25 tháng 1, 2018

‘Y án’ Thăng – Thanh: Kinh hoàng những ‘nạn nhân’ tiếp theo của ông Trọng!

Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh
Nụ cười lồ lộ hy vọng của Đinh La Thăng khi ngồi trong xe công an đã tắt hẳn. Bước khỏi phòng xử vào ngày 22/1/2018, gương mặt Đinh La Thăng dại đi. So với mức án đề nghị của Viện Kiểm sát tối cao, ông Thăng chỉ được giảm có 1 năm tù. Còn Trịnh Xuân Thanh “đen” hơn: giữ nguyên chung thân!
Rốt cuộc, màn khóc lóc như mưa gió của hai cựu quan chức này đã chẳng làm cho Tổng bí thư Trọng mủi lòng. Cũng đã rõ là “lời sau cùng” tại phiên tòa xử “Thăng – Thanh” đã như một tín hiệu quá xấu: trong khi Đinh La Thăng tha thiết nguyện vọng “muốn được về nhà ăn cái tết cuối cùng với gia đình trước khi chấp hành án”, thì Trịnh Xuân Thanh còn đi xa hơn nhiều: “xin sang Đức để chăm sóc vợ con”, cho thấy tâm lý cả hai đều rơi vào tình trạng hoảng loạn.
Giờ đây khi ngẫm lại, chắc chắn Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh đã không hề muốn bày tỏ nguyện vọng “về nhà ăn tết” và “sang Đức với con” trong lời cuối cùng trước tòa, bởi hai cựu quan chức này đã hiểu ra một “chân lý”: họ phải “hy sinh”!
“Thăng – Thanh” là phiên tòa đầu tiên của Tổng bí thư Trọng nhắm đến kể từ khi ông quyết định tiến sang giai đoạn 2 của chiến dịch được xem là “chống tham nhũng”, tính từ tháng 11/2017 và sau một cuộc gặp có thể đặc biệt quan trọng với Tập Cận Bình ở Hà Nội.
“Đường đi” của Tổng bí thư Trọng lại đang có nhiều nét khá tương đồng với giai đoạn khởi động của chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” của Tập Cận Bình ở Trung Quốc. Một khởi sự mang tính then chốt và quyết định cho cả vận mệnh của chiến dịch này là trong hai năm 2012 và 2013, Tập đã mạnh tay “xử” Bạc Hy Lai – ủy viên bộ chính trị kiêm bí thư Trùng Khánh – không chỉ khởi tố bắt giam mà còn giáng mức án đến chung thân.
Đinh La Thăng đang có nhiều triển vọng trở thành Bạc Hy Lai Việt Nam. Còn Trịnh Xuân Thanh lại gắn liền với số phận của Đinh La Thăng. Một logic thật đơn giản mà cả Thăng lẫn Thanh, có thể do bị tạm giam mà không biết được thông tin và dư luận ở bên ngoài, là nếu ông Trọng không “trảm” Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh, chiến dịch “chống tham nhũng” của ông ta sẽ lập tức có nguy cơ tự chết và Nguyễn Phú Trọng sẽ không còn cơ hội nào để trở thành Tập Cận Bình ở Việt Nam.
Đó chính là lý do khiến Nguyễn Phú Trọng rút ngắn đến mức có thể quy trình tố tụng hình sự đối với Đinh La Thăng: nhân vật được xem là “Bạc Hy Lai Việt Nam” này chỉ mất tròn một tháng từ lúc bắt cho đến lúc ra tòa, và từ lúc còn đang là Phó trưởng ban Kinh tế trung ương đến khi phải nhận một bản án tù nặng nề chỉ có một tháng rưỡi – một thời gian được rút ngắn hơn rất nhiều so với thời gian bảy tháng rưỡi kể từ tháng 4/2017 khi ông Thăng bị Ủy ban Kiểm tra trung ương công bố kết luận kiểm tra về những hành vi sai phạm “rất nghiêm trọng” cho đến khi chính thức bị bắt.
Việc rút ngắn quy trình tố tụng hình sự như thế còn có tác dụng ngăn ngừa một ý đồ hoặc hành động “giải cứu Đinh La Thăng” từ bàn tay có thể của một “thái thượng hoàng” nào đó.
Vào năm 2012 và 2013 khi xử Bạc Hy Lai, Tập Cận Bình cũng đã thực hiện những biện pháp kiên quyết và rất độc đoán để chống lại sự can thiệp của một số cựu thần, đặc biệt của “phái Giang” (nhóm của cựu tông bí thư Giang Trạch Dân).
Còn khi xử Chu Vĩnh Khang – bộ trưởng công an vào thời đó, Tập Cận Bình có lẽ đã phải nhọc tâm và tốn nhiều công sức hơn. Viên tướng công an này – đã lên giường với 400 đàn bà – lại nắm quá nhiều hồ sơ về các vụ tham nhũng và ăn chơi trác táng của quá nhiều quan chức. Nghe nói chỉ riêng việc thiết lập các biện pháp bảo vệ để Chu Vĩnh Khang khỏi bị ám sát cũng đã trở thành một trọng tâm hàng đầu của ngành an ninh vào thời Tập.
Nếu Bạc Hy Lai và đặc biệt là Chu Vĩnh Khang có nhiều đầu dây mối nhợ dẫn đến nhiều quan chức khác ở Trung Quốc, trường hợp tương tự cũng có thễ diễn ra ở Việt Nam, liên quan đến Đinh La Thăng. Một khả năng về “ám sát Đinh La Thăng” là có thể xảy ra.
Việc Đinh La Thăng bị xử đến 13 năm tù giam chỉ với một tội danh “cố ý làm trái…” liên quan đến Tổng công ty Xây lắp dầu khí (PVC) phát đi một thông điệp cực kỳ quan trọng trên phương diện nội bộ đảng: ông Trọng đã dứt khoát làm theo “bài” của Tập Cận Bình, với “con hổ” đầu tiên là Đinh La Thăng.
Đinh La Thăng sẽ còn phải ra tòa ít nhất một lần nữa – vụ 800 tỷ đồng của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam gửi vào Ngân hàng Đại Dương của Hà văn Thắm nhưng đã hoàn toàn biến mất. Trong vụ này, Đinh La Thăng có vẻ dính dáng khá sâu khi có ít nhất vài ba lần ra văn bản chỉ đạo các đơn vị thành viên gửi tiền vào Ngân hàng Đại Dương, và cũng có nhiều dư luận cho rằng Thăng đã chấm mút không nhỏ đối với số tiền 800 tỷ không cánh mà bay đó.
Nếu chứng cứ vụ “800 tỷ đồng” được cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trưng ra không yếu ớt như vụ “119 tỷ đồng” vừa xử, Đinh La Thăng sẽ phải nhận thêm tội danh danh “chiếm đoạt tài sản…” cùng mức án có thể còn nặng nề hơn mức 13 năm vừa phải nhận. Để sau vụ “800 tỷ đồng”, Đinh La Thăng có thể phải nhận tổng mức án lên đến 30 năm, nếu không nói là ngang bằng với mức án hiện tại của Trịnh Xuân Thanh – chung thân.
Giờ đây, ông Trọng đã thực sự “leo lên lưng cọp” và không còn có thể nhảy xuống để cọp quật ngược vồ lại mình. Cái thế “chịu chơi chơi tới cùng” của ông Trọng đang khiến những đối thủ – “nạn nhân” tiếp theo của ông, những người đã bị bắt và những kẻ chưa bị bắt – kinh hoàng.
Ở Trung Quốc, có một “tập quán” đã hình thành dưới thời Tập Cận Bình: một khi đã rơi vào tay Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật trung ương, không quan chức nào là không có tội, chỉ là nặng hay nhẹ mà thôi.
Năm 2018 “đẫm máu và nước mắt” đang bắt đầu như thế ở Việt Nam

Phạm Chí Dũng/(Cali Today news)

Chế độ sẽ chết khi nền dân chủ không thực sự dân chủ

HÌnh minh họa
Nước Mỹ đã thất bại trong phép thử thứ nhất vào tháng 11 năm 2016 khi bầu làm tổng thống một người mà lòng trung thành với các quy tắc dân chủ là rất đáng ngờ.
Chế độ độc tài trần trụi – dưới hình thức chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa cộng sản hoặc chế độ quân quản – đã biến mất gần như khắp thế giới. Những vụ đảo chính quân sự hoặc cướp chính quyền bằng bạo lực ít khi xảy ra. Đa số các quốc gia đều tổ chức tuyển cử định kỳ. Các nền dân chủ chết nhưng theo những cách thức khác.
Từ cuối cuộc Chiến tranh Lạnh, phần lớn những vụ sụp đổ của các chế độ dân chủ đều không do các tướng lãnh và binh lính gây ra mà do chính các chính phủ được bầu lên. Giống như ông Hugo Chávez ở Venezuela, các nhà lãnh đạo được bầu lên đã làm băng hoại các thiết chế dân chủ (democratic institutions) ở Gruzia, Hungary, Nicaragua, Peru, Philippines, Ba Lan, Nga, Sri Lanka, Thổ Nhĩ Kỳ và Ukraine.
Cuộc thoái trào của chế độ dân chủ hôm nay bắt đầu từ thùng phiếu. Con đường bầu cử (electoral route) dẫn tới sự sụp đổ của chế độ dân chủ có tính lừa dối một cách nguy hiểm. Trong một cuộc đảo chính kiểu cổ điển, ví dụ như cuộc đảo chính của Pinochet ở Chile, cái chết của nền dân chủ xảy ra tức thì và rõ ràng, ai cũng nhìn thấy. Dinh tổng thống bị đốt cháy. Tổng thống bị hạ sát, bị cầm tù hoặc bị lưu đày biệt xứ. Hiến pháp bị đình chỉ thi hành hoặc bị hủy bỏ.
Những chuyện này không hề xảy ra trên con đường bầu cử. Không có xe tăng trên đường phố. Hiến pháp và các thiết chế dân chủ về danh nghĩa vẫn còn nguyên vẹn. Người dân vẫn đi bỏ phiếu. Các lãnh đạo chuyên chế được bầu lên vẫn duy trì một lớp sơn dân chủ bề ngoài trong khi rút bỏ hết những gì thực chất bên trong của chế độ dân chủ.
Nhiều nỗ lực của chính phủ nhằm làm băng hoại nền dân chủ là “hợp pháp”, theo nghĩa là chúng được cơ quan lập pháp phê chuẩn hoặc được tòa án chấp nhận. Thậm chí chúng còn được tô vẽ như là những nỗ lực nhằm cải thiện chế độ dân chủ, làm cho hệ thống tư pháp hoạt động hiệu quả hơn, đấu tranh chống nạn tham nhũng hoặc làm trong sạch tiến trình bầu cử.
Báo chí vẫn tiếp tục xuất bản, nhưng hoặc đã bị mua chuộc, hoặc bị đe dọa phải thực hiện tự kiểm duyệt. Công dân tiếp tục phê bình chính phủ để rồi nhận ra mình phải đối mặt với cáo buộc trốn thuế hoặc những rắc rối pháp lý khác. Tình trạng này gieo rắc nỗi hoang mang trong công chúng. Người dân không nhận ra ngay được điều gì đang diễn ra. Nhiều người tin rằng mình vẫn đang sống trong một chế độ dân chủ.
Bởi vì không có một khoảnh khắc duy nhất nào cho thấy rõ ràng chế độ đương quyền đã “bước qua lằn ranh” để trở thành chế độ độc tài – không đảo chính, không ban bố lệnh giới nghiêm, không đình chỉ hiến pháp – nên không có gì kích hoạt những chiếc chuông báo động của xã hội. Những người tố cáo chính phủ lạm dụng quyền lực có thể bị bỏ qua như là những kẻ gây hấn hoặc những người hay la lối om sòm. Đối với nhiều người, sự xói mòn nền dân chủ hầu như không thể hình dung được!
**
Chế độ dân chủ của Hoa Kỳ dễ tổn thương tới mức nào với hình thức thoái trào này? Những nền tảng của chế độ dân chủ Hoa Kỳ chắc chắn là vững mạnh hơn so với Venezuela, Thổ Nhĩ Kỳ hoặc Hungary. Nhưng chúng có đủ vững chắc hay không?
Để trả lời một câu hỏi như vậy, chúng ta phải lùi ra khỏi những bản tin thời sự hàng ngày, những cảnh báo tin sốt dẻo để mở rộng tầm nhìn, để rút ra bài học từ trải nghiệm của các nền dân chủ khác trên khắp thế giới trong suốt chiều dài lịch sử.
Một lối tiếp cận so sánh sẽ cho thấy bằng cách nào mà các chính trị gia chuyên chế được bầu lên ở nhiều khu vực khác nhau của thế giới đã sử dụng những chiến lược giống nhau một cách đáng chú ý để làm biến chất các thiết chế dân chủ. Khi những khuôn mẫu này trở nên dễ thấy, những bước đi tới sự sụp đổ cũng trở nên rõ ràng hơn – và dễ chống lại chúng hơn. Hiểu biết những cách thức mà công dân các nền dân chủ khác đã phản kháng thành công các chính trị gia chuyên chế được bầu lên, hoặc hiểu được vì sao họ đã thất bại bi thảm trong công cuộc phản kháng của mình, là điều thiết yếu cho những người đang tìm cách bảo vệ chế độ dân chủ của Hoa Kỳ hôm nay.
Chúng ta biết rằng những chính trị gia mị dân (demagogue) cực đoan thì thời nào cũng có ở mọi xã hội, ngay cả trong những nền dân chủ lành mạnh. Hoa Kỳ cũng có những kẻ như vậy, chẳng hạn như Henry Ford, Huey Long, Joseph McCarthy và George Wallace.
Phép thử quyết định cho các nền dân chủ không nằm ở chỗ những kẻ mị dân cực đoan như vậy có nổi lên hay không mà trước tiên là các nhà lãnh đạo chính trị, đặc biệt là các đảng phái lớn, có ngăn chặn những kẻ đó thâu tóm quyền lực hay không – bằng cách loại chúng ra khỏi các đảng chính trị dòng chính, từ chối phê chuẩn hoặc đứng cùng phe với chúng và khi cần thiết thì sẵn sàng chia sẻ lý tưởng với các đối thủ trong công cuộc hỗ trợ các ứng cử viên dân chủ.
Để cô lập những kẻ cực đoan mị dân cần có lòng dũng cảm chính trị. Nhưng khi nỗi sợ hãi, chủ nghĩa cơ hội hoặc tính toán sai lầm dẫn dắt các đảng chính trị tới chỗ đưa những kẻ cực đoan vào dòng chính thì nền dân chủ sẽ lâm vào tình trạng nguy hiểm.
Khi một người có khả năng biến thành nhà chính trị chuyên chế giành được quyền lực, các nền dân chủ đối mặt với phép thử quyết định thứ hai: liệu nhà lãnh đạo chuyên chế kia sẽ làm biến chất các thiết chế dân chủ hay là ông ta sẽ bị các thiết chế ấy kiềm chế?
Chỉ riêng các thiết chế là không đủ để kiềm chế các lãnh đạo chuyên chế được bầu lên. Hiến pháp phải được bảo vệ - bởi các đảng chính trị, các tổ chức công dân, nhưng cũng bởi những quy tắc dân chủ. Không có những quy tắc vững mạnh, cơ chế kiểm tra và cân bằng hiến định sẽ không thể trở thành thành trì bảo vệ chế độ dân chủ như chúng ta hình dung. Các thiết chế sẽ bị biến thành vũ khí chính trị mà những kẻ kiểm soát chúng sử dụng một cách quyết liệt để chống lại những ai không kiểm soát được chúng.
Đây là cách mà các nhà lãnh đạo chuyên chế làm băng hoại chế độ dân chủ - cử người vào và “vũ khí hóa” hệ thống tòa án và những cơ quan trung lập khác, mua chuộc báo chí truyền thông và khu vực kinh tế tư nhân (hoặc đe dọa buộc họ phải im lặng) và viết lại những luật lệ chính trị để làm cho sân chơi nghiêng về phía chống lại những người đối lập. Nghịch lý bi thảm của con đường bầu cử tới chủ nghĩa độc tài chuyên chế là ở chỗ, những kẻ ám sát nền dân chủ sử dụng chính những thiết chế dân chủ để giết chết nó - dần dần, khéo léo và thậm chí hợp pháp nữa.
**
Nước Mỹ đã thất bại trong phép thử thứ nhất vào tháng 11 năm 2016 khi bầu làm tổng thống một người mà lòng trung thành với các quy tắc dân chủ là rất đáng ngờ.
Chiến thắng bất ngờ của ông Donald Trump sở dĩ xảy ra được không chỉ vì nỗi bất mãn của công chúng mà còn bởi thất bại của đảng Cộng hòa trong việc ngăn chặn một kẻ mị dân cực đoan trong hàng ngũ của mình giành được sự đề cử [làm ứng cử viên tổng thống của đảng].
Giờ đây mối đe dọa này đã nghiêm trọng tới mức nào? Nhiều quan sát viên thấy niềm an ủi ở hiến pháp Hoa Kỳ, vốn được thiết kế để ngăn chặn và kiềm chế những kẻ mị dân như Trump. Hệ thống kiểm tra và cân bằng kiểu Madison (**) đã bền bĩ trải qua hơn hai thế kỷ. Nó đã sống sót qua thời nội chiến, thời đại suy thoái, Chiến tranh Lạnh và vụ bê bối Watergate (***). Thế thì chắc chắn nó sẽ có khả năng sống sót lâu hơn Trump.
Không nên chắc chắn như vậy. Về mặt lịch sử, hệ thống kiểm tra và cân bằng đã hoạt động tương đối tốt – nhưng không, hoặc không hoàn toàn nhờ vào hệ thống hiến định được những nhà lập quốc thiết kế ra. Các nền dân chủ hoạt động tốt nhất – và sống lâu hơn – khi hiến pháp được tăng cường bởi những quy tắc dân chủ bất thành văn.
Hai quy tắc căn bản đã duy trì hệ thống kiểm tra và cân bằng của Hoa Kỳ theo những cách thức mà chúng ta thường coi là hiển nhiên: sự dung nạp lẫn nhau, hoặc hiểu biết rằng các đảng chính trị cạnh tranh phải chấp nhận lẫn nhau như là những đối thủ hợp pháp và chính đáng; và sự độ lượng, hoặc ý tưởng rằng các chính trị gia nên thực hành sự kiềm chế khi sử dụng những đặc quyền mà thể chế ban cho họ.
Hai quy tắc này đã nâng đỡ nền dân chủ Hoa Kỳ trong phần lớn thế kỷ 20. Các nhà lãnh đạo của hai đảng chính trị lớn chấp nhận lẫn nhau như là những đối thủ chính danh và chống lại nỗi cám dỗ muốn sử dụng quyền kiểm soát tạm thời những thiết chế hành pháp, lập pháp và tư pháp để khuếch đại lợi thế của đảng mình. Những quy tắc về dung nạp và kiềm chế đã hoạt động như những rào chắn mềm của nền dân chủ Hoa Kỳ, giúp nó tránh được tình trạng các đảng phái đánh nhau chí chết từng hủy diệt các nền dân chủ khắp nơi trên thế giới, kể cả ở châu Âu trong thập niên 1930 và ở Nam Mỹ trong các thập niên 1960 và 1970.
Tuy vậy ngày nay những rào chắn của nền dân chủ Hoa Kỳ đang bị yếu đi. Sự xói mòn các quy tắc dân chủ đã bắt đầu từ các thập niên 1980, 1990 và tăng tốc trong thập niên 2000. Vào thời ông Barack Obama làm tổng thống, nhiều người Cộng hòa đặc biệt đặt nghi vấn về tính chính danh của các đối thủ đảng Dân chủ và đã từ bỏ sự độ lượng để theo đuổi chiến lược giành chiến thắng bằng mọi phương tiện cần thiết.
Có lẽ ông Trump đã đẩy nhanh tiến trình này, nhưng ông không phải là người tạo ra nó. Những thách thức mà nền dân chủ Hoa Kỳ phải đương đầu thì sâu xa hơn nhiều. Sự yếu đi của các quy tắc dân chủ bắt rễ trong sự phân cực đảng phái (partisan polarisation) hết sức cực đoan – một sự chia rẽ vượt rất xa những khác biệt về chính sách để trở thành mâu thuẫn sống còn về các vấn đề văn hóa và chủng tộc.
Những nỗ lực của Hoa Kỳ để đạt tới sự bình đẳng về sắc tộc khi xã hội trưởng thành và ngày càng đa dạng đã thôi thúc một phản ứng quỷ quyệt và làm gia tăng sự phân cực. Và từ việc nghiên cứu những cuộc sụp đổ trong lịch sử, có một điều hết sức rõ ràng là chính sự phân cực cùng cực có thể giết chết các nền dân chủ.
Vì vậy, có nhiều lý do để báo động. Không chỉ người Mỹ vào năm 2016 đã bầu lên một kẻ mị dân mà còn làm việc đó khi những quy tắc đã có thời bảo vệ nền dân chủ đã không còn được bảo đảm nữa.
Nhưng nếu những trải nghiệm của các quốc gia khác có thể dạy chúng ta rằng sự phân cực có thể giết chết các nền dân chủ thì chúng cũng dạy chúng ta rằng sụp đổ không phải là tất yếu, không phải là không đảo ngược được.
Nhiều người Mỹ đã lo sợ một cách chính đáng với những gì đang xảy ra trên đất nước mình. Nhưng bảo vệ nền dân chủ đòi hỏi nhiều hơn là nỗi sợ hãi hoặc cơn giận dữ. Chúng ta phải khiêm tốn và dũng cảm. Chúng ta phải học từ những quốc gia khác để thấy những dấu hiệu cảnh báo – và phải nhận ra những hồi chuông báo động sai. Chúng ta phải biết tới những bước đi sai lầm mang tính định mệnh đã làm triệt tiêu nhiều nền dân chủ. Và chúng ta phải thấy bằng cách nào các công dân đã đứng lên đối mặt với những cuộc khủng hoảng lớn của chế độ dân chủ trong quá khứ, vượt qua những sự chia rẽ thâm căn cố đế của chính họ để tránh sụp đổ.
Lịch sử không tự lặp lại chính nó. Nhưng lịch sử có nhịp điệu. Lời hứa hẹn của lịch sử là ở chỗ chúng ta phải tìm thấy nhịp điệu của nó trước khi quá trễ.Steven Levitsky & Daniel Ziblatt
Người dịch: Huỳnh Hoa - Guardian

-----------------------
(*) Đây là trích đoạn từ sách “How Democracies Die” của Steven Levitsky và Daniel Ziblatt, giáo sư về chính quyền, trường Đại học Harvard, NXB Penguin Book.
(**) James Madison (1751-1836): Quốc phụ và tổng thống thứ tư của Hoa Kỳ, cầm quyền hai nhiệm kỳ, từ 1809 đến 1817, kế nhiệm tổng thống Thomas Jefferson. Ông Madison là người viết bản dự thảo đầu tiên của Hiến pháp Hoa Kỳ và Tuyên ngôn Nhân quyền, từ đó ông có biệt danh “Cha đẻ của hiến pháp”. Hiến pháp Hoa Kỳ xác lập các nguyên tắc nhà nước pháp quyền, tam quyền phân lập – tạo nên cơ chế kiểm tra và cân bằng để giám sát quyền lực nhà nước. Ông cùng với tổng thống T. Jefferson lập ra đảng Dân chủ – đảng chính trị đối lập đầu tiên của Hoa Kỳ - năm 1792.
(***) Vụ bê bối Watergate xảy ra ngày 17/06/1972 đã buộc tổng thống Richard Nixon phải từ chức năm 1974 và làm thay đổi vĩnh viễn nền chính trị Hoa Kỳ, từ đó người dân Mỹ luôn đặt nghi vấn về các nhà lãnh đạo chính trị của họ.
Nguồn: https://www.theguardian.com/us-news/commentisfree/2018/jan/21/this-is-how-democracies-die

(Viet - studies)

Chống tham nhũng mà tay ‘nhúng chàm’ thì chống sao nổi?

Nếu không chấn chỉnh và làm sạch sẽ bộ máy này đương nhiên sẽ không thể nào ngăn chặn, đẩy lùi tiêu cực.
Phát biểu kết luận phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng kỳ thứ 13 vào sáng 22/1,Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã phát ra một hiệu lệnh rất quan trọng. Đó là, “kiên quyết loại khỏi bộ máy những cán bộ hư hỏng, tham nhũng, phải thanh lọc đội ngũ, trước hết là trong những ngành, cơ quan phòng chống tham nhũng".
Thực vậy, như Tổng bí thư từng nói “Tay đã nhúng chàm không thể chống được tham nhũng!”. Để làm tốt công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, chúng ta phải đặc biệt quan tâm đến đối tượng được Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Nhà nước giao quyền thực thi nhiệm vụ Kiểm tra, Thanh tra, Kiểm toán, các cơ quan Điều tra, xét hỏi và Xét xử...
Nếu không chấn chỉnh và làm sạch sẽ bộ máy này đương nhiên sẽ không thể nào ngăn chặn, đẩy lùi tiêu cực. Và nếu vậy đây sẽ trở thành lỗi hệ thống đáng lo của bất cứ chế độ nào muốn duy trì sự tồn tại của mình.
Tôi được biết, khi Uỷ ban Kiểm tra Trung ương làm việc với ông Đinh La Thăng trước khi đưa ra kết luận cuối cùng về những sai phạm của nguyên Chủ tịch Tập đoàn dầu khí Quốc gia giai đoạn 2006-2011, chính ông Thăng đã phải thành khẩn thừa nhận rằng: “Giá mà các đồng chí kiểm tra phát hiện sớm thì hậu quả không nặng nề đến như vậy”.
Đó là trường hợp kỹ sư Đỗ Văn Hải, hiện công tác tại Tổng Công ty Xây lắp dầu khí (PVC). Tôi được biết, ngay từ năm 2010 và 2011, anh đã bắt đầu làm đơn tố cáo những sai phạm của Chủ tịch Tập đoàn PVN. Anh Hải sau đó kiên trì gửi đơn đi nhiều nơi nhưng chẳng được ai xem xét, điều tra. Chỉ có Thanh tra Chính phủ vào cuộc thì lại kết luận “nhẹ như bấc”, chỉ như “để đơn vị rút kinh nghiệm”. Có một chuyện khá đau xót ngay tại chính Tập đoàn dầu khí Quốc gia (PVN), mà có thể coi như một ví dụ sinh động cho câu "đấu tranh thì tránh đâu". Khi một người dũng cảm đứng lên đấu tranh vì sự thật nhưng không được các cơ quan có trách nhiệm xem xét thấu đáo thì không những chỉ là sự đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, họ còn cố tình tạo dựng lý do để làm lệch hướng điều tra. Họ quy tội cho người tố cáo rất nghiệt ngã là “gây mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng đến uy tín của ngành dầu khí”, ảnh hưởng đến sản xuất của doanh nghiệp…
Sau đó, lãnh đạo PVC đã được ai đó đạo diễn, tố ngược đến cơ quan công an về kỹ sư Đỗ Văn Hải để rồi C44 , Bộ Công an được Vụ 1A (ngày đó) của Viện Kiểm sát Tối cao phê chuẩn ngày 3/5/2011 bắt tạm giam anh Hải 3 tháng theo điều 258 của Bộ luật Hình sự.
Ở PVC ngày đó, lãnh đạo và một nhóm người nơi này nhìn anh như cái gai trước mắt họ nên cũng rất... ngứa mắt. Cũng không rõ từ khi nào, họ gọi anh bằng cái tên không hề thiện cảm “Hải kiện”. Anh đã từng mạnh dạn chỉ ra những sai phạm về kỹ thuật nghiêm trọng ở Tập đoàn dầu khí khi họ xây dựng đường ống dẫn dầu kho cảng Thị Vải vào thời gian trước đó nữa. Sự cố đã xảy ra và gây thiệt hại nhiều triệu đô la của nhà nước. Lẽ ra vụ này anh phải được khen thưởng thì ngược lại, anh đã bị nhiều vị có trách nhiệm trong đơn vị ghét bỏ, khó chịu.
Sau khi được tha vì các cơ quan pháp luật cũng không tìm ra lý do chính đáng để truy tố anh, Tổng giám đốc PVC là Vũ Đức Thuận, (bị cáo trong vụ việc vừa được xét xử với mức án 22 năm tù vừa tuyên hôm 22/1) đã cố tình ra quyết định kỷ luật anh bằng hình thức sa thải.
Trong một lần đến trình bày đơn thư tố cáo với Ủy ban Kiểm tra Trung ương, anh Hải còn bị một vị lãnh đạo cấp cao của Ủy ban Kiểm tra Trung ương doạ sẽ gọi điện cho lực lượng bảo vệ và dọa sẽ gọi công an bắt nếu còn tiếp tục “ám” ông như thế.
Nói lại chuyện cũ để thấy, việc mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng mong muốn bộ máy với những “công bộc” làm công tác phòng chống tham nhũng nếu muốn làm tốt nhiệm vụ ngoài cái tâm trong sáng, tính trách nhiệm cao, còn phải thật trong sạch. Không trong sạch thì làm sao thực thi công vụ một cách công tâm được.
Chỉ có như vậy, mọi công dân có trách nhiệm với đất nước mới dám trực diện đấu tranh cho lẽ phải, mới giữ được niềm tin. Có như thế mới không xảy ra những trường hợp bị trù dập kiểu như kỹ sư Đỗ Văn Hải với những năm tháng chỉ như “đá ném ao bèo”, nhận lại chỉ là những tờ thông báo, (mà thậm chí cũng chẳng có nốt) trả lời “chúng tôi đã nhận”.
Chúng ta hoàn toàn có quyền hy vọng, sau khi Đảng, Nhà nước chỉ đạo quyết liệt một số vụ án điểm gần đây thì với chỉ đạo này của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, bộ máy của đội ngũ những người thực thi chống tham nhũng sẽ sớm loại bỏ những ai đã từng nhúng “chàm”. Từ đó sẽ xứng đáng là lực lượng: "thanh gươm và lá chắn" thực thụ của chế độ ta. Họ sẽ hoàn thành tốt sứ mệnh được giao là xử lý công minh và trừng trị những kẻ tham nhũng, những nhóm lợi ích một cách nghiêm minh theo pháp luật...

Quốc Phong

14 tháng 1, 2018

Hé lộ “ông chủ” của 48 bãi xe “vua” ở Quận 1, TP.HCM

VĂN MINH
Theo tìm hiểu của P.V, “ông chủ” của 48 bãi xe “vua” tại quận 1 (TPHCM) có bóng dáng của nhiều phòng ban, đơn vị, UBND các phường đứng tên. Trong đó, có UBND phường đứng tên nhiều bãi giữ xe ở các phường khác.
Bãi xe trên đường Nguyễn Du chiều 11/1 vẫn còn hoạt động. Ảnh: Văn Minh.
Những ông chủ thật sự
Trong số những “ông chủ” của 48 bãi xe “vua” ở quận 1 có trường hợp UBND phường Cầu Ông Lãnh lại đứng tên điểm giữ xe trên vỉa hè ở hai phường khác gồm 1 bãi trên đường Ngô Đức Kế (phường Bến Nghé) và đường Mạc Đĩnh Chi (phường Đa Kao). Ngoài ra, UBND phường Bến Nghé đứng tên đến 5 điểm giữ xe trên vỉa hè của các tuyến đường như Hồ Tùng Mậu, Hải Triều, Mạc Đĩnh Chi, Hàm Nghi - Tôn Đức Thắng.
Ngoài các điểm giữ xe do UBND phường đứng tên, còn có nhiều điểm giữ xe do phòng ban, đơn vị quận 1 đứng tên như: Đội Quản lý trật tự đô thị đứng tên 2 điểm, Văn phòng UBND quận 1 đăng ký 2 điểm, Phòng Kinh tế quận 1 đăng ký 2 điểm, Phòng Văn hóa Thông tin đứng tên 1 điểm,…
Trong số 48 điểm giữ xe này thì chỉ có 19 điểm có giấy phép còn hạn. Ngoài ra, có một số điểm giữ xe từng đăng ký trong giấy phép là sử dụng tạm một phần vỉa hè làm bãi giữ xe không thu phí nhưng thực tế vẫn có thu phí. Theo tìm hiểu đó là những bãi giữ xe ở 109 Bis Phạm Ngũ Lão, bãi Bùi Viện, Nguyễn Thái Học, bãi giữ xe ở đường Thái Văn Lung,…
Ông Đoàn Ngọc Hải: “Chấm dứt hoạt động ngay trong ngày 11/1” với 48 bãi xe vua
Ngày 11/1, trao đổi với P.V, ông Đoàn Ngọc Hải, Phó Chủ tịch UBND quận 1 (TP.HCM) cho biết, UBND quận 1 chỉ đạo kiểm tra và chấn chỉnh công tác quản lý các điểm giữ xe trên địa bàn quận 1, trong đó có nhiều bãi xe do các phòng, ban quận 1 quản lý.
Theo ông Hải, tất cả các điểm giữ xe này sẽ bị tạm đình chỉ, chấm dứt ngay. Đồng thời quận 1 sẽ xem xét kỹ càng lại từng trường hợp cụ thể theo chỉ đạo của UBND TP.HCM để có hướng xử lý đúng quy định.
“Tất cả các bãi xe không phép, trái phép, thu quá giá sẽ bị chấm dứt hoạt động trong ngày 11/1. Các bãi giữ xe có giấy phép của các phòng ban, đơn vị trực thuộc quận 1 sẽ bị tạm đình chỉ hoạt động ngay trong ngày 11/1 để có hướng xử lý phù hợp”, ông Đoàn Ngọc Hải nêu rõ.
Liên quan đến trách nhiệm trong công tác quản lý trật tự đô thị, ông Đoàn Ngọc Hải, Phó Chủ tịch UBND quận 1 (TP.HCM) thẳng thắn thừa nhận trách nhiệm của ông đã được nói rõ trong đơn xin từ chức.
Ông Đoàn Ngọc Hải thừa nhận các bãi giữ xe trên địa bàn quận 1 đã tồn tại từ lâu và nhiều bãi xe trong đó thuộc các phòng ban, đơn vị của quận 1. Trong đó có nhiều bãi giữ xe không phép, trái phép, thu quá giá nhưng vẫn hoạt động. Điều này có sự buông lỏng quản lý của cán bộ phường, thậm chí có dấu hiệu tiêu cực trong này. Cần phải điều chuyển, hạ chức cán bộ quản lý yếu kém, không hoàn thành nhiệm vụ.
Liên quan đến 48 bãi xe “vua” có “bóng dáng” của các phòng ban, đơn vị quận 1 đứng tên, ông Đoàn Ngọc Hải đặt vấn đề: “Cán bộ công chức đương nhiệm nhưng lại nhận giữ xe làm gì? Nhân dân hỏi như thế sao mà trả lời được?”.
Nói về vấn đề vì sao không dẹp các bãi xe này, ông Đoàn Ngọc Hải cho biết, việc kiểm tra hoạt động các bãi xe không những của khối đô thị phụ trách mà còn có cả khối kinh tế. Trong nhiều cuộc họp của quận 1 vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau nên tình trạng này vẫn chưa giải quyết dứt điểm.
Về tình trạng có gần 700 hồ sơ của người dân bị “ngâm”, ông Hải lý giải rằng, lúc trước việc tiếp nhận hồ sơ tại Đội Quản lý trật tự đô thị quận 1. Sau đó, quận 1 thay đổi cách làm và chuyển về Văn phòng UBND quận 1. Từ đó, các hồ sơ ở Đội Quản lý trật tự đô thị bị dồn và tăng lên. Trong 2 tháng từ tháng 6-8/2017 đã có hơn 1.000 hồ sơ tuy nhiên cán bộ giải quyết chỉ có 2 người dẫn đến chậm trễ gần 700 hồ sơ như báo chí nêu.
24 quận, huyện vào cuộc
Cùng ngày, UBND TP.HCM chỉ đạo chủ tịch UBND của 24 quận huyện khẩn trương tổ chức rà soát, chấm dứt hoạt động các bãi giữ xe trên vỉa hè ngay trong quý I-2018.
Theo UBND TP.HCM có chủ trương rà soát, chấm dứt hoạt động các bãi giữ xe trên vỉa hè và ưu tiên dành vỉa hè cho người đi bộ. Nếu sử dụng vỉa hè vào mục đích khác thì phải thật sự cần thiết và phải được cơ quan chức năng quản lý chặt chẽ, tránh bị trục lợi và không để ảnh hưởng đến tình hình giao thông, mỹ quan đô thị.
UBND TP.HCM chỉ đạo chủ tịch UBND của 24 quận huyện khẩn trương tổ chức rà soát, chấm dứt hoạt động các bãi giữ xe trên vỉa hè ngay trong quý I-2018.
Riêng đối với những địa điểm thật sự cần thiết phải có hoạt động trông giữ xe thì xem xét thực hiện theo quy định: Trường hợp trông giữ xe có thu giá dịch vụ thì UBND các quận huyện giao cho Lực lượng Thanh niên xung phong tổ chức thực hiện. Mức thu giá dịch vụ trông giữ xe theo đúng quy định hiện hành.
Trường hợp doanh nghiệp đề xuất tổ chức trông giữ xe miễn phí thì UBND các quận huyện căn cứ vào sự cần thiết, hiện trạng khu vực và các quy định có liên quan để xem xét, cấp phép có thời hạn.


“Tất cả các bãi xe không phép, trái phép, thu quá giá sẽ bị chấm dứt hoạt động trong ngày 11/1. Các bãi giữ xe có giấy phép của các phòng ban, đơn vị trực thuộc quận 1 sẽ bị tạm đình chỉ hoạt động ngay trong ngày 11/1 để có hướng xử lý phù hợp”.
Phó Chủ tịch UBND quận 1 Đoàn Ngọc Hải
Theo Báo Tiền phong

‘THẰNG’ CƠ CHẾ

* BÙI VĂN BỒNG
Vụ đại án động trời đang xét xử  Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh   hiện nay, có những bị cáo đổ lỗi tại Cơ chế!
Cơ chế là “thằng” nào mà có tác dụng ghê gớm như vậy? Tội trạng, mức độ vi phạm pháp luật, vi phạm đường lối, chính sách của đảng, vi pham pháp luật Nhà nước dù cho cỡ nào, bí quá, đổ tại cơ chế, coi như xong, êm xuội! Không có một Tòa án nào có thể lôi “thằng” cơ chế ra hầu tòa. Cơ chế do con người đẻ ra, là hiện hữu, nhưng cũng rất trừu tượng, chung chung, nói cách gì cũng được. Con người đẻ ra cơ chế, lại dùng ngay cơ chế để vụ lợi, chạy tội, bỏ qua pháp luật…
Cơ chế là gì? Ta vẫn thường nghe các cụm từ "đi xin cho X một cơ chế?", "cơ chế xin cho", “cơ chế giải quyết chính sách”, “cơ chế cho nhân sự”…
Từ "cơ chế" là chuyển ngữ của từ mécanisme của phương Tây. Từ điển Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa "mécanisme"  "cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau". Còn Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học 1996) giảng nghĩa cơ chế là "cách thức theo đó một quá trình thực hiện". Cách giải thích của Từ điển Tiếng Việt như vậy rất chung chúng, lấy khái niệm giải thích cho khái niệm, chưa thể gọi là chuẩn xác.
Không rõ từ “cơ chế” bắt đầu được dùng ở nước ta tự bao giờ, nhưng có thể khẳng định rằng nó được dùng trước tiên và từ lâu trong ngành y. Các thầy thuốc thường nói đến cơ chế gây bệnh và cơ chế tác dụng của thuốc.  Và khi người ta đã nhận biết được những cơ chế ấy, có nghĩa là đã giải thích được bệnh và phương pháp chữa bệnh có cơ sở khoa học. Nếu chưa nhận biết được thì việc chẩn đoán và điều trị vẫn chỉ là theo triệu chứng, theo kinh nghiệm mà thôi. Điều đáng lưu ý là cả cách dùng trong ngành y, cả định nghĩa trong từ điển, đều cho thấy “cơ chế” được dùng với hàm ý chỉ hiện tượng ở trạng thái động chứ không phải ở trạng thái tĩnh. Cho nên hiểu cơ chế chỉ là các qui định quản lý là hiểu theo trạng thái tĩnh, chưa thấu triệt hết tính chất động của hiện tượng.
Từ "cơ chế" được dùng rộng rãi trong lĩnh vực chính trị-kinh tế, quản lý xã hội từ khoảng cuối những năm 1970, khi chúng ta bắt đầu chú ý nghiên cứu về quản lý và cải tiến quản lý kinh tế, với nghĩa như là những qui định về quản lý. Cách hiểu đơn giản này dẫn tới cách hiểu tách rời cơ chế với con người như nêu trên.
Việc tiến hành công việc theo "Cơ chế xin-cho" có thể được hiểu trong xã hội hiện nay theo 1 cách như sau: Trong mọi ban ngành đều có các chỉ tiêu, nguồn vốn do Nhà nước giao hàng năm theo kế hoạch và cơ quan chủ quản có quyền quyết định đơn vị nào sẽ được thực hiện. Nhưng để giành được các chỉ tiêu, nguồn vốn đó thì đơn vị thực hiện cần phải đề đạt mong muốn của mình và có một số hoạt động sao cho đáp ứng được yêu cầu của Cơ quan Chủ quản. Trong quá trình thực hiện, cả hai bên đều phải nỗ lực vì các chỉ tiêu, nguồn vốn đều có thời hạn xác định và nếu không kịp thì sẽ không thực hiện được và nhất là nguồn vốn Nhà nước sẽ không kịp giải ngân được.
Có lẽ cái "cơ chế xin-cho" phải được hiểu theo một cách khác, vì nếu nó có giá trị tích cực như vậy, sao nhiều cơ quan, đơn vị yêu cầu phải xóa bỏ "cơ chế xin-cho"? 
Cơ chế xin-cho được mang nghĩa tích cực hay tiêu cực, tùy thuộc vào trong quá trình con người thực hiện, những "hoạt động" và "yêu cầu" đặt ra như đã nói ở trên là tích cực hay tiêu cực.
Riêng trong lĩnh vực quản lý, có các loại cơ chế sau đây, xin liệt kê để khi ai đó viết bài cơ chế đỡ mất công tìm: cơ chế hiện đại; cơ chế lạc hậu; cơ chế cũ; cơ chế mới; cơ chế một cửa; cơ chế đúng; cơ chế sai; cơ chế vay trả; cơ chế xin cho; cơ chế thoáng; cơ chế mở; cơ chế cải cách, cơ chế phù hợp, cơ chế không phù hợp...
Bàn về cơ chế quản lý như là một hiện tượng đang chuyển động, không thể không nói tới những con người hoạt động trong đó như là những chi tiết không thể thiếu của bộ máy quản lý. Con người nằm trong cơ chế, tham gia vào sự vận hành của cơ chế, bị cơ chế điều khiển, chứ không nằm ngoài cơ chế và điều khiển cơ chế. Quan hệ giữa cơ chế với con người là quan hệ giữa cục bộ với toàn bộ. Cho nên nó không chỉ bao gồm những qui định về cách thức vận hành, mà còn bao gồm cả con người hoạt động theo những cách thức đã được định sẵn trong thiết kế cơ chế. Và chính những hành động của tất cả chi tiết con người như thế tạo nên cơ chế như là một bộ máy quản lý đang vận hành.
Cần nhấn mạnh rằng cơ chế phải và chỉ có thể vận hành theo những cách thức định sẵn, trong đó mỗi chi tiết phải đóng được vai trò của mình. Chỉ cần một chi tiết hư mòn hay kém chất lượng, sự vận hành của cơ chế sẽ lập tức trục trặc. Cho nên cơ chế tự nó có khả năng phát hiện và đòi hỏi loại trừ những chi tiết, ở đây là những con người không phù hợp với nó.
Theo tác giả Lê Văn Tứ (Tuổi trẻ): Cơ chế phân bổ quota hàng dệt may đã không đạt được tới mức như thế nên mới có vụ Mai Thanh Hải. Cho nên không thể qui vụ này chỉ là do có người xấu, mà phải thấy ngược lại, chính là do cơ chế có khiếm khuyết. Nếu cơ chế tốt thì dù có Mai Thanh Hải là chuyên viên Vụ Xuất nhập khẩu, y cũng không dám làm và không thể làm. Và nếu y cả gan làm thì cũng sẽ bị cơ chế phát hiện và thải loại, vụ việc không thể xảy ra. Còn nếu cứ theo cơ chế hiện hành thì dù không có Mai Thanh Hải đang bị tạm giam hiện nay, cũng sẽ có một hay những Mai Thanh Hải khác. Người ta bàn nhiều về tính không minh bạch, không công khai của cơ chế phân bổ quota hiện nay. Vì vậy kết quả phân bổ không phụ thuộc vào cơ chế, mà phụ thuộc vào người làm việc phân bổ. Phải chăng chính vì thế mà tiêu cực đã xảy ra, và còn có thể tiếp tục xảy ra ở nhiều nơi khác.
Có người lý luận rằng trong quan hệ giữa cơ chế với con người, con người là yếu tố quyết định vì cơ chế do con người tạo ra. Ở đây có sự lẫn lộn giữa người tạo ra cơ chế và đứng ngoài cơ chế với người thực hiện nằm trong cơ chế như là một bộ phận của cơ chế. Cơ chế đúng là do con người tạo ra, nhưng người đó không phải là ông vụ phó Lê Văn Thắng hay ông chuyên viên Mai Thanh Hải, mà là những người thiết kế ra cơ chế và giám sát nó vận hành. Xét cho cùng trách nhiệm phải qui về đó.
Đến đây có thể gút lại câu chuyện như sau: Cơ chế phân bổ quota khiếm khuyết đã khuyến khích và tạo điều kiện khách quan cho Mai Thanh Hải và đồng bọn tiêu cực. Đó là lỗi về cơ chế. Tất nhiên nếu Mai Thanh Hải là người liêm chính thì tiêu cực có thể không xảy ra, song đó là trường hợp may mắn, mà quản lý thì không thể dựa vào may rủi được. Đến lượt mình, cơ chế không tốt là do người thiết kế cơ chế yếu kém hoặc cũng không tốt nốt. Đó mới là lỗi về con người. Câu chuyện đã đi tới cội nguồn của nó…
Một ví dụ khác: Trên thực tế, cam kết trong WTO về doanh nghiệp nhà nước ghi rõ: Chính phủ Việt Nam không tác động trực tiếp hay gián tiếp tới các quyết định thương mại của doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước kiểm soát, hay doanh nghiệp được hưởng độc quyền. 
Cho đến gần đây, quyền đại diện chủ sở hữu Nhà nước được thực hiện bởi các bộ, các ủy ban tỉnh, và hội đồng quản trị các tổng công ty. Cơ chế này, đã dẫn đến tình trạng các quyết định đầu tư vốn ở doanh nghiệp do nhiều cấp thực hiện (bộ, ngành, địa phương, tổng công ty) theo kiểu phong trào.Việc giao vốn, cấp vốn trực tiếp từ ngân sách hoặc cho vay ưu đãi cho doanh nghiệp nhà nước mang tính hành chính, bao cấp nên hiệu quả đầu tư chưa cao.Việc quản lý vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp còn rất “lỏng lẻo” vì trách nhiệm của cơ quan quản lý và doanh nghiệp được nhà nước đầu tư vốn không rõ ràng.
“Cơ chế chủ quản” đối với các doanh nghiệp như hiện nay là không phù hợp với yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và Luật doanh nghiệp đòi hỏi. Do đó phải có biện pháp kiên quyết xoá bỏ sự can thiệp trực tiếp của cơ chế này nhằm nâng cao hiệu quả tạo môi trường, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp ở thị trường trong nước và quốc tế.
Hiện nay, Đảng ta đã thể hiện rõ chí quyết vạch ra từ những đại hội các khóa trước. Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 6 ( khóa XI) chiều ngày 15-10-2012, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhân mạnh: “Bộ Chính trị, Ban Bí thư từ nhiều khoá nay có một số khuyết điểm lớn, đặc biệt là chưa ngăn chặn và khắc phục được tình trạng tham nhũng, tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Việc một số cán bộ cao cấp (cả đương chức và nguyên chức) có lúc, có việc còn biểu hiện chưa gương mẫu về đạo đức, lối sống của bản thân và gia đình, nói không đi đôi với làm, đã làm ảnh hưởng lớn đến uy tín của các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước và bản thân các đồng chí đó. Chưa tập trung chỉ đạo làm rõ, đánh giá đầy đủ thực chất tình hình để kịp thời có biện pháp kiên quyết khắc phục một số tiêu cực (như chạy chức, chạy quyền, chạy tội...) và một số trường hợp phân công, đề bạt cán bộ chưa chính xác, chưa được dư luận đồng tình. Trong việc chỉ đạo tổ chức thực hiện các nghị quyết và kết luận của Trung ương, nhất là về doanh nghiệp nhà nước, còn lúng túng, buông lỏng; kiểm tra, giám sát không chặt chẽ, dẫn đến một số tập đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ty nhà nước (điển hình là Vinashin, Vinalines) hoạt động kém hiệu quả, có nhiều sai phạm, gây tổn thất lớn, để lại hậu quả hết sức nghiêm trọng. Một số hạn chế, khuyết điểm, chưa được làm rõ thực chất, mức độ, địa chỉ cụ thể, ai phải chịu trách nhiệm, như tình trạng chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm”…
Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã nghiêm túc tự phê bình và thành thật nhận lỗi trước Ban Chấp hành Trung ương về những yếu kém, tồn tại trong công tác xây dựng Đảng, những suy thoái, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên như Nghị quyết Trung ương 4 đã nêu.
Có một điều gây bức xúc từ lâu: Người ta cho rằng đã thành cơ chế thì không thể thay đổi. Do hiểu vậy, người ta coi cơ chế  như   một   “hằng đẳng thức”, không mấy ai dám sáng tạo trong thực thi và vận dụng, không mấy ai dám bỏ hoặc thay nó bằng một cách thức khác, hoặc bỏ đi, hoặc chuyển đổi cho phù hợp thực tế. Cho nên, “thằng” cơ chế cứ nghiễm nhiên tồn tại, thành bức bình phong cho những ai chỉ nhăm nhe tìm cớ áp dụng nó, nhằm vơ lợi cho cá nhân, phe nhóm, thậm chí cho cả ‘hệ thống lợi ích’ của các tầng, hệ quan chức!

Ai đã bao che cất nhắc tội phạm Đinh La Thăng?

Ai đã bao che cất nhắc tội phạm Đinh La Thăng?
Những sai phạm của Đinh La Thăng đã được Thanh tra Chính phủ ban hành kết luận thanh tra việc chấp hành quy định pháp luật về quản lý sử dụng vốn, tài sản tại Tập đoàn dầu khí Việt Nam (PVN) vào ngày 05/4/2012. Tại bản Kết luận thanh tra đã nêu rõ:
1. PVN đã sử dụng trên 15.000 tỉ đồng thuộc khoản tiền lãi dầu khí nước chủ nhà để lại cho các hoạt động tài chính không thuộc các dự án trọng điểm dầu khí là chưa đúng với quy định pháp luật. Các khoản đầu tư của PVN tập trung nhiều vào các lĩnh vực, đa ngành như tài chính, bảo hiểm, bất động sản, các lĩnh vực phụ trợ. Tuy nhiên, lợi nhuận thu được từ các hoạt động này rất hạn chế, đã có rất nhiều doanh nghiệp khi được PVN bơm vốn hoạt động không có lãi.
>Ngày thứ 6 xét xử Đinh La Thăng: Người tự nguyện xin đi tù thay Đinh La Thăng tại tòa là ai?
=>>http://www.tintuchangngayonline.com/2018/01/video-ngay-thu-6-xet-xu-inh-la-thang.html
2. PVN sử dụng nguồn vốn từ quỹ nghiên cứu khoa học và đào tạo để đầu tư Trường THPT Đất Mũi với giá trị gần 12 tỉ đồng là trái quy định. PVN còn sử dụng trên 413 tỉ đồng của Quỹ đầu tư phát triển để xây dựng các công trình không nằm trong dự án dầu khí khác như đường từ thành phố Cà Mau đến công trình Khí điện đạm Cà Mau, trường mẫu giáo ở thành phố Vũng Tàu…
3. PVN đã chỉ định cho nhà thầu không phải là thành viên 2 gói thầu có giá trị hơn 32.000 tỉ đồng tại dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất. Các đơn vị thành viên chỉ định 4 gói thầu có giá trị hơn 110 triệu USD, 602.000 EURO và trên 743 tỉ đồng.
4. Năm 2006, Thủ tướng cho phép PVN đóng mới tàu địa chấn 2D nhưng Tổng công ty thăm dò khai thác dầu khí PVEP lại ký hợp đồng mua tàu cá Pavlovsk được hoán cải thành tàu địa chấn với giá 30 triệu USD. Tàu này được đóng từ năm 1983, quá 10 năm so với quy định đăng kiểm (không quá 15 năm tuổi).
5. Năm 2009, PVN cho phép PVEP chuyển nhượng tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 giá trị 29 triệu USD với phương thức trả tiền trong 5 năm không tính lãi. Nhưng cho đến thời điểm thanh tra, vẫn chưa có đợt thanh toán nào được thực hiện. Năm 2010, PVN và các đơn vị thành viên chuyển nhượng dự án khách sạn du lịch Thái Bình với giá trị 111 tỉ đồng nhưng đến nay vẫn chưa thu được khoản tiền này.
6. Tính đến hết 2010, PVN đã cổ phần hóa 17 công ty, tổng số tiền thu được là 23.800 tỉ đồng. Tuy nhiên, số tiền các đơn vị nộp về quỹ của tập đoàn chỉ đạt 21.800 tỉ đồng. Số tiền còn lại gần 2.000 tỉ đồng chưa được nộp. Việc chậm nộp này trái với quy định và khoản nợ, thanh tra cho rằng phải tính lãi theo quy định. Số lãi này, Thanh tra Chính phủ tạm tính là 185 tỉ đồng.
Kết thúc cuộc thanh tra, Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ giao cho các bộ ngành liên quan thu hồi khoản tiền trên 1.600 tỉ đồng mà PVN cho các đơn vị bên ngoài ứng vốn để đầu tư nhưng không có kế hoạch trả nợ hoặc không có khả năng thanh toán. Đồng thời yêu cầu PVN xử lý khoản tiền vi phạm lên tới hơn 18.000 tỉ đồng. Trong đó, thu hồi về quỹ sắp xếp đổi mới doanh nghiệp khoản tiền gần 2.000 tỉ đồng từ cổ phần hóa chưa nộp và các khoản lãi. Ngoài ra, PVN phải chỉ đạo PVEP thu hồi khoản tiền 29 triệu USD chuyển nhượng tàu Bình Minh 02; khoản 111 tỉ đồng chưa được thanh toán khi bán khách sạn Thái Bình.
Tuy nhiên, chẳng hiểu vì động cơ gì mà đang trong lúc thanh tra thì ngày 03/8/2011, Đinh La Thăng đã được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đề nghị Quốc hội phê chuẩn việc bổ nhiêm làm Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải với số phiếu ủng hộ đạt 71,2%. Tháng 01 năm 2016 tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Đinh La Thăng lại được bầu vào BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam và được Ban chấp hành Trung ương bầu vào Bộ chính trị. Ngày 05 tháng 02 năm 2016, Đinh La Thăng được Bộ chính trị phân công giữ chức Bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 7/2016, Đinh La Thăng được bầu giữ chức Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh khóa XIV.
Ai đã phớt lờ kết luận của Thanh tra Chính phủ về những sai phạm của Đinh La Thăng tại PVN? Những sai phạm của Đinh La Thăng không những được bỏ qua mà còn được lên chức vụ ngày càng cao. Nhưng bây giờ mới bị truy tố.
Những ai đã bao che cất nhắc, bầu bán cho kẻ tội phạm Đinh La Thăng phải chịu trách nhiệm.

Phạm Đức Bảo/(FB Đức Bảo Phạm)

Đề nghị điều tra bổ sung vụ án ông Đinh La Thăng và đồng phạm

Phiên tòa xét xử ông Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh và đồng phạm: Phiên tranh tụng sáng 13-1-2018 - Ảnh: TTXVN
TẠI PHIÊN XÉT XỬ ÔNG ĐINH LA THĂNG VÀ ĐỒNG PHẠM SÁNG 13-1, LUẬT SƯ ĐỖ NGỌC QUANG CHO RẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÁM ĐỊNH THIỆT HẠI TRONG VỤ ÁN "CỐ Ý LÀM TRÁI" VÀ "THAM Ô TÀI SẢN" TẠI PVN VÀ PVC CÒN NHIỀU THIẾU SÓT, DO VẬY ĐỀ NGHỊ TOÀ TUYÊN TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG.
SÁNG NAY 13-1, PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM ÔNG ĐINH LA THĂNG, NGUYÊN CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ/HỘI ĐỒNG THÀNH VIÊN (HĐQT/HĐTV) TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ QUỐC GIA VIỆT NAM (PVN), VÀ TRỊNH XUÂN THANH, NGUYÊN CHỦ TỊCH HĐQT TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP DẦU KHÍ VIỆT NAM (PVC), CÙNG 20 ĐỒNG PHẠM TRONG VỤ ÁN CỐ Ý LÀM TRÁI QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ QUẢN LÝ KINH TẾ GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG VÀ THAM Ô TÀI SẢN XẢY RA TẠI TỔNG CÔNG TY PVC TIẾP TỤC VỚI PHẦN BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ.
CÁO TRẠNG VKSND TỐI CAO NÊU RÕ BỊ CÁO NGUYỄN XUÂN SƠN, NGUYÊN PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC TẬP ĐOÀN PVN, BIẾT RÕ HỢP ĐỒNG SỐ 33 KÝ TRÁI QUY ĐỊNH NHƯNG BỊ CÁO VẪN CHỈ ĐẠO BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN THÁI BÌNH 2 TẠM ỨNG CHO PVC HƠN 6,6 TRIỆU USD VÀ 1.300 TỈ ĐỒNG ĐỂ TRỊNH XUÂN THANH VÀ ĐỒNG PHẠM SỬ DỤNG HƠN 1.100 TỈ ĐỒNG TRÁI MỤC ĐÍCH, GÂY THIỆT HẠI GẦN 120 TỈ ĐỒNG.
TẠI PHIÊN TÒA SÁNG NAY 13-1, LUẬT SƯ LÊ ĐÌNH ỨNG BÀO CHỮA CHO ÔNG NGUYỄN XUÂN SƠN CHO RẰNG DỰ ÁN NHIỆT ĐIỆN THÁI BÌNH 2 LẬP TRƯỚC KHI ÔNG SƠN GIỮ CHỨC VỤ PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC PVN, VÌ THẾ ÔNG SƠN KHÔNG BIẾT HỢP ĐỒNG 33 KÝ TRÁI LUẬT. NGOÀI RA, DỰ ÁN NHIỆT ĐIỆN THÁI BÌNH 2 ĐƯỢC GIAO CHO MỘT PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC CHUYÊN TRÁCH LÀ ÔNG NGUYỄN QUỐC KHÁNH PHỤ TRÁCH.
PVN CÒN THÀNH LẬP RIÊNG MỘT BAN CHỈ ĐẠO VỀ ĐIỆN VÀ THAN, CHUYÊN THEO DÕI DỰ ÁN VỚI 2 PHÓ TỔNG PHỤ TRÁCH. DANH SÁCH BAN CHỈ ĐẠO DỰ ÁN ĐIỆN THAN DO HĐTV PVN THÀNH LẬP CŨNG KHÔNG CÓ TÊN ÔNG SƠN.
Do vậy, hợp đồng 33 có sai sót không được cấp dưới báo cáo với ông Sơn.
Về việc chỉ đạo Bản quản lý dự án nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 tạm ứng tiền cho PVC, luật sư cho rằng thân chủ của ông chỉ thực hiện theo quyền được phân công cấp vốn thực hiện theo kế hoạch cấp được HĐQT PVN phê duyệt. Ngoài ra, Ban quản lý dự án có trách nhiệm thay mặt tập đoàn quản lý, sử dụng tiền theo quy định hiện hành.
Chính vì điều này, ông Sơn mới ký công văn cấp tạm ứng. Bên cạnh đó, ông Sơn còn ký văn bản về việc chỉ đạo ban quản lý dự án phải sử dụng tiền đúng mục đích.
Luật sư Ứng cho rằng việc ông Sơn chuyển tiền từ PVN sang Dự án Nhiệt điện Thái Bình 2 thực chất là chuyển từ túi này sang túi kia, hoàn toàn theo quy chế tài chính của PVN và theo quy định hiện hành.
Cuối cùng, luật sư Ứng đề nghị HĐXX xem xét cho ông Sơn: "Việc truy tố ông Sơn về cố ý làm trái là không đúng. Đề nghị tòa áp dụng hết các tình tiết có lợi để áp dụng cho bị cáo Sơn".
Bào chữa cho bị cáo Lê Đình Mậu và Ninh Văn Quỳnh, luật sư Đỗ Ngọc Quang nói rằng nhiều lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều thể hiện ông Đinh La Thăng ở thời điểm đó rất quyết liệt, làm cho bằng được nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2. Dưới áp lực đó, ông Sơn đã chỉ đạo ông Quỳnh. Ông Quỳnh biết rõ hợp đồng 33 không đúng về pháp lý nhưng bị cấp trên dọa "không làm thì đứng sang một bên" nên vẫn phải tuân thủ.
Luật sư Quang cho rằng số tiền 1.115 tỉ đồng mà PVC đã chi sai mục đích sau khi nhận được tạm ứng trên hiện đã thu được tới hơn 1.200 tỉ đồng từ nhiều nguồn. "Vậy tại sao nhà chức trách sử dụng bản giám định tài chính để xác định kết quả thiệt hại?"- ông nói. Do vậy, ông Quang đề nghị HĐXX trả hồ sơ điều tra bổ sung nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Ninh Văn Quỳnh, Lê Đình Mậu.
Trước đó, cả 2 bị cáo Lê Đình Mậu và Ninh Văn Quỳnh bị VKSND xác định phạm tội "Cố ý làm trái…", đề nghị tòa tuyên phạt ông Quỳnh 10 - 11 năm tù; ông Mậu từ 7 - 8 năm tù.
Cố ý làm trái gây thiệt hại hơn 119 tỉ đồng
Ngày 2-7-2010, PVN phê duyệt dự án Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 do PVPower (thuộc PVN) làm chủ đầu tư, tổng mức đầu tư sau thuế hơn 31.505 tỉ đồng, tương đương gần 1,7 tỉ USD.
Ngày 28-2-2011, ông Vũ Huy Quang, tổng giám đốc PVPower và Vũ Đức Thuận, tổng giám đốc PVC, ký Hợp đồng số 33/PVPOWER-PVC/2011/EPC (Hợp đồng tổng thầu EPC số 33) về việc thiết kế, chế tạo, kiểm tra và thử nghiệm, cung cấp, đóng gói và vận chuyển, giao hàng...
Ngày 13-5-2011, PVN, PVPower và PVC đã ký Hợp đồng số 4194/HĐ-DKVN chuyển đổi chủ thể Hợp đồng EPC số 33. Theo đó chuyển chủ đầu tư dự án từ PVPower sang PVN.
Theo cơ quan điều tra, đến ngày 11-10-2011, PVC mới chính thức là nhà thầu có tư cách pháp lý để thực hiện hợp đồng tổng thầu EPC dự án Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 do PVN làm chủ đầu tư. Tuy nhiên, từ ngày 28-4-2011 đến ngày 12-7-2011, PVN đã làm các thủ tục chi tạm ứng cho PVC hơn 1.300 tỉ đồng và hơn 6,6 triệu USD.
Sau khi PVC nhận tiền tạm ứng, Trịnh Xuân Thanh, Vũ Đức Thuận, Nguyễn Ngọc Quý, Nguyễn Mạnh Tiến, Phạm Tiến Đạt và Trương Quốc Dũng đã sử dụng hơn 1.115 tỉ đồng vào mục đích khác, không đưa vào dự án. Đến ngày 22-11-2017, Nhà nước mới thu hồi được gần 1.100 tỉ đồng, thiệt hại hơn 119 tỉ đồng.
Nguyễn Hưởng/NLĐO

Xử ông Thăng nhưng có 'xử được cơ chế'?

Những 'khác thường' trong phiên tòa xử các ông Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh cho thấy có dấu hiệu vụ xử nhận 'sự chỉ đạo' về chính trị, theo một số luật sư.
Từ Sài Gòn, luật sư Đặng Đình Mạnh, chủ nhiệm Văn phòng luật sư cùng tên, bình luận với BBC về các mức án mà Viện Kiểm sát nhân dân TPHN đề nghị với các ông Đinh La Thăng (14-15 năm) và ông Trịnh Xuân Thanh (chung thân) cho các tội danh mà các ông bị buộc tội:
"Đối với mức đề nghị hình phạt của cơ quan công tố, chúng tôi không quá ngạc nhiên. Mức đề nghị như vậy là hoàn toàn phù hợp với những diễn biến trong phiên tòa cũng như theo cáo trạng mà Viện kiểm sát đã công bố tại tòa
"Giới làm luật và giới thực hành về pháp luật, nhất là giới luật sư chúng tôi rất quan tâm và chú ý đến vụ án này, bởi lẽ đây có lẽ là lần đầu tiên ở Việt Nam có những vụ án mà đã được thu xếp để điều tra, sau đó lập cáo trạng và đưa ra xét xử với thời gian ngắn kỉ lục. Nhất là với một vụ án được mệnh danh là "đại án", thì đây phải nói là một việc rất khác thường.
"Nó làm dấy lên một mơ hồ hi vọng rằng đây sẽ là một khởi đầu để tất cả các cơ quan tố tụng từ nay về sau, tất cả các vụ án sẽ theo một trình tự nhanh chóng như vậy. Nếu được như vậy thì nền tư pháp Việt Nam sẽ tiến bộ rất nhanh
"Tuy nhiên chúng tôi cho rằng đây cũng chỉ là niềm hi vọng mơ hồ chứ không biết thật sự những vụ án khác liệu có được giải quyết theo trình tự thời gian nhanh như thế được hay không."
MANG TÍNH CHÍNH TRỊ HAY KHÔNG?
Bình luận trước câu hỏi liệu vụ án và phiên tòa có tính chất đơn thuần pháp lý hay còn mang tính chất chính trị nào đó, hoặc cả hai, Luật sư Đặng Đình Mạnh nói:
"Theo tôi, với sự thu xếp về thời gian hết sức khác thường so với những vụ án khác, với đa phần những vụ án khác, thì tôi tin rằng vụ án này có sự chỉ đạo về phương diện chính trị, đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của đất nước về chính trị. Do vậy nên vụ án này được sắp xếp trong một thời gian hết sức đặc biệt. Kể cả những vấn đề khác về phương diện pháp lý nữa, ví dụ như điều luật được áp dụng v.v., nếu có dịp chúng ta sẽ đi sâu hơn."
Cũng về câu hỏi, Luật sư Ngô Anh Tuấn từ Hà Nội nêu quan điểm khi tham gia Diễn đàn Bàn tròn 11/01/2018 của BBC Tiếng Việt:
"Câu hỏi này nếu phát biểu theo tư cách của một người dân thì sẽ hợp lý hơn, chúng tôi cũng nghiêng về phương diện chính trị. Còn với cương vị luật sư thì chúng tôi không được phát biểu về vấn đề này. Theo tư cách một người dân thì theo tôi có yếu tố chính trị.
"Như chúng ta biết, hồ sơ ở đây có hơn 18.000 bút lục. Hồ sơ này cực kì khủng khiếp, cực kì lớn đối với một vụ án mà ở đây thời gian từ khi điều tra, truy tố đến xét xử thì chỉ riêng việc đọc từng đó tài liệu, lưu ý là trong thời gian khoảng một tháng mà luật sư chỉ mới được tiếp cận khoảng một chục ngày, thì không thể nghiên cứu hết được, nếu không nói là vừa đọc vừa viết, thì không thể đưa ra một nhận định rõ ràng được.
"Cơ quan điều tra và các cơ quan khác cũng tương tự như thế. Họ không thể đưa ra một bản án rõ ràng giống như một bản án thông thường được. Vậy thì có các yếu tố khác khiến cho những người từ điều tra, truy tố đến xét xử, họ có thể làm mọi thứ một cách thoải mái mà không lo ngại giống như các vụ án khác.
"Giống như sắp tới đây, và trước đó nữa, chúng tôi có những vụ án mà người ta bị tạm giam một vài năm là chuyện rất bình thường, kéo dài liên tục, không có bất cứ sự can thiệp nào nghiêm trọng về tố tụng nhưng người ta vẫn làm. Thì cái này chúng tôi nhận định rằng có yếu tố về chính trị."
NHU CẦU CỦA DÂN HAY CỦA ĐẢNG?
Trước câu hỏi vụ án và việc xét xử vụ án với tốc độ và cách thức như vậy phản ánh đây là nhu cầu của nhân dân hay của lãnh đạo, hoặc thậm chí của một bộ phận nào đó trong Ban lãnh đạo Đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam, Luật sư Đặng Đình Mạnh đáp:
"Theo tôi, trước tiên phải nói đến đây là chủ trương của tổ chức Đảng bởi vì họ là cơ quan lãnh đạo. Do đó, những điều làm như vậy chỉ có tổ chức Đảng mới có khả năng chỉ đạo để các cơ quan tố tụng tiến hành làm.
"Đương nhiên qua điều đó cũng sẽ đáp ứng được sự chờ đợi của nhân dân trước các sự kiện như vấn đề tham nhũng tràn lan chẳng hạn, rồi vấn đề của công bị mất cắp v.v.
"Rõ ràng là Đảng trong chừng mực nào đó đã đáp ứng được sự đòi hỏi của nhân dân trong giai đoạn hiện nay. Mặc dù điều đó là nhanh, là tốt nhưng tôi nghĩ cần có những biện pháp để làm nó căng cơ hơn, lâu dài và hiệu quả hơn chứ không chỉ làm bề nổi để hớt váng như hiện nay.
"Nhưng giai đoạn hiện nay, theo tôi như vậy là rất đáng khuyến khích rồi."
Cũng tại cuộc hội luận, nhà báo Mạc Việt Hồng, chủ biên báo mạng Đàn Chim Việt Online đặt câu hỏi cho các luật sư, bà nói:
"Phía Việt Nam muốn lờ đi hay sẽ có những phiên tòa khác để xét xử việc ông Trịnh Xuân Thanh trốn ra nước ngoài và có những phát ngôn chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, cáo buộc ông Tổng Bí thư Đảng Cộng sản?"
Trả lời câu hỏi này, Luật sư Đặng Đình Mạnh đáp:
"Cái này hoàn toàn tùy thuộc vào quan điểm của cơ quan điều tra. Cơ quan điều tra không truy tố bởi lẽ rất có thể là họ chưa truy tố, cũng có thể bởi lẽ họ cho rằng những điều đó không phải những hành vi cấu thành tội phạm.
"Và chúng tôi với góc độ là luật sư, với thiên chức nghề nghiệp của mình là bào chữa để làm giảm nhẹ hình phạt hoặc bào chữa giúp thân chủ của mình vô tội, nếu trong trường hợp họ thực sự không có tội, thì chúng tôi không muốn đi sâu về vấn đề kể thêm tội của ông Trịnh Xuân Thanh."
Tại Bàn tròn của BBC hôm thứ Năm, nhà báo Mạc Việt Hồng từ Warsaw nêu quan điểm về vụ án và phiên tòa, trong đó bà đặt vấn đề phiên tòa cần có thêm nhân chứng là cựu thành viên của Bộ Chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam, bà nói:
"Tôi tin rằng những chuyện không chỉ của tập đoàn dầu khí mà với tất cả những dự án lớn, các tổng công ty lớn của nhà nước thì những quyết sách vẫn được đưa ra từ Bộ Chính trị. Ở Việt Nam từ xưa đến nay người ta vẫn quen với quyết định tập thể và những vụ thật lớn thì thường cá nhân giám đốc hay tổng giám đốc cũng không thể đưa ra được những quyết định này.
"Vì vậy tôi nghĩ là có bóng dáng của Bộ Chính trị trong những quyết định của Tập đoàn dầu khí.
"Cá nhân tôi cho rằng ngoài ông Đinh La Thăng và ông Trịnh Xuân Thanh thì những ông như Nguyễn Tấn Dũng chắc chắn phải chịu trách nhiệm với vai trò là thủ tướng điều hành trong giai đoạn này.
"Ít nhất theo quan điểm của tôi thì người ta phải gọi ông Dũng tới tòa với tư cách là nhân chứng chứ không thể để ông ấy đứng ngoài hoàn toàn như vậy được."
CƠ CHẾ GIÁM SÁT SỚM
Trước câu hỏi mang liệu Việt Nam có cần bổ sung hay không các tổ chức, thiết chế có vai trò giám sát, cảnh báo sớm, trong đó phát huy vai trò của nhân dân, cộng đồng và xã hội, vào việc giám sát ngay từ đầu các hoạt động của nhà nước, trong đó có cả khu vực kinh tế quốc doanh, nhằm ngăn chặn và ngăn chặn sớm những vụ việc nghiêm trọng trước khi có thể xảy ra, Luật sư Ngô Anh Tuấn nói:
"Thực tế đề xuất đưa ra cơ chế giám sát độc lập tôi nghĩ là không nên. Hiện tại thực tế chúng ta đã có quá nhiều cơ quan giám sát rồi, tuy nhiên việc thực thi của họ lại kém.
"Nói là các cơ quan nhiều nhưng cơ chế thực thi để họ có thể hoàn thành nhiệm vụ theo quyền năng của họ theo pháp luật cho phép thì gần như là không được. Họ có sinh ra rất nhiều cơ quan nhưng việc thực thi trên thực tế lại phụ thuộc vào các yếu tố không nằm trong luật, cho nên việc xử lý là không được.
"Có vấn đề là kiến trúc thượng tầng của chúng ta, vấn đề nội bộ của chúng ta chưa giải quyết được nên luật pháp chưa thực thi.
"Còn luật pháp của chúng ta cho tới thời điểm này thôi thấy thực tế không quá yếu, nhưng cũng không có cơ chế thực thi nên không thực hiện được trên thực tế, chứ không phải là thiếu người làm. Hoàn toàn không thiếu.
"Đầy người, nếu không nói là thừa người, thừa rất nhiều người. Nhưng những người đó thực tế không có cơ chế để làm hoặc họ không dám làm."
Có xử được 'cơ chế'?
Có ý kiến cho rằng 'cơ chế' có vai trò nào đó trong các sai phạm nếu có như trong các vụ đại án đang được Việt Nam đem ra xét xử, trong đó có liên đới trách nhiệm của nhiều bị cáo là các cựu quan chức cao cấp hoặc trung cao ở Việt Nam trong nhiều ngành, như dầu khí, ngân hàng, bảo hiểm nhưng câu hỏi đặt ra là dường như sẽ không thể 'xử được cơ chế' này.
Trước vấn đề này, từ Warsaw, Ba Lan, nhà báo Mạc Việt Hồng nêu quan điểm:
"Cá nhân tôi cho rằng không thể nào xử phạt cơ chế được và cơ chế thì chỉ có thể thay đổi mà thôi.
"Những vụ án vừa qua đối với ông Thanh và ông Thăng, khi theo dõi trên mạng xã hội, tôi thấy những bình luận mà người ta tỏ ra thương tiếc cho hai ông và người ta cho rằng hai ông có một chút "oan uổng"
"Theo tôi hiểu thì sự "oan uổng" ở đây có nghĩa rằng ở Việt Nam thì quan chức từ cấp xã, cấp huyện trở lên người ta đã tham nhũng rồi, chưa kể đến cấp trung ương.
"Tham nhũng hiện nay là cả bộ máy, cả hệ thống chính trị nhưng sao hai ông này bị ra tòa mà những ông khác, có khi tay chân cũng không sạch sẽ hơn, mà lại xét xử hai ông này. Người ta thấy sự oan ức là ở chỗ đó còn tôi nghĩ rằng bản án đối với hai ông như vậy là cũng xứng đáng thôi.
"Tôi cũng muốn nói thêm là theo nhận định của tôi thì đây chỉ là phát súng mở đầu thôi chứ chưa phải là kết thúc vì tôi biết là ngoài dầu khí ra thì trong một bài báo mới đây tôi vừa đọc, thì Tổng công ty Than khoáng sản Việt Nam hiện nay đang nợ 100 ngàn tỉ và hầu như mất khả năng thanh toán.
"Và nhiều cơ quan, tổng công ty nhà nước khác cũng đang rơi vào tình trạng nợ hàng ngàn tỉ thì tôi cho rằng đây chỉ là một phát súng báo hiệu và là một vụ án mang tính chất vụ án điểm.
"Tôi nghĩ tiếp theo đây trong năm 2018 - 2019 sẽ có nhiều vụ án với tầm cỡ khủng như thế này nữa," nhà báo Mạc Việt Hồng nói thảo luận của BBC từ thủ đô Ba Lan.
(NewsGoogle/BBC)

Trang