trắng Quốc phòng của Bắc Kinh đã gây ra phản ứng lo ngại từ nhiều nước, nhất là trong bối cảnh thế giới đang chăm chú theo dõi việc Trung Cộng ngang nhiên xây dựng các căn cứ quân sự trái phép trên các quần đảo không thuộc chủ quyền Trung Cộng. Các chuyên gia chính trị đánh giá việc công bố chiến lược quân sự chỉ là sự tái khẳng định tham vọng bá quyền của một cường quốc trỗi dậy muốn hiên thực hóa kế hoạch "phục sinh Đại Hán Quốc" mà Tập Cận Bình (Xi Jinping) đã phác họa khi đảm nhận vai trò Tổng bí thư đảng cộng sản Trung quốc cách đây hơn hai năm (2013):- Xây vạn lý trường thành trên biển.
-Thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng Á Châu (Asian Infratructure Invesment Bank- AIIB).
- Thiếp lập Con đường tơ lụa mới gồm hai phần: Vành đai (Hành lang) kinh tế trên bộ và Con đường tơ lụa trên biển.
Tập Cận Bình (TCB) hiện là nhân vật lãnh đạo quốc gia tối cao, giữ các chức vụ then chốt trong guồng máy đảng và nhà nước như chủ tịch nhà nước, Tổng tư lệnh quân đội, chủ tịch Quân ủy trung ương, chủ tịch hội đồng an ninh quốc gia... Với tư cách chủ tịch hôi đồng an ninh quốc gia, TCB chỉ đạo một chính sách đối ngoại, theo hướng quốc gia chủ nghĩa: - Trung Cộng không nhượng bộ Nhật, và các quốc gia láng giềng trong các cuộc tranh chấp hải đảo. - TCB ra lệnh quân đội phải sẵn sàng chiến đấu và phải chiến thắng. So với người tiền nhiệm Hồ Cẩm Đào (Hu Jintao), TCB là người bảo thủ, giáo điều, không chấp nhận đổi mới chính trị và dân chủ hóa đất nước...
Xây vạn lý trường thành mới trên biển
Mỗi năm vào dịp Tết Nguyên Đán, Tập Cận Bình (TCB) ngồi trước bức hình Vạn Lý Trường Thành đọc thông điệp năm mới. Vạn Lý Trường Thành được bạo chúa Tần Thủy Hoàng (250 TCN-210TCN) xây dựng sau khi thống nhất Trung nguyên để một mặt xác định lãnh thổ và mặt khác đề phòng Hung Nô xâm phạm. Nhưng nay biểu tương lịch sử này đối với TCB mang ý nghĩa khác. TCB không muốn Trung cộng an phận tự cô lập. Tập muốn bành trường lãnh thổ, lãnh hải và bằng mọi giá phải đưa Trung cộng lên hàng siêu cường. Cộng đảng Trung quốc cho rằng thời gian giữa hai hội nghị không liên kết ở Bandung(1955-2015) đã có nhiều thay đổi. Trước kia siêu cường Mỹ và Liên xô ngự trị thế giới, nay đã được thay thế bằng Mỹ và Trung cộng. Bây giờ cuộc tranh dành quyền lực giữa hai siêu cường này không còn nằm trong lãnh vực ý hệ Đông-Tây, kinh tế giàu nghèo Nam-Bắc, mà là cạnh tranh ảnh hưởng giữa lực cũ (Mỹ) muốn duy trì vị thế và cường quốc đang lên (Trung cộng) trở thành siêu cường mới.
Dưới mắt TCB, Nga xô dù bị mất địa vị siêu cường vì thất bại trong lãnh vực kinh tế, nhưng vẫn còn là một cường quốc quân sự. Nên Trung cộng muốn trở thành siêu cường không chỉ phát triển kinh tế mà còn tăng cường vũ trang và phát triển quốc phòng, đặc biệt phải hiện đại hóa hải quân và không quân để có thể triển khai tác chiến ở bất kỳ khu vực nào trên các Đại Dương. Biển Đông mang ý nghĩa chiến lược quan trọng sẽ được xây dựng và phát triển thành khu vực đặt dưới sư kiểm soát của Trung Cộng.
Theo Tân Hoa Xã (Xinhua), Sách Trắng Quốc phòng “Chiến lược quân sự Trung Quốc” có nội dung chủ yếu đề cập đến xây dựng lực lượng quân sự, nhấn mạnh phương châm chủ động phòng vệ và tăng cường hợp tác an ninh quốc tế. Trong đó, đáng chú ý là Hải quân Trung Quốc sẽ chuyển đổi trọng tâm từ “phòng vệ ngoài khơi” sang kết hợp giữa “phòng vệ ngoài khơi” và “bảo vệ trên các đại dương” để đối phó “mối đe dọa đối với quyền và lợi ích hàng hải của Trung Quốc”...
Ngoài việc đặt ra vùng nhận dạng phòng không (ADIZ), Trung Cộng trong thời gian qua không ngừng ra sức bồi lấp các bãi đá, xây dựng cơ sở hạ tầng ở biển Đông để biến khu vực "đường lưỡi bò chín đoạn" có diện tích trên 2 triệu cây số vuông thành một thành trì quân sự có khả năng bảo vệ lợi ích của Trung Cộng đối với các nguồn tài nguyên trên biển và trong lòng đai dương mà Trung cộng dựa theo một tấm bản đồ có từ thập niên 1940 tự cho là có chủ quyền. 
Đường lưỡi bò trên bản đồ do Trung Quốc tự vẽ 
và không được các nước liên quan công nhận. 
Đồ họa: Economist
Trong trường, học sinh được giáo huấn: "Lịch sử thế kỷ quốc nhục của chủng tộc Trung Quốc luôn luôn nhắc nhở chúng ta rằng các giống dân ngoại quốc xâm chiếm chúng ta bằng đường biển. Kinh nghiệm không ngừng buộc chúng ta phải nhớ: chiến hạm xuất hiện từ Thái Bình Dương: tổ quốc chúng ta chưa thống nhất toàn vẹn; cuộc tranh đấu về chủ quyền trên Trường Sa, Diaoyo (Điếu ngư) và biên giới Ấn-Trung vẫn còn tiếp diễn... ta phải xây dựng một hải quân hùng hậu để thu hồi toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ những quyền và đặc quyền về lãnh hải của ta".Tập Cận Bình cũng đã tuyên bố tương tự khi Trung cộng ngang nhiên cắm dàn khoan HD 981 trong vùng biển Hoàng Sa: "Chính sự yếu kém của quốc gia trong quá khứ đã giúp những kẻ ngoại xâm phá vỡ phòng thủ biên giới trên bộ và trên biển của Trung Quốc hàng trăm lần, đẩy đất nước Trung Quốc đến tận cùng của tai họa" (Bangkok Post 30.06.2014).
Sách Trắng về chiến lược quân sự còn đưa ra cảnh báo trước những đe dọa về quyền và lợi ích mà Trung cộng phải đối mặt sự hiện diện của Mỹ ở Á Châu cũng như sự gia tăng vũ trang của Nhật là những thách đố an ninh lớn nhất đối với Trung quốc nhưng "Trung Quốc sẽ không bao giờ tấn công, trừ khi bị tấn công sẽ phản công".
Việc thay đổi chính sách đối ngoại (chuyển trục sang châu Á-Thái bình dương) và đưa tàu chiến, máy bay quân sự vào biển Đông cho thấy Hoa Thịnh Đốn đang tìm cách kiềm chế sự trỗi dậy của Bắc Kinh và bản thân Mỹ cũng muốn "hiện diện mạnh mẽ hơn trong khu vực.” 
Thành lập ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng Á Châu (AIIB)
Trong chiến lược lôi kéo đồng minh tranh dành ảnh hưởng trên thế giới, Trung cộng đã khởi xướng thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng Á Châu (AIIB) với vốn thành lập 100 tỷ Mỹ kim trong đó Trung Quốc đóng góp 40%, Ấn Độ đóng góp 10%, các nước châu Á khác đóng góp 25%, 25% còn lại sẽ do các nước châu Âu đóng góp. AIIB được kỳ vọng sẽ chính thức được thành lập với trụ sở tại Bắc kinh và bắt đầu hoạt động vào cuối năm 2015.
Đến nay đã có 57 nước tham gia. Đáng chú ý là trong danh sách này, bên cạnh sự góp mặt của nhiều nước châu Á như Trung Cộng, Ấn Độ, Hàn Quốc, Tân Gia Ba, Phi Luật Tân… còn có 6 nước châu Âu gồm Anh, Ý, Đức, Pháp, Lục xâm Bảo và Thụy Sĩ., Gia Nã Đại cũng đang xem xét khả năng gia nhập AIIB. Như vậy, trong nhóm 7 nước công nghiệp phát triển (G-7) chỉ còn Mỹ và Nhật Bản đứng ngoài cánh cửa của AIIB.
Sự ra đời của AIIB xuất phát từ nhu cầu thực tế khi châu Á là khu vực có dân số lớn nhất thế giới-chiếm 60% nhu cầu về vốn để phát triển hạ tầng., AIIB có tính chất khu vực, có thể phát huy vai trò hỗ trợ bằng việc đáp ứng các yêu cầu đầu tư ở châu Á, thúc đẩy sự phát triển khu vực châu Á không chỉ giúp nhiều người thoát nghèo, mà còn có thể làm gia tăng tầng lớp trung lưu ở khu vực này, tạo ra thị trường tiêu thụ cực lớn cho nền kinh tế khác bên ngoài châu lục. Mỹ lo ngại việc AIIB vận hành tốt sẽ là cơ hội để Bắc Kinh đầu tư cho cơ sở hạ tầng, làm đòn bẩy nâng cao tầm ảnh hưởng của quốc gia này trong khu vực, đe dọa tới vị thế của Mỹ. Vì vậy, Mỹ khuyến cáo các nước đồng minh nên thận trọng trước việc tham gia AIIB, song lời khuyên này trên thực tế đã bị bỏ ngoài tai. 
Sự thành lập AIIB là một thế cờ Trung cộng đẩy Mỹ ra ngoài cũng như thoát được chủ trương cô lập Trung cộng qua Hiệp đinh đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Dự kiến mô hình hợp tác trong các dự án phát triển hạ tầng cơ sở có thể mở rộng qua các châu khác như Nam Mỹ, Phi Châu. 
Thiết lập Con đường tơ lụa
Theo Reuters, chiến lược Con đường tơ lụa được đưa ra trong bối cảnh nền kinh tế Trung Cộng đang chịu nhiều tầng áp lực, do nhu cầu trong nước thiếu động lực và nhu cầu quốc tế suy giảm. Vì vậy, một trong những mục tiêu của chiến lược này được cho là nhằm giải quyết nhu cầu xuất khẩu của nền công nghiệp Trung Cộng.
Trung Cộng sẵn sàng dùng hàng chục tỷ Mỹ kim thúc đẩy chiến lược Con đường tơ lụa mới. Trong chuyến công du Hồi quốc (Pakistan) của Tập Cận Bình vào ngày 20.04.2015, Bắc Kinh đồng ý đầu tư 46 tỷ USD vào các dự án năng lượng và cơ sở hạ tầng tại nước này.
Trung tâm của các dự án là mạng lưới đường sắt và đường bộ do Trung Cộng xây dựng, nối liền Khu tự trị Tân Cương với cảng Gwadar trên biển Arab thuộc Pakistan. Trước chuyến thăm, Bộ Ngoại giao Trung Cộng cho hay đây là các dự án đầu tiên được phê duyệt của chiến lược Con đường tơ lụa mới.
Chiến lược Con đường tơ lụa mới được công bố lần đầu năm 2013, gồm hai cấu phần là Vành đai kinh tế (trên bộ) và Con đường tơ lụa (trên biển). Chiến lược này nhằm nối ba lục địa Á-Âu-Phi, với một đầu là trung tâm kinh tế Đông Á, một đầu châu Âu - cả hai đều rất phát triển, và các quốc gia nằm giữa có tiềm lực phát triển lớn.
"Vành đai" sẽ giúp nối liền các trọng điểm kinh tế Đông Á, Tây Á và Nam Á. "Con đường" sẽ nối liền hệ thống cảng biển của Trung Quốc và Đông Nam Á, qua Ấn Độ Dương và có thể vươn sang tới Địa Trung Hải.. 
Con đường Tơ lụa của Trung Quốc.
Ngoài ra, Trung Công còn ký kết hợp tác với Thái Lan xây kênh đào Pananma Châu Á ở miền nam Thái, nhằm rút ngắn hải trình của tầu bè Trung Cộng từ Trung Đông về Quảng Châu. Đây là bước tiếp theo trong chính sách mở rộng vành đai kinh tế Con đường tơ lụa trên biển của Trung Cộng. 
Tuyến đường biển dự kiến qua kênh đào Kra Isthmus. Đồ họa: Ifeng.
Theo đề xuất thỏa thuận, kênh đào hai chiều sâu 25 m, dài 102 km, rộng 400 m. Việc xây dựng sẽ hoàn tất trong 10 năm, với chi phí 28 tỷ Mỹ kim. Kra Isthmus được ví như kênh đào Panama của châu Á... Khi kênh đào Kra Isthmus dài hơn 100 km đi vào hoạt động, thuyền bè, đặc biệt là tàu chở dầu Trung Quốc từ Trung Đông xuất phát từ biển Andman ở Ấn Độ Dương, có thể trực tiếp đi vào vịnh Thái Lan, tiết kiệm 1.200 km đường biển, so với tuyến đường hiện tại phải vòng qua eo biển Malacca.
Eo biển Malacca là tuyến hàng hải đặc biệt quan trọng đối với nguồn cung cấp dầu cho Trung Quốc. 80% dầu nhập khẩu vào Trung Quốc từ Trung Đông và châu Phi phải đi qua vùng này, nơi nạn cướp biển hoành hành.
Kênh đào có ý nghĩa chính trị và chiến lược quan trọng đối với Trung Quốc. Dự án không chỉ giúp tăng cường khu vực tự do thương mại giữa Trung Quốc và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), mà còn giảm sự phụ thuộc của nước này vào khu vực eo biển Malacca, một khi Mỹ có thể phong tỏa tuyến đường biển qua eo biển Malacca, cắt đứt nguồn cung cấp dầu cho Trung Cộng.
Các nhà phân tích chiến lược nhận xét Con đường tơ lụa là con bài đối trọng của chiến lược chuyển trục sang châu Á- Thái Bình Dương của Mỹ. Qua Con đường tơ lụa mới, Trung Cộng tăng cường ràng buộc lợi ích với các nước châu Á, từ đó cạnh tranh với Mỹ, nâng tầm ảnh hưởng của mình trong khu vực. 
Thái độ của Cộng sản Việt Nam trước kế hoạch của Tập Cận Bình
Việc Trung cộng ngang nhiên bồi đắp đảo nhân tạo trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam và đang hiện thực hóa "đường lưỡi bò" phi pháp trong kế hoạch Tập Cận Bình hầu chiếm trọn biển Đông đã tạo ra bất bình trong dư luận quốc tế. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter kêu gọi Trung Cộng "ngừng ngay lập tức và vĩnh viễn" các hoạt động xây dựng đảo nhân tạo trên Biển Đông. Ông nhấn mạnh cách hành xử của Trung Cộng trong khu vực hiện nay "vượt ra ngoài" các chuẩn mực quốc tế. Chủ tịch Hội đồng châu Âu (EC) Donald Tusk cho rằng, các hoạt động xây dựng của Trung Quốc trên biển Đông sẽ làm phức tạp nỗ lực giải quyết tranh chấp. Ông Donald Tusk khẳng định lập trường của EU là các bên liên quan phải kiềm chế việc đe dọa hay sử dụng vũ lực, đồng thời nhấn mạnh phải tìm một giải pháp mang tính hòa bình. Washington Post cho rằng thái độ cứng rắn của Mỹ và các quốc gia châu Á trong việc đoàn kết chống lại các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc sẽ khiến Bắc Kinh chùn bước.
Riêng Việt Nam là nước bị Trung Cộng lấn chiếm nhiều đảo thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lại có phản ứng yếu ớt, nhu nhược. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình tuyên bố (theo báo Nhân Dân ngày 21/5/2015): "Chúng tôi mong các nước liên quan đóng góp có trách nhiệm tích cực, duy trì hòa binh an ninh hàng hải, hàng không trong vùng Biển Đông". Viên chức này tránh cả việc nêu tên của Trung Cộng là nước đã gây ra cuộc khủng hoảng.
Giáo sư Carl Thayer chuyên gia về Biển Đông tại Học viện Quốc phòng Úc nhận xét thái độ của Cộng sản Việt Nam là đang đi nước đôi: Một mặt, Việt Nam không muốn dính líu trực tiếp vào căng thẳng với Trung Cộng, nhưng một mặt muốn khuyến khích Hoa Kỳ can dự.
Trên phương diện đối ngoại đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam vẩn kiên trì chính sách ba không: Không liên minh quân sự; không cho lập căn cứ quân sự ở Việt Nam và không liên minh chống lại bất kỳ nước nào. Chính sách này đã trói buộc quốc gia không tìm được đồng minh tin cậy để cùng chống sự khống chế của Trung Cộng. Về mặt đối nội, Cộng sản áp dụng một chính sách ba không khác: Không chấp nhận đa nguyên dân chủ, không chấp nhận đối lập, không chấp nhận chính đảng nào ngoài đảng CS. Hậu quả đã làm giảm đi nội lực đoàn kết dân tộc.
Hiện nay Việt Nam đang đứng trước thách thức và mối đe dọa vô cùng to lớn về chủ quyền quốc gia. Trung Cộng ngày càng ngạo mạn, bất chấp luật lệ quốc tế gia tăng tiềm lực quân sự, mở rộng các căn cứ quân sự tại Biển Đông. Một mình Việt Nam không thể tự bảo vệ chủ quyền quốc gia cho chính mình và Đảng cộng sản không thể phát huy sức mạnh của dân tộc nếu không sớm dẹp bỏ các chính sách ba không có hại cho đất nước về mọi mặt.
(Nguồn : Tiếng Dân/Dân quyền)

Vì ông trời không thể biện minh!

Quốc lộ 91B (T.p Cần Thơ) vừa đưa vào sử dụng vài tháng đã bị sụt lún
* CAO HUY HUÂN
Gần đây báo chí liên tục phản ánh hàng loạt các công trình hạ tầng của ViệtNam vừa xây chưa xài đã xuống cấp. Nhiều công trình nghìn tỷ vừa được dân “động chạm” vài ba đường cơ bản đã hư hỏng khiến ai nấy tiếc nuối đến nao lòng vì số tiền họ dày công lao động đóng góp cho ngân sách nay đổi lại bằng những thứ tệ hại.
Đại lộ nghìn tỷ chứ đâu phải vài nghìn đồng
Lướt qua đoạn clip “Tai nạn giao thông” vì đường sụt lún của báo VNExpress ghi nhận tại Đại lộ nghìn tỷ Mai Chí Thọ, ai nấy cũng đều hoảng hốt và khiếp sợ. Chẳng biết báo chí nước ngoài có săn đón được những hình ảnh tệ hại này hay không: chạy xe thời bình còn gập ghềnh, hiểm nguy hơn cưỡi ngựa thời chiến. Những chiếc xe máy con con nhấp nhô theo từng “làn sóng” theo kiểu ruộng bậc thang mà chẳng ai nghĩ họ đang đi trên một con đường nổi tiếng nhất nhì Sài Gòn. Họ len lỏi giữa những đoàn xe tải đen kịt, những chiếc container khổng lồ và đành chấp nhận treo tính mạng mình trên tuyến đường đầy chông chênh, chẳng biết “hố tử thần” sẽ xuất hiện khi nào để tiễn họ về bên kia thế giới để hội ngộ cùng “các cụ”.
Đại lộ Mai Chí Thọ không phải là công trình nghìn tỉ duy nhất ở TP. HCM xảy ra tình trạng sụt lún khi mới đưa vào sử dụng. Trước đây, đường cao tốc TP. HCM – Trung Lương cũng gặp phải sự cố khi mới đưa vào sử dụng. Tương tự, đường cao tốc TP. HCM – Long Thành – Dầu Giây cũng từng xảy ra sự cố. Mới đây, dư luận cũng vô cùng phẫn nộ khi chứng kiến tuyến kênh thoát nước của dự án cải tạo kênh Ba Bò (nằm trên địa phận tỉnh Bình Dương) mới khánh thành được một tháng đã bị hư hỏng, trong khi nhà nước đã đổ hơn 345 tỉ đồng vốn đầu tư.
Chỉ cần so sánh giá đầu tư và chất lượng cũng đủ thấy tiêu chí tiết kiệm - hiệu quả trong đầu tư hạ tầng hiện nay quá kém. Tôi và nhiều người tự đặt ra hàng ngàn câu hỏi về trách nhiệm và đạo đức với đơn vị đầu tư lẫn nhà quản lý công trình, và tất nhiên ai cũng có quyền nghi ngờ về giá trị thật phía sau những gói thầu nghìn tỷ, nhất là khi các tuyến đường hay các công trình công cộng ở Việt Nam liên tục dính các nghi án, cáo buộc tham nhũng, lập quỹ đen, ăn hối lộ, nạn lại quả liên quan đến Nhật Bản, Hàn Quốc, thậm chí là Ngân hàng Thế giới.
Chỉ giỏi đùn đẩy trách nhiệm
Nhưng hỡi ôi, tất cả các nghi vấn và đặt vấn đề liên quan đến sự tệ hại của hạ tầng giao thông công trình hầu hết đều được các nhà chức trách “tung chiêu” tuy cũ mà vẫn “hiệu quả”: đùn đẩy trách nhiệm để khiến dân mệt mỏi đến mức chẳng màng kiện cáo, khiếu nại hay làm rõ vấn đề, vốn chỉ tổn hao tâm sức, tốn kém và hoài công.
Cái hay của nhiều vị chức trách là đùn đẩy trách nhiệm theo kiểu chung chung số đông để chia nhỏ mức độ nghiêm trọng của vấn đề, hòng tìm kiếm sự chia sẻ một cách bức bách. Chẳng thể ngờ nhiều người “có học, có trình độ và có chuyên môn” làm việc trong ban ngành quản lý chất lượng công trình lại có thể đổ lỗi theo kiểu “phương tiện tham gia giao thông quá đông” nên đường hư là phải, dù con đường cũng chỉ mới được xây dựng và đưa vào sử dụng mà thôi. Các vị xây đường ít nhất cũng tính toán lưu lượng phương tiện giao thông, áp lực phương tiện… để từ đó quy ra tiêu chí đảm bảo kỹ thuật. Đằng này xây đường cho dân đi, lại đổ thừa rằng dân đi nhiều quá!? Phải chăng dân nên ở nhà để đường sá đỡ áp lực? Mà nếu ở nhà thì xin thưa, chẳng có tiền để có thể “sòng phẳng” hàng tá thứ thuế: thuế xăng dầu, thuế cầu đường, thuế môi trường khi dùng xăng dầu... mà các vị đã lần lượt đưa ra, đè nặng lên đôi vai cần lao của họ.
Độc đáo hơn là khi không biết đổ lỗi cho ai, có vị quản lý còn tung chiêu “Chí Phèo”, ngước mặt lên đổ lỗi cho “ông Trời” để rồi dân phải há mồm vì chẳng thể ngờ “chuyện như vậy mà quan cũng làm cho được”. Đơn cử như vụ kênh Ba Bò “chưa động đã hư”, ông Nguyễn Văn Trí, Giám đốc đơn vị thi công (công ty TNHH Sản xuất - Xây dựng Quỳnh Phúc) cho rằng lỗi do ông Trời khi vị này biện minh “mấy hôm trước tại khu vực thượng nguồn đã xảy ra cơn mưa khá lớn nên nhiều khe nối giữa các tấm đan chạy theo tuyến kênh chưa hoàn thiện đã làm nước rút vào gây hiện tượng sạt lở cục bộ”. Điều này khiến tôi nhớ đến vụ lũ lụt miền Trung lịch sử nhấn chìm biết bao căn nhà, người dân, tài sản, hoa màu… Trong khi người dân tố cáo thủy điện đầu nguồn xả đập lén lút vì sợ vỡ bờ, thì chính quyền lại cho rằng lũ lụt đơn thuần là chuyện thiên tai, kiểu như Trời kêu ai nấy dạ, chứ chẳng phải do con người?! Và chính vì “ông Trời” – vốn chẳng thể mở miệng gọi luật sư bào chữa, càng không có khả năng tự bào chữa bằng bất kỳ hình thức nào, nên bên thắng cuộc chính là các quan quản lý. Xem ra hai tiếng “ông Trời” ngoài tác dụng để người dân chân lấm tay bùn than vãn vì chẳng ai thấu được nổi khổ vì sử dụng công trình “đểu”, thì “ông Trời” cũng là danh xưng quý báu và hiệu quả để người ta vịn vào đó đổ lỗi cho những thảm họa vốn chẳng phải thiên tai, mà chính là “nhân tai”.
Vì đâu nên nỗi?
Phải nói rằng chẳng đâu như ở Việt Nam, quốc gia nhận viện trợ chính thức (ODA) nằm trong tốp đầu của thế giới, nhất là viện trợ về cơ sở hạ tầng công cộng, nhưng lại chẳng có mấy công trình nhìn cho ra hồn ra vía. Khi các quốc gia bè bạn nâng niu và chắt chiu từng đồng ODA, thì Việt Nam tung tiền nghìn tỷ làm những con đường để rồi dính nghi án “quỹ đen”, “lại quả” – căn nguyên của sự đội giá lên cao chót vót, còn đường sá thì được thi công bằng những công cụ, giải pháp đơn sơ và thiếu hiệu quả đến bất ngờ.
Khi không có bằng chứng, chẳng nên kết tội hay quy chụp bất kỳ một ai. Nhưng những bài báo và các công bố gần nhất của các quốc gia lớn cung cấp ODA cho Việt Nam như Nhật, Hàn Quốc hay Tổ chức Ngân Hàng Thế Giới về nghi án quan chức Việt Nam hối lộ các công trình cao tốc, hay cả công trình giao thông nông thôn,… cũng đủ để chúng ta lờ mờ nhìn ra bức tranh toàn cảnh vấn nạn “đổ lỗi cho trời”. Chẳng cái nhục nào lớn hơn khi Nhật cảnh cáo thẳng thừng, bất chấp những yếu tố ngoại giao mang tính nhạy cảm, rằng nếu Việt Nam còn để xảy ra nạn hối lộ một lần nào nữa trong các công trình ODA thì Nhật sẽ chẳng viện trợ thêm một đồng nào.
Cái logic “bắt tay làm giá, ăn chia khoảng chênh lệch giá công trình” bằng hàng loạt các thủ thuật: xin gia tăng vốn đầu tư, cắt giảm một số quy trình trong thực thi công trình, thay đổi vật liệu, chuyển đổi kết cấu công trình theo hướng rẻ hơn, cắt giảm lượng vật liệu xây dựng… cho đến nay đã trở nên khá quen thuộc mà có lẽ dân cũng biết thừa, nhưng không đủ khả năng để giám sát và kết tội. Cứ như Singapore hay châu Âu, sử dụng hệ thống chính phủ điện tử để giám sát từ khâu đề xuất, đánh giá, thực thi và vận hành, thì dù lãnh đạo có chối cãi quanh co, đổ lỗi cho đất trời thần thánh cũng sẽ phải đền bù, ngồi tù hay thậm chí là nhận án tử.
Xin dẫn lại nhận định trên báo chí của TS. Nguyễn Bách Phúc, Chủ tịch hội Tư vấn Khoa học công nghệ và Quản lý TP. HCM cho rằng: Đối với tất cả các công trình nói chung, cần phải tuân thủ nghiêm ngặt tất cả các bước từ khảo sát, thiết kế, thi công, giám sát, nghiệm thu thì mới cho ra đời một công trình đạt chuẩn. Chỉ cần mắc sai phạm tại một trong năm quy trình trên, công trình sẽ xảy ra vấn đề ngay. Nghĩa là, đường đã gặp sự cố hẳn là có sai phạm. Mà có sai phạm thì phải rà soát và “tính sổ”, chứ không thể để dân nghe hoài một bài ca xưa như Diễm – “công trình hư hại là do dân, hay do lỗi ông Trời”.

Quyền lực của công an

* KÍNH HÒA “Thể chế chính trị ở Việt Nam là một thể chế công an trị, công an có đủ thức các quyền để sách nhiễu, ai cũng sợ cả…”. “Tôi thì gọi đó là bệnh kiêu ngạo cộng sản, họ không muốn thua cái gì cả, nhất là thua dân. Họ luôn muốn ở thế thắng, ngay những vụ án mà họ đã sai mười mươi rồi thì họ cũng sẽ nói theo cái kiểu nào đấy”…
Ngày 2/6/2015 cô Phạm Thanh Nghiên bị lực lượng an ninh hành hung trước nhà riêng tại Hải phòng. Cùng ngày hai người thân của nạn nhân Tu Ngọc Thạch bị xử án tù tại Vạn Ninh vì được cho là đã kêu lên rằng công an đánh chết người gây rối trật tự công cộng.
Sau đây là ghi nhận của Kính Hòa ý kiến của những người từng đối diện với cơ quan an ninh Việt nam trong thời gian gần đây để tìm lời giải thích về thái độ ứng xử của cơ quan công an đối với dân chúng.
Sự trả thù của ‘kiêu binh’
Nhà báo Võ Văn Tạo ở Nha Trang, người từng có 8 năm làm việc trong ngành tư pháp bình luận về vụ án ở Vạn Ninh: “Theo tôi thì cái phiên tòa ở Vạn Ninh, một ông chú , một ông bác thấy đứa cháu mình chết thì các ông ấy đâu đớn la lên thì chuyện ấy là tất nhiên. Nếu người xét xử mà có trái tim, dù là công an điều tra, hay viện kiểm sát có phê chuẩn thì không ai truy cứu các ông ấy, ra tòa cũng phải được tha bỗng. Mà nếu tòa án làm được việc đó thì chỉ có tốt cho thể chế này thôi. Họ làm như thế thì trên dư luận xã hội, ai ai cũng biết rằng đây là một hành vi trả thù rất đê tiện.”
Ông Tạo nhắc tới vụ án Đồng Nọc Nạn dưới thời chế độ thực dân Pháp tại miền Nam Việt nam, trong đó công lý được thực hiện một cách cẩn trọng hơn, người nông dân phạm tội trong vụ án này được tha bỗng.
Ông cũng cho biết thêm là trong các cơ cấu chính quyền ở địa phương, người đứng đầu ngành công an luôn có vị trí quyền lực trong đảng cộng sản lấn át hơn tòa án, mà chế độ chính trị ở Việt nam là do duy nhất đảng cộng sản lãnh đạo cho nên nảy sinh ra quyền lực của ngành công an rất lớn.
Một cựu tù chính trị là nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa ở Hải phòng nói là ở Việt Namnhìn bề ngoài rất là yên bình, nhưng sự áp bức bên trong là rất lớn. Ông kể lại chuyện đời Lê Trịnh cách đây vài trăm năm, lúc ấy có một đội quân gọi là Tam Phủ được tuyển chọn phục vụ cho cung vua phủ chúa. Khi xã hội trở nên náo loạn thì đội quân này trở thành kiêu binh. Ông Nghĩa tiếp lời: “Bây giờ cũng vậy, cái kiêu binh công an, bây giờ họ còn coi thường cả bộ chính trị nữa cơ. Anh em chúng tôi gọi đấy là nạn kiêu binh, nạn công an trị, nó nằm trên cả luật pháp, nó có những hoạt động ngấm ngầm, nó theo dõi và nó khống chế cả những người Ủy viên Bộ chính trị, những người có tư tưởng cấp tiến.”
Xã hội công an trị là một nguyên tắc chính trị
Kỹ sư Nguyễn Tiến Trung, người cựu tù chính trị vừa được trả tự do cách đây không lâu cũng nhiều lần đối mặt với nhân viên an ninh. Ông cho rằng chế độ hiện hành tại Việt nam là chế độ công an trị: “Thể chế chính trị ở Việt Nam là một thể chế công an trị, công an có đủ thức các quyền để sách nhiễu, ai cũng sợ cả. Khi làm việc với tôi thì trên danh nghĩa là chủ tịch phường là người làm việc với mình, trong phạm vi quản chế của phường. Thực tế là an ninh làm việc thôi chứ phường không hề nắm, không biết gì cả. Bộ máy dân sự lập ra như là cái bình phong cho công an quân đội họ làm thôi.”
Tuy nhiên việc sử dụng bạo lực hay áp chế của lực lượng công an không đồng đều. Ông Võ Văn Tạo, người bị cơ quan an ninh tỉnh Khánh Hòa liên tục mời làm việc trong thời gian qua, cho rằng thái độ và hành vi của công an còn tùy thuộc vào sự cứng rắn của người được thẩm vấn, cũng như tính chất của từng địa phương. Ông lấy ví dụ như tỉnh Khánh Hòa là nơi cơ quan an ninh ít sử dụng bạo lực đối với những người bất đồng chính kiến hơn là Hải phòng.
Còn có một điều nữa trong hành vi ứng xử của lực lượng an ninh là những cuộc tranh cãi, lý luận với những người họ thẩm vấn, đôi khi chẳng phải là có liên hệ với vấn đề mà hay bên đang giải quyết. Đó là trường hợp nhiều tù nhân có trình độ học vấn cao gặp phải. Nhà báo Đoan Trang, người cũng từng bị an ninh thẩm vấn nhiều lần nói: “Tôi thì gọi đó là bệnh kiêu ngạo cộng sản, họ không muốn thua cái gì cả, nhất là thua dân. Họ luôn muốn ở thế thắng, ngay những vụ án mà họ đã sai mười mươi rồi thì họ cũng sẽ nói theo cái kiểu nào đấy. Họ không chịu thua dân cái gì cả, ngay cả về lý luận các thứ, khi họ gặp những người mà họ nghĩ là có trình độ, thì họ cũng tìm cách để chứng minh rằng thế ta là thế trên đầu thù.”
Cô Đoan Trang đặt nghi vấn là cách hành xử của nhân viên an ninh là do nơi đào tạo họ. Nhà văn Thùy Linh, người từng được đào tạo trong trường an ninh lại cho rằng cách hành xử hiện nay của ngành công an là một sự bất lực: “Ngành an ninh hoàn toàn bất lực, họ không còn biết là phải làm như thế nào nữa. Và bây giờ họ chỉ còn có mỗi cái gọi là sự tận cùng của phương pháp. Họ còn có biết mỗi việc đó thôi. Họ không còn có cách nào chống lại sự phản kháng của dân, cái mà ngày xưa gọi là sự sợ hãi thì bây giờ dân chúng vượt qua được sự sợ hãi rồi.”
Xã hội Việt Nam hiện nay có nhiều giao thương với bên ngoài bằng nhiều phương tiện khác nhau, người ta cho rằng nó rất khác với xã hội Việt Nam thời bao cấp, hay là những xã hội Đông Âu thời cộng sản. Ở những xã hội này sự kiểm soát của công an còn rất chặt chẽ. Theo nghiên cứu của Tiến sĩ Cynthia M. Horn tại Đại học Western Washington, thì trong xã hội Đông Đức trước đây, cứ tám người dân thì có một người hợp tác với bộ máy mật vụ.
Và bộ máy mật vụ công an, theo nguyên tắc của cuộc cách mạng cộng sản, là một công cụ quan trọng để trấn áp. Nhà Văn Thùy Linh nói tiếp: “Họ xác định đấy là một công cụ chuyên chính của cuộc cách mạng vô sản. Quân đội và công an là lực lượng chuyên chính nòng cốt, đặc biệt là an ninh, công an. Cho nên họ cho phép họ sử dụng rất nhiều quyền lực. Họ cho phép họ vượt tất cả khi họ hành xử, không ai phán xét họ.”
Giải pháp?
Hiện nay Việt nam vẫn tuyên bố rằng mình theo đuổi con đường cách mạng vô sản với duy nhất đảng cộng sản lãnh đạo.
Trong cuộc họp Quốc hội đang diễn ra tại Hà nội, một đại biểu là Trung tướng Trần Văn Độ, từng là Phó chánh án tòa án nhân dân tối cao nói rằng cần phải thay đổi quan niệm về án hình sự. Trong cuộc trao đổi với báo Tuổi Trẻ, ông Độ có nói rằng: “Đã làm việc liên quan đến số phận con người là phải cẩn trọng. Thật cẩn trọng! Và quan niệm của tôi phải buộc được tội mới kết tội. Có thể bỏ lọt nhưng không thể buộc tội oan”...
Ý tưởng này của ông Độ không khác những quan điểm cho sự vận hành của các xã hội pháp trị, trong đó công an chỉ là lực lượng chấp pháp chứ không đứng trên pháp luật.
Tuy nhiên theo nhận xét của nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa thì lực lượng công an đang trở thành kiêu binh và có khả năng vượt ra khỏi sự kiểm soát của những người tạo ra nó. Và một điều quan trọng nữa như nhà báo Trần Văn Tạo trao đổi với chúng tôi là vẫn còn có sự độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản, mà công an, an ninh lại chính là công cụ trấn áp của đảng chính trị duy nhất đó.

2 tháng 6, 2015

Làng báo, nhà báo, nghề báo và… quả báo!

Tác giả: Bùi Hoàng Tám (Bài trên Lao động Nghệ An)
KD: Có một vấn đề mà mình rất suy ngẫm khi đọc bài viết này cũng như bài viết về tính chuyên nghiệp của nhà báo VN mà GS Nguyễn Văn Tuấn từng đề cập. Đó là văn hóa báo chí. Xin lỗi những nhà báo chân chính, có văn hóa, nhưng thực sự có đi tác nghiệp, đi công tác, làm việc với nhiều bạn đồng nghiệp, có một điều khi quan sát, mình kinh ngạc về cái gọi là văn hóa báo chí. Mà nguồn gốc mình vẫn nghĩ, xuất phát từ giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường quá nhiều lỗ hổng. Nhưng nghĩ đi rồi nghĩ lại, lại thấy báo chí VN cũng là sản phẩm tất yếu của một xã hội, một cơ chế, một thể chế chính trị, một nền tảng dân trí- mà thôi! Nghĩ vậy, để bình thản, bình tâm mà… thích ứng
Năm nào cũng vậy, cứ đến những ngày này, không khỏi không nghĩ về làng báo (mà mình là một “công dân”), nghề báo (nghề mình đã hàng mấy chục năm gắn bó) và… quả báo (lạy giời!).
Làng báo hôm nay
Nước ta, người viết báo thì nhiều vô kể. Năm vạn, mười vạn hay nhiều hơn thế? Có lẽ không ai có câu trả lời bởi chẳng ai thống kê mà có thống kê cũng không cho con số chính xác. Thôi thì đã gọi “làng báo”, tức là phải có nhiều “nhà”. Tạm qui ước, ai là hội viên Hội Nhà báo Việt Nam thì gọi là công dân làng báo vậy.
Theo con số ước tính, làng báo cả nước có khoảng hơn 19.000 “công dân” ở trung ương và các địa phương, một con số quả là không nhỏ.
Đã gọi là làng, nó cũng như mọi cái làng trên đất nước này. Nghĩa là có cấp chức, có chuyên ngành, chuyên nghề và có cả người tốt lẫn người xấu, người lương thiện lẫn kẻ… bất lương. Tức là có cả thánh thần và ma quỉ.
Các cư dân làng báo, tất nhiên là cũng như mọi thành phần cư dân khác, tập trung khá đông ở Hà Nội và các thành phố lớn. Chỉ trừ ở một số cơ quan báo chí có sự quản lý chặt chẽ và một số địa phương vẫn nặng nề tư duy thời bao cấp, nhà báo ở các thành phố lớn hiện nay khá thỏa mái khi thay đổi “lãnh địa”.
Họ có thể làm cho một hay nhiều tờ báo khác nhau và sẵn sàng “chuyển nhượng” như cầu thủ bóng đá. Nhất là với những nhà báo tay nghề vững, họ là những “bạo lực lao động” nên nơi nào cũng cần. Hay thì ở, dở thì chào!
Tóm lại, làng báo giờ đây hao hao như mọi “cái làng” Việt Nam thời mở cửa. Thông thoáng, khoáng đạt…!
Nghề báo thì sao?
Đã có khá nhiều người “định nghĩa” về cái nghề này. Ở các nước phương Tây, báo chí được coi là “quyền lực thứ tư”, sau lập pháp, tư pháp và hành pháp.
Ở Việt Nam thì không phải thế.
Đã từng có hẳn bộ phim nước ngoài nói về hoạt động báo chí mang tên “Nghề nguy hiểm”.
Báo chỉ Việt Nam có nguy hiểm không?
Tất nhiên là có và thậm chí từng rất nguy hiểm. Đó là những phóng viên chiến trường của các cuộc kháng chiến mà trong họ, đã có nhiều nhà báo, phóng viên báo chí anh dũng hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Trong cuộc sống hôm nay, nhiều và rất nhiều nhà báo đang ngày ngày đối mặt với hiểm nguy, tất nhiên là không thể so với những năm tháng chiến tranh nhưng lại cám dỗ hơn và phức tạp hơn.
Vì vậy, có một thuật ngữ chỉ nghề này có lẽ xác đáng hơn. Đó là “Nghề báo – Nghề nghiệt ngã” của Nhà báo, Nhà văn Nguyễn Uyển, nguyên Trưởng ban Công tác hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.
Sự nghiệt ngã của nghề báo giống như sự nghiệt ngã của số phận: Bất trắc và khó lường. Nó là sự nghiệt ngã của chữ nghĩa bởi có thể chỉ một chữ, một câu thôi là đủ hủy hoại thanh danh của một số phận và hủy hoại thanh danh của chính nhà báo đó.
Nói thì dài, có trong nghề mới thấy nghề sao “nghiệt ngã”!
Nghề báo và… quả báo.
Làng báo hiện nay có nhiều và rất nhiều những nhà báo chân chính, dũng cảm nhưng cũng có cả đám “hùm beo, hổ báo”.
Trong dân gian lưu truyền có mấy “thuật ngữ” để chỉ những nhà báo tha hóa như: “Kê đơn bốc thuốc tại nhà”, “Đánh gà chết”, “Đội Lê dương”, “Tiền binh hậu lễ”, “Đánh hội đồng”…
“Kê đơn bốc thuốc tại nhà” là để chỉ loại “nhà báo” đến tận nơi, đặt giá hẳn hoi, vụ này là bằng này, vụ này là bằng kia… Tức là “niêm yết bảng giá” hẳn hoi.
“Đánh gà chết” là chỉ những nhà báo chuyên “đánh” những người ngã ngựa, kiểu “kền kền” chờ xác chết khiến nhiều người thân đã bại, danh đã liệt còn bị đẩy đến đường cùng.
“Quân Lê dương” là chỉ hành động đâm thuê, chém mướn giống như lính đánh thuê thời Pháp thuộc…
“Tiền binh hậu lễ” là chỉ hành vi “túm ngực”, lấy… quảng cáo.
“Đánh hội đồng” là “thuật ngữ chỉ một nhóm nhà báo thuộc các báo khác nhau xúm vào “đập” một ai đó” đến “chết” thì thôi.
Đó là chưa kể có cả đám mượn danh “nhà báo” nghe phong thanh đâu đó có việc gì đó đến để lừa đảo, thậm chí chỉ để… kiếm cái phong bì.
Tất nhiên, số người nêu trên không nhiều nhưng dư luận nhân dân phản ánh thì khó có thể nói là không có.
Nếu có một số người ngoài nghề rất sợ loại nhà báo này thì trong giới, anh em còn “sợ” hơn bởi chính họ làm ô uế cái nghề nghiệp cao quý của mình.
Trong cái “kho tàng” văn học dân gian nói về nghề báo, ngoài các câu như “Bới bèo ra bọ”, “Nhà văn nói láo, Nhà báo nói ngoa”… có lẽ cũng cần có một câu nữa.
Đó là “Không có lá báo, hoa báo nhưng có… quả báo!”.
Âu đó cũng là những câu tự răn mình mỗi khi cầm bút…

Phải chữa bệnh cho người Việt thôi?!

Tác giả: Như Thổ
Nước Việt sẽ không bao giờ khá được, bởi lòng đố kỵ tài năng, sự hiềm tị không muốn người khác hơn mình.
———–
Người Việt mắc một căn bệnh rất lạ là thấy ai giàu hơn thì ghen tị, tức tối, thấy ai nghèo hơn thì khinh.
Người Việt ta, bên cạnh những đức tính rất tốt mà ai cũng nhận thấy và đã trở thành những nét đẹp truyền thống từ bao đời nay thì cũng có không ít những tính xấu. Đặc biệt, khi chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường, thì những tính xấu ấy xem ra ngày càng trầm trọng hơn.
Trong đó, không thể không kể đến là tính đố kị và khinh người.
Chuyện người Việt ta hay khinh người nghèo, khinh quốc gia nghèo thì đã có vô vàn dẫn chứng. Có không ít “ đại gia” khi sang Cuba về, là cao giọng dè bỉu, chê bai… Nhưng họ không biết rằng, xếp hạng giáo dục, y tế, thể dục thể thao… thì Việt Nam ta, còn thua Cuba rất xa, cực kỳ xa.
Đã có rất nhiều những câu chuyện trong làm ăn kinh tế mà chính sự đố kị, ghen tức đã khiến người Việt tự hại nhau bằng mọi chiêu trò, trong đó có một cách thường thấy nhất là nói xấu, tung tin đồn nhảm.
Cách đây vài ngày, Bkav cho ra mắt chiếc điện thoại thông minh Bphone do chính những kỹ sư người Việt thiết kế và chế tạo. Với sự kiện này, chúng ta hoàn toàn có thể tự hào rằng Việt Nam đã có những sản phẩm có hàm lượng chất xám cao. Tất nhiên, với một sản phẩm mới ra đời, không thể tránh khỏi có những khiếm khuyết, nhưng cá nhân tôi tin rằng một nhà khoa học, một kỹ sư tin học tài ba như ông Nguyễn Tử Quảng sẽ không dại dột gì “mua danh ba vạn, bán danh ba đồng” bằng việc quảng cáo cho chiếc điện thoại do mình chế tạo quá sự thật.
Lẽ ra, khi sản phẩm này ra đời, chúng ta cần ủng hộ và có những biện pháp để quảng bá cho chiếc điện thoại này. Nói cách khác, lẽ ra chúng ta cần có những hành động thể hiện lòng tự hào và lòng yêu nước bằng cách sử dụng sản phẩm do chính người Việt làm ra.
Nhưng, thay vì tự hào, ủng hộ, lại có rất nhiều lời dè bỉu, chê bai mang tính đố kị, ghen tức và phê phán theo kiểu “bới bèo ra bọ”.
Người Việt cứ hay so sánh với người Nhật, người Hàn Quốc rằng tại sao họ có thể thế này, có thể làm được thế kia, mà không nhìn thấy được rằng để Nhật Bản, Hàn Quốc có được ngày hôm nay thì họ đã thể hiện lòng yêu nước như thế nào. Ở Hàn Quốc, hiếm thấy một chiếc ô tô hay dụng cụ nghe, nhìn của Nhật Bản sản xuất. Ngay từ những năm 60, 70 của thế kỷ trước, khi người Hàn Quốc còn nghèo đói, khốn khổ, họ đã coi việc sử dụng những hàng hóa do người Hàn làm ra chính là một hành động thể hiện lòng yêu nước.
Có lẽ, người Việt chỉ thể hiện lòng yêu nước khi đất nước có giặc ngoại xâm. Còn ngày nay, có lẽ cần xem xét lại khái niệm lòng yêu nước trong mỗi người Việt.
Tại sao yêu nước mà lại chỉ thích hàng ngoại? Tại sao yêu nước mà lại quay lưng lại với những sản phẩm do người Việt làm ra?
Tính đố kị của người Việt quả thật đã làm cho những người tử tế muốn sống tử tế cũng khó, cũng khổ.
Tôi có một anh bạn là Tổng giám đốc một doanh nghiệp nhà nước. Anh rất giàu có, không chỉ nhà cao, cửa rộng, mà còn có trang trại, ô tô xịn. Anh nói thẳng với tôi rằng anh đã chán, không còn muốn làm Tổng giám đốc ở doanh nghiệp này nữa. Lương tháng cũng cao đấy, nhưng suốt ngày phải nghe những lời chê bai, dè bỉu. Anh được đề bạt thì có tin anh dùng tiền để mua chức tước, khi anh được khen thưởng thì lại bị mang tiếng là dùng tiền để mua danh. Người ta thấy anh đi ô tô xịn thì dè bỉu rằng “không ăn cắp tiền Nhà nước thì làm gì có tiền mua ô tô”.
Không ai nghĩ rằng anh giàu có được như vậy là vì anh đã phải lao tâm khổ tứ như thế nào, không ai hiểu rằng từ khi làm Tổng giám đốc, anh đã gây dựng, phát triển doanh nghiệp này từ số vốn ban đầu chỉ vài chục tỉ đồng, nay đã có có hàng chục nghìn tỉ đồng và trở thành một doanh nghiệp danh tiếng như thế nào.
Người xưa có câu “Tiểu phú do cần, đại phú do thiên” – nghĩa là muốn no đủ thì phải dựa vào cần cù, còn muốn giàu có thì phải nhờ trời, nghĩa là phải nhờ những may mắn và cơ hội do hoàn cảnh khách quan mang lại, còn bản thân chủ thể thì chưa chắc đã nắm bắt được. Câu chuyện làm giàu của anh, nghĩ lại cũng thật buồn cười. Cách đây gần chục năm, khi các doanh nghiệp bắt đầu lao vào cổ phần, cổ phiếu, doanh nghiệp của anh cũng được chỉ định phải chuyển đổi từ 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần và phải lên sàn chứng khoán. Vậy là, Tổng công ty phải mở một cuộc vận động cán bộ công nhân viên trong Tổng công ty mua cổ phần.
Nhưng khi ấy, vào những năm 2005-2006, chưa có mấy người hiểu về cổ phần, cổ phiếu nên không dám mua. Anh khi đó, trên cương vị Giám đốc, đồng thời là Bí thư Đảng ủy phải gương mẫu đi đầu trong việc mua cổ phiếu. Không có tiền, anh phải mang căn nhà ọp ẹp đi cầm cố. Được vài chục triệu, anh dồn hết vào mua cổ phiếu. Vợ anh nổi cơn tam bành, lên gặp cán bộ cấp trên khóc lóc và dọa sẽ ly dị nếu số tiền cổ phần, cổ phiếu đó mất. Cán bộ cấp trên, rồi anh giải thích thế nào cũng không được. Vậy là, suốt một thời gian dài nhà anh lúc nào cũng như nhà có đám, vợ không nói với chồng được một câu tử tế.
Bẵng đi gần 2 năm, đến năm 2007, giá cổ phiếu tăng vùn vụt, thậm chí tăng gấp gần 20 lần giá mua. Vậy là với số cổ phiếu đang có, anh lại theo bè bạn “quay vòng, đánh võng” “mua cổ phiếu của người chán bán cho người thích”, và khối tài sản từ chỉ có vài chục triệu lên đến hơn chục tỷ. Anh giàu có từ đấy. Thế nhưng, khi thấy anh xây nhà, mua ô tô, nhiều người lại nghĩ rằng anh lợi dụng chức quyền để làm giàu. Nghĩ cũng thật cay đắng!
Trong hoàn cảnh chuyển đổi nền kinh tế như Việt Nam hiện nay, nhiều lĩnh vực còn đang chập chững phát triển, hơn lúc nào hết, chính các doanh nhân, các doanh nghiệp phải gắn bó với nhau, phải dựa vào nhau mà sống, mà tồn tại. Thế mà họ lại quay sang triệt hạ nhau, và một trong những cách dễ dàng nhất là tung tin đồn thổi.
Vậy chúng ta phải chữa căn bệnh này như thế nào?
Quả thật là rất khó! Nếu căn bệnh này đã ngấm vào máu thì thật là nguy hiểm. Nếu cứ như vậy, không biết bao giờ Việt Nam mới phát triển được. Nhìn ra những quốc gia đi lên từ nghèo khó, thì càng thấy rõ rằng đoàn kết với nhau trong những lúc thiên tai, địch họa thì dễ, còn đoàn kết với nhau, bảo ban nhau trong lúc yên hàn và đặc biệt là khi phải tính toán với chuyện đồng tiền thật khó làm sao!
Lịch sử đã chứng minh rằng người ta có thể hy sinh tính mạng dễ hơn là hy sinh đồng tiền. Từ xưa các cụ cũng đã có câu “Đồng tiền đi liền khúc ruột”. Kiếm tiền đã khó, tiêu tiền cũng khó, nhưng giữ được tiền thì còn khó hơn. Chính vì vậy mà hơn lúc nào hết, nếu mỗi công dân Việt có lòng tự tôn dân tộc và lòng yêu nước thì phải biết tôn vinh giá trị của những người bên cạnh mình.
Có lẽ khẩu hiệu “Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt” cần phải đổi lại là “Dùng hàng Việt là yêu nước”. Chúng ta đừng ngại rằng khi hội nhập quốc tế thì phải áp dụng những quy định, những cam kết về việc mở cửa cho hàng ngoại. Chẳng có ai bắt bẻ về việc người Việt Nam ưu tiên dùng hàng của Việt Nam.

Luật biểu tình, án tử và lời dạy của người xưa

Tác giả: Xuân Dương
Luật biểu tình và án tử hình, việc cần thì phải làm ngay, việc không cần thì đừng bận tâm, hãy dành thời gian và tiền của giữ đất, giữ trời, giữ biển đảo.
Báo chí đưa tin, trong kỳ họp Quốc hội thứ 9 khóa 11, có đại biểu “thiết tha đề nghị Quốc hội cho ý kiến dự án Luật biểu tình vào kỳ họp thứ 10 và thông qua tại kỳ thứ 11 vào quý I năm 2016”.
Lý do của đề nghị, như ý kiến của ông Đặng Ngọc Tùng – Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam: “Đặc biệt, trong tình hình Trung Quốc xâm phạm chủ quyền quốc gia, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của chúng ta, nên người dân rất muốn có điều kiện để bày tỏ tâm tư, nguyện vọng và tình cảm, phản ứng của họ. Nếu có Luật biểu tình thì rất tốt”. 
Hơn ba năm trước, Quốc hội đã thông qua nghị quyết đưa dự Luật Biểu tình vào chương trình chuẩn bị xây dựng luật và pháp lệnh nhiệm kỳ 13.
Tại buổi trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội sáng 25/11/2011 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: “Luật biểu tình phù hợp với Hiến pháp, đặc điểm lịch sử văn hóa, điều kiện cụ thể của Việt Nam, thông lệ quốc tế và cũng để đảm bảo quyền tự do dân chủ của người dân. Đồng thời luật này cũng có yêu cầu là ngăn chặn những việc làm, những hành vi gây xâm hại đến an ninh trật tự, đến lợi ích của xã hội và nhân dân”. 
Ba năm sau khi Quốc hội ra nghị quyết về Luật Biểu tình, cuối năm 2014 vẫn có ý kiến trong Chính phủ đề xuất rút Dự Luật ra khỏi chương trình xây dựng luật và pháp lệnh khóa 13 và chương trình năm 2015.
Tuy nhiên, trong phiên họp Chính phủ thường kỳ ngày 30/12/2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng: “Hiến pháp quy định người dân có quyền biểu tình, đồng thời cũng quy định việc hạn chế quyền của người dân phải do luật định. Do đó Bộ Công an là cơ quan chủ trì soạn thảo Dự án Luật này cần tập trung hoàn thiện để trình Quốc hội theo đúng chương trình; nghiên cứu kỹ và chỉ nên xin lùi thời điểm trình Dự án Luật”. 
Tranh luận tại kỳ họp này về Luật Biểu tình, đại biểu Dương Trung Quốc cho rằng: “không phải tự nhiên mà Thủ tướng chủ động đề nghị đưa vào chương trình luật pháp về biểu tình. Đương nhiên đây là luật rất nhạy cảm, khó khăn, chúng ta phải có lộ trình thích hợp, thận trọng, nhưng không vì thế mà phủ nhận để biến chúng ta thành một ốc đảo dị thường trong thế giới hiện nay”.
Như vậy không thể nói rằng thời gian chuẩn bị là quá ngắn, hay thiếu nhân lực và chuyên gia pháp lý soạn thảo dự án luật.
Một khi Thủ tướng đã hai lần nhấn mạnh về sự cần thiết, đã chỉ thị đích danh cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo mà dự án luật vẫn bị chậm trễ thì phải đặt câu hỏi về nguyên nhân và trách nhiệm của những người chịu trách nhiệm.
Chấp nhận quyền biểu tình, luật hóa quyền biểu tình chính là tôn trọng hiến pháp, tôn trọng quyền công dân. Vậy nên chậm trễ thông qua, chậm trễ ban hành luật sẽ khiến không chỉ người dân mà còn dư luận quốc tế đặt câu hỏi lý do chậm trễ là gì?
Trước mưu đồ và thực tế xâm lược mà nước ngoài đang thực hiện trên biển Đông, không thể không tạo điều kiện cho người dân biểu lộ thái độ.
Trước âm mưu và hành động lợi dụng để gây rối, kích động tâm lý đám đông, đập phá các cơ sở sản xuất, kinh tế như đã từng xảy ra, ảnh hưởng đến hợp tác quốc tế của nhà nước, không thể không nghiêm trị kẻ chủ mưu.
Một dự án luật liên quan đến quyền hiến định của công dân, Quốc hội đã có kế hoạch, Thủ tướng đã hai lần nhắc nhở vậy mà hơn ba năm, sắp bốn năm chưa hoàn thành dự thảo, chưa thể trình Quốc hội, có lẽ đây là trường hợp hiếm hoi trên thế giới.
Nói hiếm hoi vì không chỉ Quốc hội mà cả người đứng đầu chính phủ đều thống nhất quan điểm, chỉ có cấp dưới là chưa xong, vậy là cả Quốc hội, cả Thủ tướng đều phải chờ, còn người dân thì có lẽ là nên tranh thủ làm thơ, xin mạn phép gieo vần như sau:
Quốc hội, Thủ tướng còn chờ (dự án luật)
Bà con nếu vội xem nhờ phim Nga! (phim Hãy đợi đấy)
Còn về ý kiến bỏ án tử hình với tội tham nhũng và tội vận chuyển chất ma túy đang được một số người đề xuất thì nên hiểu thế nào?
Hãy nhìn nhiều cán bộ từ cấp phường xã trở lên mà xem, tài sản của họ gấp bao nhiêu lần người nông dân? Nói như ông Nguyễn Xuân Tỷ, Phó Giám đốc Học viện Quốc phòng: “Làm cán bộ mấy năm mà trong nhà có vài ba trăm tỉ đồng, thậm chí cả ngàn tỉ đồng thì lấy ở đâu ra nếu không tham nhũng. Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa”.
“Kinh khủng hơn cả địa chủ, tư sản ngày xưa” nghĩa là thế nào?
Là ở chỗ không ít người giàu ngày nay vừa có tiền, vừa có quyền, lại còn có chỗ dựa chắc chắn, chẳng thế mà khi rục rịch bị pháp luật sờ gáy họ lập tức chuẩn bị đối phó.
Cách đối phó của họ đâu có tầm thường kiểu Chí Phèo rạch mặt ăn vạ, không loại trừ giả thiết họ đòi sửa cả luật để miễn án tử hình. Tham nhũng 100 tỷ, trả lại 50 tỷ là “ngon rồi”, ung dung ngồi tù độ trên dưới chục năm rồi giảm án, ân xá …, rồi về tiêu nốt 50 tỷ còn lại, có mà buôn vua như Lã Bất Vi cũng chẳng hơn, vậy thì tội gì mà không tham nhũng?
Nhiều báo nêu tên các vị đại biểu phản đối bãi bỏ án tử hình tội tham nhũng như ông Nguyễn Xuân Tỷ, ông Vương Đình Huệ, Tướng Nguyễn Đức Chung… nhưng né tránh không nêu tên những người đề xuất bỏ án tử hình.
Thiết nghĩ họ cũng có “cái lý” khi nêu đề xuất này, có thể cái lý của họ là lòng “nhân đạo”, rằng “mạng sống con người là quý nhất” vân vân… nên những người giàu như quan tham nhũng không nên tử hình họ, nên để họ sống để chuộc lỗi?
(GDVN) – Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung cho rằng, nhiều người vì cuộc sống đi buôn ma túy bị xử tử hình, trong khi cán bộ tham nhũng lại không tử hình là bất công bằng.
Giá mà người dân biết được những ai đề xuất bỏ án tử với tội tham nhũng? Giá mà người dân biết được tài sản của họ, giá mà truyền thông mạnh dạn thêm tí nữa, minh bạch họ tên tài sản của họ cho dân biết.
Nếu mà họ nghèo như những người dân Nghệ – Tĩnh đang mặc áo tơi giữa trời nắng trên 40 độ ngoài đồng thì chắc chắn người dân sẽ thông cảm với đề xuất của họ, và người viết, dẫu không đồng tình với đề xuất của họ, vẫn dành cho họ lòng ngưỡng mộ.
Liệu có phải đang có một sự chuyển hướng, các phần tử thuộc “bộ phận không nhỏ” đang cảm nhận cái nóng của ngọn lửa mà lòng dân hun đúc nên họ đang liên kết lại, đang thay đổi chiến thuật từ “hy sinh đời bố, củng cố đời con” sang “giữ nguyên đời bố, gia cố đời con”?
Mở đầu Bình Ngô đại cáo, cụ Nguyễn Trãi viết:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân; Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.
Trừ bạo để yên dân được xem là “việc nhân nghĩa”, vậy thì không trừ bạo để lòng dân bất yên chính là phản nhân nghĩa, chính là việc làm của kẻ bất nhân, người xưa nghĩ thế, vì sao ngày nay có những người không nghĩ thế?
Phản đối ý kiến bỏ án tử hình với tội tham nhũng và vận chuyển ma túy là chưa đủ, còn phải lên án những ai đó vì động cơ không trong sáng đang có ý định cố tình giảm nhẹ hình phạt với những kẻ đang “đè đầu, cưỡi cổ nhân dân” như ý kiến của tướng Nguyễn Xuân Tỷ.
Cái họa mất nước không chỉ nằm ở những hành động phản quốc mà còn nằm trong chính những tư tưởng manh nha đi ngược lại lợi ích của nhân dân nhưng lại được không ít “công bộc” của dân quảng bá.
Luật biểu tình và án tử hình, việc cần thì phải làm ngay, việc không cần thì đừng bận tâm, hãy dành thời gian và tiền của giữ đất, giữ trời, giữ biển đảo./.

Trách nhiệm ít thế, tôi cũng có thể làm Thủ tướng” (!)

Tác giả: P. Thảo
“Luật quy định quyền hạn của Thủ tướng rất lớn trong khi trách nhiệm rất nhỏ, chỉ là báo cáo công tác trước Quốc hội. Trách nhiệm nhỏ vậy thì tôi cũng làm Thủ tướng được” – đại biểu Nguyễn Bá Thuyền phát biểu trước hội trường Quốc hội.
Ngày 1/6, Quốc hội có phiên thảo luận toàn thể tại hội trường về dự thảo luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi).
Cử tri đặt trách nhiệm chống tham nhũng cho Thủ tướng
Đại biểu Nguyễn Bá Thuyền: “Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng rất lớn nhưng quy định về trách nhiệm lại rất ít” (ảnh: Việt Hưng).
Đại biểu Lê Đình Khanh (Hải Dương):
“Một số nước trên thế giới có dân số gấp 3 – 4 lần ở Việt Nam nhưng họ chỉ có Tổng thống và một Phó Tổng thống. Tổng thống của họ vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa gánh trọng trách của Thủ tướng Chính phủ. Với vai trò, nhiệm vụ lớn như vậy, dân số đông, diện tích rộng như vậy mà với chri hai người, họ vẫn làm được, làm tốt. Tôi nghĩ rằng ở Việt Nam, nếu cứ giảm đi 1/3 cấp phó so với quy định trong dự thảo luật trình hôm nay, chắc chắn bộ máy sẽ vận hành tốt hơn, năng lực trình độ của người đứng đầu bộ, ngang bộ cũng có điều kiện thể hiện rõ hơn, phát huy được cao hơn”.
Đại biểu Phùng Đức Tiến (Hà Nam) ủng hộ việc bổ sung cho Thủ tướng 2 quyền về công tác nhân sự (quyền giao quyền Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trong trường hợp khuyết nhân sự này trong khi chờ Quốc hội phê chuẩn và Chủ tịch nước bổ nhiệm; quyền tạm thời giao quyền Chủ tịch UBND tỉnh trong trường hợp chưa bầu được chức danh này). Tuy nhiên, đại biểu cũng đặt vấn đề về trách nhiệm đặt ra đối với người đứng đầu Chính phủ.
“Về logic, trách nhiệm phải tương xứng với quyền hạn nhưng trong khi dự luật quy định các quyền hạn của Thủ tướng khá rộng thì phần trách nhiệm lại chỉ dừng ở trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội là không tương xứng. Cần thể hiện rõ ràng như phần quy định đối với Bộ trưởng, tức là phải chịu trách nhiệm cá nhân về nhiệm vụ được phân công, phụ trách” – ông Tiến nói.
Đi sâu vào chế độ báo cáo trước nhân dân của Thủ tướng, các Bộ trưởng, đánh giá đây là quy định mới được bổ sung và là điều luật cần thiết nhằm đảm bảo tăng cường tính minh bạch, tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu và các thành viên Chính phủ nhưng đại biểu Tiến đề nghị dự thảo luật thể hiện rõ hơn về phương thức thực hiện, thời gian thực hiện, chế độ báo cáo để đảm bảo tính khả thi của quy định này.
Tán thành cách đặt vấn đề của ông Tiến, đại biểu Nguyễn Bá Thuyền (Lâm Đồng) nhận xét, nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng rất lớn nhưng trách nhiệm rất nhỏ, nếu chỉ quy định việc báo cáo trước Quốc hội, UB Thường vụ Quốc hội, báo cáo Chủ tịch nước hoặc ủy quyền.
“Quyền hạn quá lớn trong khi trách nhiệm quá nhỏ như vậy thì tôi cũng làm Thủ tướng được. Tôi đề nghị bổ sung thêm trách nhiệm đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng và lãng phí, trực tiếp trả lời chất vấn trước Quốc hội” – ông Thuyền đặt vấn đề.
Đại biểu Huỳnh Văn Tiếp: Thủ tướng phải thường xuyên kiểm tra, xử lý cá nhân tham nhũng (ảnh: Ngọc Châu).
Đại biểu Huỳnh Văn Tiếp (Cần Thơ) cũng muốn ghi thêm trách nhiệm người đứng đầu Chính phủ là lãnh đạo thực hiện tốt công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, quan liêu, chống lãng phí trong bộ máy nhà nước và các hoạt động kinh tế, xã hội. Thủ tướng phải thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra, xử lý, cá nhân tham nhũng hoặc các cơ quan để xảy ra tham nhũng, lãng phí”.
Ông Tiếp lập luận, qua tiếp xúc cử tri thời gian qua, cử tri luôn đặt trách nhiệm của Thủ tướng và các thành viên Chính phủ trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong bối cảnh tham nhũng mãi chưa được đẩy lùi, thậm chí là gia tăng, nhiều nguy cơ hơn.
Chốt “quota” mỗi bộ 5 Thứ trưởng trừ Công an, Quốc phòng
Chuyển sang vấn đề số lượng Thứ trưởng, Phó Cục trưởng/Tổng Cục trưởng, đại biểu Danh Út (Kiên Giang) lập luận, luật hiện hành không quy định “cứng” vấn đề này là một kẽ hở vì có lúc có bộ có đến 7, 8 thậm chí 9 Thứ trưởng.
Ông Út tán thành hướng quy định số lượng cấp phó các bộ, cơ quan ngang bộ không quá 5. Riêng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao không quá 6. Chia sẻ với cái khó của nhiều bộ lớn, đại biểu gợi ý nới thêm “quota” đối với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Đại biểu Lê Đắc Lâm (Bình Thuận) lắc đầu với quy định về trường hợp đặc biệt có thể bổ nhiệm hơn 5 Thứ trưởng như dự thảo luật thể hiện: “do sáp nhập bộ hoặc yêu cầu điều động cán bộ của cơ quan có thẩm quyền thì Chính phủ trình UB thường vụ Quốc hội xem xét tăng lượng Thứ trưởng”. Ông Lâm cảnh báo, để quy định này trong luật dễ dẫn đến tùy tiện khi vận dụng để tăng số lượng Thứ trưởng.
Tương tự, đại biểu cũng cho rằng, cần quy định rõ, số lượng Phó Thủ tướng Chính phủ không quá 5 người trên tương quan về số lượng của Thủ trưởng, Phó thủ tướng cơ quan ngang bộ.
Đại biểu Nguyễn Bá Thuyền cũng nhận định, có nhiều phó thì “trách nhiệm của ông trưởng hạn chế”. Giới hạn số lượng Thứ trưởng là cần thiết. Ông Thuyền cũng không tán thành việc bên dưới điều luật này lại “thòng một câu” về trường hợp đặc biệt được tăng số lượng Thứ trưởng.
Ông Thuyền cương quyết: “Tôi cho rằng chúng ta vừa đưa ra nguyên tắc cứng ở trên đã lại có ý đồ đưa ra nguyên tắc mềm ở dưới để thêm nếm. Quy định cứng thể hiện Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất với việc này. Vậy thì không thể UB Thường vụ Quốc hội lại có quyền quyết định cao hơn Quốc hội nữa là không được”.
Đại biểu Nguyễn Sỹ Cương (Ninh Thuận) cũng chỉ ra nghịch lý, muốn việc bổ nhiệm số lượng cấp phó đi vào khuôn khổ nhưng vẫn đưa ra trường hợp đặc biệt thì sau này, các trường hợp muốn bổ nhiệm thêm “sẽ chui cả vào trường hợp đặc biệt vì như thế thì mọi phát sinh đều có thể giải quyết được”.

Tầm cao của dân chủ

Tác giả: Nguyên Cẩn (Văn hoá Phật giáo số 143)
Dân trí và dân chủ
Qua phương tiện thông tin đại chúng, người dân được biết rằng sáng 17-11-2011, hội trường Quốc hội đã nóng lên khi có một vị đại biểu thuộc đoàn TP.HCM phát biểu theo một bản văn viết sẵn đề nghị loại bỏ Luật Biểu tình ra khỏi danh sách dự án luật suốt nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, mặc dù đây là một luật do Thủ tướng Chính phủ đề xuất thực hiện. Nhiều đại biểu ủng hộ ý kiến của vị đại biểu ở TP.HCM, trong đó có đại biểu thuộc các đoàn Ninh Thuận, Huế, và Bình Định đăng đàn nêu ý kiến. Chỉ riêng một vị đại biểu thuộc đoàn Đồng Nai đồng tình với việc cần nghiên cứu, soạn thảo để ban hành Luật Biểu tình và cho rằng nói như các đại biểu chống Luật Biểu tình là xúc phạm đến dân. Cùng ngày, báo Tuổi Trẻ đưa bài phỏng vấn vị đại biểu chống luật Biểu tình, cho biết quan điểm của vị này về thời điểm có thể ban hành Luật Biểu tình là khi trình độ dân trí cao hơn và kinh tế ổn định hơn. Một đại biểu khác cũng thuộc TP.HCM cho rằng nếu nói trình độ dân trí thấp là đã hạ thấp nền dân trí Việt Nam.
Rất đáng tiếc cho vị đại biểu đã khai pháo mở màn cuộc tranh luận nóng bỏng tại Quốc hội về Luật Biểu tình, vì vào ngày 26-11, Quốc hội vẫn chính thức đưa Luật Biểu tình vào nghị trình làm luật của cơ quan quyền lực tối cao của đất nước ta, sau khi Thủ tướng Chính phủ khẳng định trước Quốc hội rằng làm Luật Biểu tình là phù hợp với Hiến pháp và thích hợp với đặc điểm, tình hình của đất nước hiện nay. Trước đó, một bài viết được đưa lên trang mạng của tạp chí Xây dựng Đảng vào ngày 23-11 cho rằng người phát biểu chống Luật Biểu tình trước Quốc hội đã thể hiện nhận thức ấu trĩ và lệch lạc.
Xét ra, nỗi tiếc nuối cho sự lỡ mồm lỡ miệng của vị đại biểu TP.HCM chống Luật Biểu tình chưa nặng nề bằng nỗi cay đắng của cử tri cả nước. Sau khi những lời ca ngợi về thành công của cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIII vừa lắng xuống, ngay trong những phiên họp đầu tiên của Quốc hội, đã có vị đại biểu bị chính cơ quan ngôn luận của Đảng phê bình là có nhận thức ấu trĩ và lệch lạc.
Bằng kiến thức thông thường của một người có tư cách cử tri thì Quốc hội là nơi tập hợp những người đại diện cho nhân dân có đầy đủ tài và đức, được cử ra trên cơ sở nhận được đa số phiếu bầu trong một cuộc bầu cử phổ thông, người được cử là người có số phiếu bầu lần lượt từ mức cao nhất cho đến khi cử đủ số người cần chọn theo quy định. Một đất nước chọn người đại diện theo đa số vừa là một nước cộng hòa, vì có người đại diện cho dân làm việc nước, vừa là một nước dân chủ, vì việc lựa chọn căn cứ vào ý kiến đa số.
Theo Hiến pháp và Luật Quốc hội thì Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất nước. Đó chính là cơ quan có thẩm quyền làm ra luật để thi hành trong cả nước, xây dựng và tổ chức cơ quan thi hành luật pháp tức là Chính phủ và cơ quan bảo vệ luật pháp tức là Tòa án tối cao, và còn có thẩm quyền giám sát hoạt động của các cơ quan đó. Với vai trò to lớn ấy, các thành viên của Quốc hội phải thật sự là người có tài có đức, không thể có mặt những thành phần có nhận thức ấu trĩ và lệch lạc. Vậy mà thực tế cho thấy trong Quốc hội đang có ít nhất một người có nhận thức ấu trĩ và lệch lạc. Cử tri buộc phải băn khoăn tự hỏi không hiểu còn có những ai đang ngồi lộn chỗ trong Quốc hội.
Thực ra không phải cử tri nào cũng đủ sức lý luận để khẳng định rằng Luật Biểu tình có cần hay không, nhưng phần đông hiểu rằng có luật vẫn tốt hơn là không có; vì khi có luật thì quyền tự do hay quyền dân chủ ít ra được bảo đảm trong một chừng mực nào đó; lại nữa, chưa hẳn họ đã nhận thức được rằng luật nào là cần hơn, phải được ban hành sớm hơn những luật khác. Thế nên, họ đành gửi gắm niềm tin, trông chờ vào sự sáng suốt của các vị đại diện cho mình, những dân biểu Quốc hội.
Ở tầm mức tinh vi hơn, cử tri thông thường làm sao có thể biết được những quy định của luật là thực sự có lợi hay không, có đúng mực hay không, có phục vụ cho lợi ích của số đông hay không; hay chỉ đem lại quyền lợi cho một thiểu số có quyền lực biết cách thao túng? Những vấn đề phức tạp ấy, họ cũng chỉ biết trông chờ vào sự công minh và tính chính trực của người đại biểu Quốc hội có tâm và có tầm. Nỗi cay đắng của cử tri càng lớn hơn khi nhận ra rằng có thể không hẳn mọi đại biểu Quốc hội đều có đủ tài đủ đức như họ vẫn mong ước; khiến quyền lợi thiết thân của họ, đã có mặc định là sẽ được bảo vệ bởi những ông bà nghị, có thể không được tôn trọng và quan tâm bảo vệ đúng mức.
Thời nào cũng vậy, những người làm việc nước phải có tài có đức. Còn người dân muốn bảo vệ quyền lợi thiết thân của mình chỉ cần có niềm tin. Bằng niềm tin, người dân hoàn toàn có thể kỳ vọng vào những người đang đại diện quyền lợi của họ bảo vệ những quyền lợi ấy, trong đó có miếng cơm manh áo do công việc chính đáng mang lại, có một chỗ ở đủ an toàn để che mưa che nắng, có phương tiện đi lại thuận lợi không bị ách tắc và không xảy ra tai nạn bất ngờ, khi bệnh hoạn có nơi chữa trị, khi lỡ gặp tai nạn thì có sự cứu giúp kịp thời, nếu có tranh chấp thì sẽ được phân xử thỏa đáng, có đủ chỗ học tập cho con em họ ngày càng hiểu biết hơn để cùng xây dựng một xã hội an ổn, có nơi vui chơi giải trí lành mạnh sau những ngày giờ làm việc và học tập căng thẳng, có điều kiện phát triển tài năng về mọi mặt để góp phần mang lại sự tiến bộ cho xã hội…
Cũng với niềm tin và tấm lòng, người dân thất vọng khi họ bị phản bội, và họ cũng nhận ra ngay những kẻ chỉ biết đến lợi ích phe nhóm, hy sinh quyền lợi số đông. Thực tế, có thể khẳng định rằng ngay cả với những người có trình độ học vấn cao, không phải ai cũng có thể hiểu hết những sự phức tạp của luật lệ; cho nên dân trí không nên dùng làm thước đo cho những vấn đề về luật pháp.
Nhưng dân trí tuyệt đối quan trọng ở chỗ nhờ có mặt bằng tri thức chung ở mức độ cao, người dân hiểu rõ những quyền tự do của mình và mọi giới hạn của những quyền tự do đó. Dân trí đi liền với dân chủ ở chỗ có dân trí cao thì người dân biết chọn lựa đúng những người đại diện xứng đáng của mình. Với dân trí cao, người dân cũng biết phế truất đúng cách những đại diện kém cỏi. Quan trọng hơn cả, với dân trí cao, xã hội thật sự có trật tự vì người dân biết tôn trọng pháp luật đúng mực. Khi cho rằng dân trí không cao, liệu chúng ta cho rằng đó là lý do xã hội hiện nay thiếu tinh thần “thượng tôn pháp luật”!
Và phải chăng cũng chính vì dân trí không cao nên mới có tình trạng chọn lựa đại biểu không xứng đáng, bị lừa mỵ bởi những lời lẽ hoa mỹ mà rỗng tuếch của những người ra tranh cử hay được đề cử! Điều nguy hiểm nằm ở chỗ, người dân cũng không biết làm thế nào bãi miễn kẻ đại diện không xứng đáng mà họ đã chọn lầm. Cần phải tin rằng một dân tộc đã từng xuống đường đòi độc lập tự do cách đây 50 năm ở các đô thị miền Nam hay hàng trăm năm từ khi dân Trung Kỳ biểu tình chống chính sách thực dân năm 1908 thì dù dân khí hôm nay dẫu có yếu đi nhưng dân trí vẫn chưa hẳn cùn mòn.
Cũng cần phải nhớ rằng khi thân phận của người dân bị đày đọa trong tay của những đại diện mà họ đã chọn lầm thì cuối cùng họ cũng buộc phải phế truất những vị đại diện bất xứng đó bằng cách riêng của họ. Đó là hiện tượng đã xảy ra ở Lybia mới đây khi người dân Lybia biết rằng ông Gadhafi không còn đủ tư cách và phẩm chất lãnh đạo; hoặc như ở Philippines và Indonesia trước kia khi dân Philippines và dân Indonesia thấy rằng Marcos và Suharto không còn là những đại diện xứng đáng. Cho nên, nâng cao dân trí luôn luôn là trách nhiệm của mọi nhà nước, mọi cơ cấu quyền lực, mọi nhà lãnh đạo, vì nâng cao dân trí chính là để bảo vệ cho một xã hội có trật tự. Và nâng cao dân trí luôn đi liền với cải thiện dân chủ.
Kể từ khi loài người xây dựng xã hội, ai cũng khao khát một ước mơ vĩnh hằng là được sống trong một xã hội công bằng, được lãnh đạo bởi những người đại diện cho mình một cách xứng đáng theo nguyên nghĩa của từ demos – nhân dân – và kratos – chính quyền – trong tiếng Hy Lạp; hàm nghĩa chính quyền của nhân dân hay sự cai trị của nhân dân. Trong cuộc tranh luận về Luật Biểu tình tại Quốc hội vừa qua, rất may, kết quả cuối cùng là việc nghiên cứu về luật này vẫn được xem là cần thiết và đã được Quốc hội thông qua, một quyết định đã kịp thời cứu vãn niềm tin của dân chúng, thể hiện ý nghĩa của những từ nguyên Hy Lạp vừa dẫn, đáp ứng phần nào ước mơ vĩnh hằng của người dân. Hy vọng rằng những quyết định sáng suốt tương tự cần được tiếp tục duy trì nơi cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước.
Tinh thần dân chủ theo nhà Phật
Hầu hết, các nhà tư tưởng đều cho rằng hành trạng và giáo lý của Đức Phật luôn thể hiện tinh thần dân chủ. Mặc dù Đức Phật được biết đến như người đầu tiên sáng tạo ra triết lý hay đạo mà chúng ta gọi là Phật giáo và đã trực tiếp truyền giảng giáo lý đó, Ngài không bao giờ tự đặt mình vào vị trí nổi bật này. Ngài không ép buộc mọi người phải theo mình. Đối với mọi vấn đề, Ngài đều khuyên mọi người nên suy xét trước rồi mới chấp nhận qua sự thấu hiểu và tu chứng bản thân. Ngài không có ý định thay đổi cá tính của đệ tử. Vì vậy trong Phật giáo, cá tính của con người luôn được tôn trọng. Giáo pháp của Đức Phật được Ngài giảng dạy theo đường lối lý tưởng nhất, không giáo điều, không ép buộc. Nếu đệ tử muốn trình bày điều gì, vị ấy được đề nghị phải giữ tâm mình trong trạng thái hoàn toàn trung thực. Đây là lối giáo dục mà người Việt Nam chúng ta đã tiếp thu từ lâu.
Đức Phật là bậc chiến thắng, không phải chiến thắng kẻ thù mà đã chiến thắng cái gọi là các yếu tố nền tảng để hình thành bản chất con người, từ đó mà đạo Phật đã thu hút nhiều người quy ngưỡng Tam bảo. Các yếu tố dẫn đến một đời sống có trí tuệ và một tâm hồn bình an đều là những nhận thức về bản chất con người của Đức Phật. Nhờ những giáo pháp này mà những người Phật tử có thể cống hiến khả năng của mình vào việc xây dựng một nhân sinh quan và lối sống dân chủ.
Đức Thế Tôn xem tất cả mọi người đều bình đẳng, Ngài tôn trọng ngay cả những người bị xã hội Ấn Độ cổ coi là hạ đẳng và Ngài không hề hối tiếc về việc từ bỏ giai cấp quí tộc của mình. Ngài phê bình “giai cấp” là biểu hiện của sự phân chia nguồn gốc xuất thân của con người trong xã hội. Ngài đồng ý có vua, có giáo sĩ Bà-la-môn trong quốc gia Ấn Độ cổ đại. Ngài thừa nhận có sự bất công trong xã hội vì Ngài biết rằng sự công bằng chân thật không bao giờ có mặt ở thế giới hiện tượng này. Nhưng Ngài cho rằng một người Bà-la-môn chân chính hoặc một vị minh quân không xuất phát từ giai cấp hay dựa trên những biểu hiện bề ngoài mà phải có giá trị thực sự từ bên trong; đó là tư tưởng nhân ái và tính cách cao thượng.
Giáo pháp của Đức Phật đã khéo biện minh để hóa giải những xung đột giai cấp trong xã hội. Một trong những nền tảng được chấp nhận trong một xã hội dân chủ là nó phải được thiết lập và nên được thiết lập qua tính đa dạng của các cá nhân; đồng thời, tính cách của mỗi cá nhân đều phải được bảo vệ. Đây là giáo lý về nghiệp, giáo lý này đã được phổ biến rộng rãi trong tư tưởng Ấn Độ. Một người trở nên tốt qua việc làm tốt và trở nên xấu do việc làm xấu. Người phương Tây bảo đây là giáo lý về trách nhiệm cá nhân.
Theo GS. Kurt F. Leiderker “Trongxã hội dân chủ không phải mọi người đều hoàn hảo. Tương tự, qua giao thiệp với đồng loại con người phát triển quan điểm niềm tin về nghiệp báo. Chính quan điểm này, Phật giáo cho rằng: một người có thể và phải hoàn hảo qua thể hiện thiện nghiệp (hành vi tốt) của anh ta… Bất kỳ xã hội nào tôn thờ tín ngưỡng về học thuyết định mệnh thì kết quả sẽ nhốt kín con người vào một thế giới tư tưởng và hành động ở đó con người không còn hoạt động tự do nữa, và tự do không thể thực hiện bằng nỗ lực của mỗi cá nhân. Vị trí của Phật giáo được xác định chắc chắn ở đó. Phật giáo ắt hẳn cống hiến lớn cho tình thương và tự do, được thực hành một cách dân chủ ở các quốc gia và còn là niềm tự hào của họ”.
Tinh thần dân chủ theo dòng lịch sử Việt Nam
Không nên cho rằng học thuyết Khổng Mạnh chủ trương dân chủ khi phát biểu, “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, vì nói một cách rốt ráo, Khổng Tử chủ trương trật tự hài hòa trong xã hội theo “tam cương ngũ thường” dù đây đó có khi ngài và các đệ tử của ngài vẫn cho rằng ý dân là ý trời. Dù sao thì giá trị công dân thời phong kiến cũng không hoàn toàn là “con giun cái kiến”. Có thể thấy tinh thần lấy dân làm trọng đã có trong lịch sử tư tưởng Việt Nam qua Lục Độ Tập kinh, do Khương Tăng Hội phiên dịch xuất hiện vào thế kỷ II Tây lịch, như trích dẫn sau, “Bồ- tát thấy dân kêu ca, do vậy gạt lệ xông vào nơi chính trị hà khắc để cứu dân khỏi nạn lầm than”. Đối với những chính quyền hà khắc, áp bức dân, thì Lục Độ Tập kinh cảnh báo: “Loài lang sói không thể nuôi, người ác không thể làm vua”.
Tinh thần ấy, nhận thức ấy đã là tư tưởng chủ đạo để người Việt tiến hành các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, chống các luồng ý thức hệ ngoại lai, bảo vệ chủ quyền và văn hóa dân tộc, bảo vệ tự do, no ấm và hạnh phúc cho nhân dân. Tinh thần ấy luôn thấp thoáng trong suốt chiều dài lịch sử cả ngàn năm của người Việt mà sử sách còn ghi nhận sự thân ái với dân của những vị như Bà Trưng, Bà Triệu, Bố Cái đại vương, Mai Hắc đế, Lý Nam đế, Khúc Thừa Dụ, Ngô Quyền… tạo tiền đề cho việc kiến lập quốc gia Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần… và mở rộng cương thổ đến tận ngày nay. Tinh thần lấy dân làm trọng ấy chính là bước khởi đầu của tinh thần dân chủ.
Do tình trạng phải thường xuyên đối đầu với họa ngoại xâm, tinh thần ấy có lúc nhạt nhòa trước nhu cầu chiến tranh cần phải tập trung chỉ huy, nhưng ngay khi hòa bình lập lại, tinh thần ấy lại được khôi phục, nhờ đó huy động được ý chí xây dựng đất nước của toàn dân. Ngày nay, đất nước ta đang có hòa bình, đang tham gia vào tiến trình hội nhập với hệ thống các quốc gia dân chủ trên thế giới, tinh thần ấy cần được phát huy mạnh mẽ, một mặt đáp ứng sự mong chờ của người dân đối với hệ thống chính trị đương đại; mặt khác thể hiện sự tin tưởng của chính quyền đối với nhân dân của mình, cho thấy bản lãnh của những nhà lãnh đạo. Nói khác đi, tầm cao dân chủ của đất nước chính là tầm nhìn của lãnh đạo vậy.

Trang