3 tháng 4, 2014

Quan tiến sĩ” giúp gì cho việc trị nước?

Theo thống kê, Việt Nam có khoảng 24.300 tiến sĩ. Trong đó chỉ có hơn 9.000 tiến sĩ đang giảng dạy tại các trường.

Như vậy 15.000 tiến sĩ còn lại không ít người đang làm quan chức. Vấn đề đặt ra ở đây là tấm bằng tiến sĩ giúp gì cho việc lãnh đạo, quản lý đất nước hay nó chỉ làm tăng thêm nạn “tiến sĩ giấy”? Các chuyên gia, nhà phê bình am tường về lĩnh vực nghiên cứu cũng như hành chính công để cùng bàn thảo.
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: Tán thành tách rời học vị với địa vị 

“Quan tiến sĩ” giúp gì cho việc trị nước?Tôi cho rằng cái việc đề ra mục tiêu phấn đấu có 20.000 tiến sĩ trong thời gian từ nay đến năm 2020 cũng là xuất phát từ cách hiểu sai quan niệm đào tạo tiến sĩ. Nguy hơn nữa là đòi hỏi “tiến sĩ hóa” đội ngũ công chức của bộ máy nhà nước.
Tiến sĩ là phải nghiên cứu khoa học. Tìm ra được một đề tài, đối tượng có tính khoa học để nghiên cứu không phải là việc dễ dàng, đơn giản. Cho nên tiến sĩ thường gắn với các trường đại học, các viện nghiên cứu - là những nơi có chức năng chính là làm khoa học để giảng dạy và công bố. Việc đòi “tiến sĩ hóa” công chức lại có nguồn gốc từ một quan niệm sai khác nữa: Coi bằng cấp là một căn cứ quan trọng, có tính quyết định trong việc bổ nhiệm quan chức. Người Việt Nam háo danh, càng có chức quyền càng háo danh và ở thời loạn bằng cấp như hiện nay, khi các loại bằng cấp từ thấp đến cao đều có thể kiếm được và mua được thì các quan chức càng thích trưng tên họ, chức vụ mình kèm theo học vị thạc sĩ, tiến sĩ, giáo sư.
Tôi tán thành ý kiến của GS Trần Văn Thọ về việc cần phải kiên quyết tách rời học vị và địa vị, chức vụ, không nên chỉ nhìn vào bằng cấp mà bổ nhiệm. Tại sao có những nước trên thế giới bộ trưởng quốc phòng lại không phải là một nhà binh, cũng như bộ trưởng giáo dục lại không phải là một người có bằng cấp cao? Tại vì những người đứng đầu các bộ đó là lo về quản lý nhà nước lĩnh vực đó, còn các vấn đề chuyên môn đã có các hội đồng chuyên gia. Chừng nào ở ta chưa chấm dứt được việc bổ nhiệm theo bằng cấp thì chừng đó bệnh “loạn tiến sĩ” còn có nguy cơ gia tăng và thêm trầm trọng.
GS Nguyễn Đăng Hưng: Quái trạng của nền hành chính
Việc các quan chức đua nhau làm bằng tiến sĩ là tình trạng quái dị của nền hành chính Việt Nam. Bằng tiến sĩ thực sự đòi hỏi trình độ thâm sâu, khả năng nghiên cứu khoa học thiên bẩm, được hướng dẫn bởi các nhà khoa học thực thụ. Người có bằng tiến sĩ đúng nghĩa phải can qua thời gian dài tôi luyện, quá trình động não liên tục và bền bỉ. Các quan chức làm gì có điều kiện và trình độ như vậy. Họ kiếm bằng tiến sĩ bằng các thủ thuật xấu hổ dựa trên một nền giáo dục đã băng hoại và tha hóa. Và dĩ nhiên là họ chỉ có được bằng dỏm hay nếu bằng thật thì trình độ chỉ có thể là dỏm. Tôi cho đây là một trò đùa xấu hổ và dĩ nhiên là nó chẳng đem lại gì cho xã hội mà ngược lại là một sự phí phạm vô lối, phí phạm thì giờ và ngân sách.
 

“Quan tiến sĩ” giúp gì cho việc trị nước?Việc đặt ra tiêu chí bằng cấp một cách chung chung để xác định lương tiền là một sai lầm khó hiểu. Lẽ ra tiêu chí phải chính xác hơn: trình độ nào cho công việc ấy. Và muốn chọn người chính xác phải qua xét tuyển độc lập và thời gian thử nghiệm. Các cơ quan quản lý sẽ không cần trình độ tiến sĩ mà chỉ cần người có trình độ tối thiểu cần thiết và khả năng làm việc hiệu quả.
Chẳng hạn tại Bỉ, các cơ quan nhà nước hay các công ty tư nhân không có chỉ số lương cho bậc tiến sĩ. Chỉ có chỉ số lương cho các bậc thấp hơn: tốt nghiệp cao đẳng, cử nhân, kỹ sư.
Tại các nước tiên tiến, phải có trình độ và kinh nghiệm mới được thu nhận và lương bổng tùy thuộc vào các giá trị cụ thể ấy. Việc tuyển chọn phải công khai, mở ra cho mọi thành phần. Còn Việt Nam ta thì không giống ai: Được bổ nhiệm theo lý lịch thành phần, tín nhiệm theo thân hữu gia tộc rồi mới đi học, học tại chức, học chuyên tu. Trên thực tế là học cho lấy có, đáp ứng yêu cầu hình thức, chẳng thu thập được gì gọi là chuyên môn…
Ông Trần Đức Cảnh, nguyên thành viên Hội đồng Liên trường ĐH vùng Đông Bắc bang Massaschusetts: Học vị không làm tăng năng suất, giá trị thì vô bổ!
Tôi từng làm việc cho một cơ quan cấp bộ của một bang ở Mỹ, có khoảng 4.500 nhân sự các cấp. Trong đó khoảng 15% có bằng thạc sĩ, luật sư và bác sĩ, 60% có bằng cử nhân, 25% dưới bậc cử nhân. Có khoảng 10 nhân viên có bằng tiến sĩ nhưng nhu cầu công việc không đòi hỏi bậc tiến sĩ nên chỉ có hai người làm công tác quản lý, còn lại là nhân viên thường thôi.
 

“Quan tiến sĩ” giúp gì cho việc trị nước?Điều đó cho thấy tính ứng dụng của nước Mỹ rất cao, đòi hỏi học vấn phải đi đôi với năng lực và công việc cụ thể. Học vị chỉ có giá trị khi có giá trị cộng thêm trong công việc được giao phó, nếu không thì sẽ không được dùng, bất kể là ai hay ở vị trí nào.
Ở Mỹ, học lấy bằng thạc sĩ thì chỉ 1-2 năm. Riêng chương trình tiến sĩ ở Mỹ phải mất đến 4-5 năm. Nó đòi hỏi người học phải bỏ công sức rất nhiều cho việc học, thi và làm nghiên cứu cho luận án. Thống kê cho thấy chỉ có 57% hoàn tất chương trình tiến sĩ sau thời gian 10 năm, riêng ngành xã hội và nhân văn thì chỉ có 49%. Người học phải thật khá và đam mê theo đuổi nó. Do đó không ai bỏ công sức đi học lấy bằng tiến sĩ chỉ vì mấy bậc lương hay một chút hư danh. Tôi nghĩ ở Việt Nam những người có khả năng và đam mê học thuật cũng vậy thôi.
Hầu hết các nước đào tạo bậc tiến sĩ chỉ cho hai mục đích giảng dạy và nghiên cứu, hai lĩnh vực này có sự tương quan một cách tự nhiên. Do đó số lượng tiến sĩ trong các cơ quan nhà nước rất ít, ngoại trừ một số cơ quan liên quan đến việc nghiên cứu như y tế, năng lượng, quốc phòng...
Nếu yêu cầu học vị không gắn liền với nhu cầu công việc, làm tăng năng suất và giá trị thì học vị cao có ích lợi gì. Theo tôi, hầu hết nhu cầu công việc quản lý trong lĩnh vực công và tư chỉ đào tạo đến trình độ thạc sĩ theo mặt bằng của thế giới là tốt lắm rồi. Thậm chí hiệu trưởng các trường đại học và giám đốc bệnh viện cũng chỉ đòi hỏi trình độ thạc sĩ, còn nếu có học vị cao hơn mà có khả năng quản lý thì tốt.
TS Alan Phan: Mỹ: Muốn có tiền và có quyền thì đừng làm nhà nước
Có một nghịch lý giữa Việt Nam và Mỹ là ở Việt Nam muốn vô nhà nước là để kiếm tiền và kiếm quyền. Còn ở Mỹ thì cực chẳng đã mới vào làm trong cơ quan nhà nước. Bởi ở đây quyền chẳng có nhiều mà tiền cũng chẳng có. Muốn có được quyền và nhiều tiền thì phải đi ra ngoài làm việc và thành công.
 

“Quan tiến sĩ” giúp gì cho việc trị nước?Trong một nền kinh tế sáng tạo thì bằng cấp không có ý nghĩa gì mà cái chính là năng lực. Tất nhiên khi muốn làm công tố viên của chính phủ thì phải có bằng luật sư… nhưng không nhất thiết phải là tiến sĩ. Việc lương cao hay thấp là do năng lực chứ không dựa trên tiêu chí của bằng cấp đại học hay thạc sĩ, tiến sĩ. Bởi cái quan trọng lànếu có bằng tiến sĩ ông ta làm gì với cái bằng đó mới là quan trọng. Còn nếu có bằng tiến sĩ mà ông ấy không làm gì thì cái bằng chẳng có ý nghĩa gì. Nhìn vào Bill Gates, ông ấy có cần bằng tiến sĩ đâu nhưng vẫn đóng góp rất nhiều cho sự phát triển của đất nước…
Mặc dù bên Mỹ tuy không có tiêu chuẩn gì cho tất cả bằng đại học nhưng ở sáu bang đều có các cơ quan kiểm định xác nhận chất lượng của trường đó. Thường các viện đại học lớn sẽ có khoa thẩm định để bảo đảm chất lượng giáo dục theo đúng tiêu chuẩn tốt. Các hội đồng thẩm định này không do chính phủ kiểm soát mà do các trường đại học kiểm soát lẫn nhau. Vì thế các hội đồng lại càng làm hăng say hơn, vì nếu để lọt trường dở vào thì giá trị thẩm định của các viện đại học đó bị ảnh hưởng. Nên thành ra có ích lợi rất ích kỷ nhưng rất tốt bởi nó phải nâng cao tiêu chuẩn lên.
Và như vậy trường nào ở bang nào thì phải xin đăng ký do ban kiểm định ở bang đó. Nếu không đăng ký hoặc bị các hội đồng này từ chối vì chất lượng thấp thì… bằng đó cũng không có giá trị.

                                                                                                                  Theo Pháp Luật TP.HCM

Phục hồi màu sơn cầu Hiền Lương như nguyên gốc

 Tôi đọc tin này trên báo Tuổi trẻ mà ngỡ ngàng về một việc làm "chập mạch" của những người có trách nhiệm ở đây. Có lẽ họ muốn dấu vết chia cắt sẽ mãi còn trong đời sống xã hội. Nếu vậy thì nên phục hồi cả lá cờ ba sọc vàng bên bờ phía nam, những vọng gác, những lô cốt như ngày xưa. Ôi đất nước tôi sao lắm người như "lên đồng" vậy ?!
TT - Ông Ngô Văn Minh, trưởng ban quản lý di tích Hiền Lương - Bến Hải (Vĩnh Linh, Quảng Trị), cho biết vừa hoàn thành việc phục hồi màu sơn cho cầu Hiền Lương theo nguyên gốc.
Di tích cầu Hiền Lương được phục dựng lại hai màu sơn như lịch sử - Ảnh: Quốc Nam
Cụ thể, một nửa phía bắc cầu được sơn lại màu xanh hòa bình, nửa phía nam được sơn màu vàng, là hai màu sơn của thời kỳ đất nước còn chia cắt. Ông Minh cho biết việc phục hồi này được thực hiện căn cứ vào những tài liệu lịch sử cũng như tham khảo nhiều cựu chiến binh từng sống và chiến đấu bảo vệ giới tuyến trong giai đoạn 1954-1960.
Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải, là ranh giới phân chia Việt Nam thành hai miền sau hiệp định Genève năm 1954. Cầu được chia thành hai phần, mỗi phần 89m. Phần phía bắc có 450 tấm ván lót mặt cầu, phần phía nam có 444 tấm ván tương tự.
                                                                                                                                     QUỐC NAM

NHỮNG MẢNH ĐỜI TRẮNG ĐEN

* Ghi chép - MINH TÂM
Chuyến bay từ Tân Sơn Nhất đi Cát Bi trễ mấy tiếng đồng hồ, nên mãi năm giờ chiều tôi mới về đến Hải Phòng. Trời xám xịt, mưa phùn, gió bấc rét như cắt. Tôi nhảy vội lên một chiếc Taxi mong về quê kịp đám giỗ chiều. Lái Taxi bảo :
- Chú gặp tay lái lụa rồi ! Chỉ cần 40 phút là tới nhà .
Hắn nhấn ga, chiếc xe lao vun vút giữa những dãy phố đỏ rực băng rôn, khẩu hiệu, cờ sao và đèn lồng . Tôi hỏi :
- Hôm nay lễ hội gì mà nhiều băng cờ thế?
- Ngày nào mà chả thế! Đó là món ăn tinh thần không thể thiếu của chế độ xã hội chủ nghĩa tươi đẹp. Ta đi trong ánh sao vàng tung bay,rạo rực hôm nay ,từ bốn phương trời về đây...
Tay lái Taxi nói như hát. Tôi thường đi Taxi và nghiệm ra một điều, cánh Taxi trong Nam, đặc biệt là Sài Gòn kiệm lời hơn cánh Taxi ngoài Bắc, đặc biệt là Hà Nội, Hải Phòng. Khách vừa lên xe là các bác tài gợi chuyện ,rồi thao thao bất tuyệt khoe mối quan hệ với ông nó bà kia , phán như thánh tướng , nhưng ít khi tự xách giúp khách chiếc va li.
Từ sân bay Cát Bi về nhà tôi năm mươi cây số . Vừa tới đầu làng, anh chàng tài xế đang say xưa kể chuyện Đoàn Văn Vươn chơi súng hoa cải thì từ bụi cây một người đi xe đạp lao ra ngã vật trước mũi Taxi. Anh tài kêu ối lên một tiếng và phanh gấp. Tôi nhảy xuống , thấy một ông già khoác chiếc áo mưa nằm cách mũi xe khoảng hơn một mét. Tôi đỡ ông già dậy, nhưng ông lăn ra ,miệng rên la tỏ vẻ đau đớn lắm. Tôi nói:
- Bác đau chỗ nào, lên xe tôi chở lên bệnh viện .
Ông già he hé một con mắt nhìn tôi, rồi nói :
- Đếch viện vung gì hết, đưa tiền đây!
Tôi dúi vào tay ông 300 ngàn đồng . Ông lồm cồm đứng dậy dắt xe lủi vào bụi cây. 
Về nhà tôi kể lại chuyện đó,mọi người phá lên cười, và bảo:
- Thế là chú mắc mưu ông Thật rồi! Ông ấy có nghề ăn vạ cừ lắm. Vừa đi nhặt ve chai vừa để ý thấy xe lạ vào làng là giả vờ dụng xe lăn ra ăn vạ...
Chuyện đó mới xảy ra cuối năm ngoái thì đầu năm nay về quê,tôi nghe tin ông Thật chết rồi. Chết vì cái nghề ăn vạ.
Cũng vào lúc chạng vạng tối , ông Thật dắt xe đạp chở bao ve chai nấp ở bụi cây ven đường. Vừa thấy chiếc Hon Đa từ ngã ba rẽ vào, ông đẩy xe đạp ra, cố tình để bao ve chai máng vào Hon Đa. Người lái Hon Đa không phanh kịp, kéo đổ xe đạp làm ông Thật ngã theo, không may đập đầu xuống đường, bị chấn thương sọ não chết. 
Ba đứa con ông Thật vác dao vác búa ra ,bất chấp phải trái, luật lệ bắt người đi Hon Đa bồi thường. Đó là cô gái làng bên , sinh viên mới ra trường chưa xin được việc làm, lại mắc bệnh suy thận . Hôm ấy vừa ở bệnh viện chạy thận về thì cô gái bị ông Thập gài bẫy. Nhà nghèo , bố mẹ cô phải bán chiếc xe Hon Đa là phương tiện duy nhất dành cho con đi bệnh viện , đi xin việc làm , và phải cầm căn nhà mới được 15 triệu đồng để bồi thường cho ông Thật. 
- Chết mà vẫn làm hại người khác !
Trong đám ma ông Thật người ta bàn tán như vậy.
Nghe nói lúc còn trẻ ông Thật hiền lành , thật thà như đếm, đúng như cái tên cha mẹ đặt cho . Vì ông ấy thật thà nên xã viên mới bầu vào Ban chủ nhiệm hợp tác xã ,làm thủ quỹ. Ai ngờ từ đấy bắt đầu lem nhem ,rồi càng ngày càng tham lam lươn lẹo. Nhưng bao nhiêu tiền bạc bòn rút được đều bị ba thằng con phá sạch. Khi về già ông Thật bị chúng nó đẩy ra ăn riêng. Ông sống một mình trong ngôi nhà ba gian cũ kỹ tối tăm , quanh năm suốt tháng làm nghề lượm ve chai và ...ăn vạ. Ngay sau khi ông chết,ba người con lục tung nhà cửa tìm tiền bạc ông cất dấu. Chúng nó tìm được mấy chỉ vàng và quyển sổ tiết kiệm hơn trăm triệu ngấu nghiến chia nhau rồi mới làm đám ma cho bố.
Nghe hàng xóm kể chuyện ông Thật suốt đêm tôi trằn trọc không ngủ được. Trước kia quê tôi mọi người sống hiền lành tử tế , trong họ ngoài làng bao bọc lấy nhau . Mấy chục năm nay không hiểu thờ nhầm đền nhầm miếu , hay theo nhầm tà đạo mà đạo đức suy đồi, văn hóa xào xáo .
Làng tôi có một dòng họ có vài chục gia đình , mấy trăm con cháu nội ngoại. Nhờ phúc tổ tiên, nhiều người thành đạt, có người đậu kỹ sư, tiến sỹ, làm cán bộ . Giữa năm ngoái cả họ họp bàn , thống nhất xây ngôi từ đường thờ cụ tổ và các anh linh trong họ. Cây có cội,nước có nguồn ,con cháu phải tưởng nhớ và tri ân tổ tiên, đó là đạo lý uống nước nhớ nguồn . Nói với nhau chí tình,chí lý như thế. Lại lập văn bản ký tên từng người. Sau đó góp của, góp công xây dựng ngôi từ đường. Thằng cháu đích tôn tình nguyện hiến đất xây từ đường.
Bốn , năm tháng trời ngày nào cũng có người tới làm công đức. Từ đường xây xong , làm lễ khánh thành , con cháu nội ngoại các nơi về ăn uống no say. Nhưng đến khi chọn được ngày lành tháng tốt rước bài vị tổ tiên về từ đường thì thằng cháu đích tôn hiến giở quẻ. Nó đòi giành toàn bộ gian giữa ngôi từ đường thờ cha mẹ nó. Ô hay, thế thì cụ tổ ngồi đâu? Cô di tỷ muội thúc bá đệ huynh chỗ nào? Chả nhẽ cả họ bỏ của góp công xây ngôi từ đường cho các cụ, mà các cụ lại phải ngồi ké bố mẹ mày hay sao? Nói tình không nghe,đem văn bản ký kết ra đấu lý. Thằng cháu đích tôn rút con dao chọc tiết lợn sáng loáng cắm phập vào cánh cửa từ đường,nhổ toẹt một bãi nước bọt và dằn giọng:
- Đếch tình lý gì hết! Không chấp nhận điều kiện thì biến. Thằng nào lớ xớ vào đây ông chém !
Nó mới ngoài ba mươi tuổi, ăn học đàng hoàng, vợ con hẳn hoi . Lúc phát ngôn như vậy nó say rượu. Nhưng sau đó nó vẫn giữ nguyên sự đòi hỏi vô lý như vậy và cho rằng cả họ sai chỉ một mình nó đúng.
Một người lớn tuổi trong họ ấy nói chuyện với tôi , nước mắt chảy dài trên hai gò má nhăn nheo.Ông bảo:
- Toàn bộ giấy mời bà con nội ngoại và đại diện các dòng họ trong làng đã phát rổi đành phải thu lại anh ạ. Bẽ mặt lắm! Ba mươi tết Giáp Ngọ vừa qua tôi phải bưng mân cơm ra ngoài nghĩa địa cúng cụ tổ, xin cụ xá tội vì đã hứa mời cụ về từ đường mà không thực hiện được.
Không hiểu vì sao đạo đức xuống cấp đến thế. Từ già đến trẻ coi tiền bạc trên hết,lừa lọc nhau,phản bội nhau,coi chữ tín như bãi nước bọt. Tôi có cảm giác làng quê như bị xé nát ra, tan đàn xẻ nghé, những mảnh đời trắng đen lẫn lộn.
Một đêm tôi ngồi nói chuyện với anh Thân,một đại tá cựu chiến binh đến khuya , cố lý giải những chuyện đã xảy ra ở quê nhà . Anh Thân về tôi vừa đặt lưng xuống giường thì nghe tiếng gà gáy te te , rồi tiếng lợn bị chọc tiết kêu eng éc. Hết con này đến con khác. Tôi đếm được đến mười con . Tôi hỏi ông anh họ dậy sớm chuẩn bị đi làm đồng:
- Hội hè gì mà giết nhiều lợn thế?
Ông anh họ thửng thẳng đáp:
- Hội hè đếch gì! Đám cưới con lão Thìn đấy.
- Thìn nào?
- Thìn nguyên bí thư đảng ủy chứ Thìn nào?
Năm ngoái về quê tôi nghe tin Hoàng bị cách chức bí thư đảng ủy xã vì tham nhũng.
Xã nghèo nhất huyện. Mười chín chỉ tiêu nông thôn mới ,chỉ thực hiện được 7. Con đường liên thôn ổ gà ổ chó, nhà nước cho xi măng mà không có tiền mua cát, đá đổ bê tong. Ngôi trường cấp 2 xây được phần thô phải bỏ dở dang . Có tí đất công nào bán hết sạch vẫn nợ ngân hàng hàng chục tỷ. Bởi vì nam tham nhũng. Cán bộ hết lớp này bị kỷ luật, lớp khác lên còng ăn bãm hơn, đục khoét tiền của dân của nước như sâu đục thân
Ông anh họ tôi ấm ức nói:
- Xã có con kinh Đông dẫn nước tưới tiêu cho cánh đồng Rộc. Lâu ngày đất bổi , kinh hẹp lại, nông choèn , bèo tây phủ kín. Xin xỏ mãi trên mới cho gần một tỷ đồng nạo vét kinh . Cũng bày đặt thành lập Ban quản lý dự án dự iếc do chủ tịch xã làm chủ dự án và các ban bệ từ xã xuống xóm gần chục người . Lễ khởi công trống dong cờ mở rầm rầm rô rộ vui như hội. Nhưng đến khi thi công thì ì ạch, lem nhem như “đéo vợ cả váy”. Rốt cục con kinh vẫn nông choèn như vũng nhái rửa đít. Mấy ông cựu chiến binh làm đơn tố cáo đảng ủy, đảng ủy lờ đi,cố ý bao che. Tức khí họ liền nhảy vào tự điều tra , lôi tuột ra hết. Kinh phí nhà nước rót xuống được 600 triệu, chúng nó chi vào dự án 200 triệu, còn chia nhau. Chúng nó ăn cả mấy đồng tiền còm bồi thường hoa màu của dân. Có người trên sổ sách được nhận một triệu, bị ăn chặn mất năm trăm ngàn. Có mỗi đoạn kinh thối mà từ Sở nông nghiệp,Sở tài nguyên môi trường , Sở tài chính tỉnh đến các phòng ban huyện đều chấm mút. Chủ tịch xã được chia 60 triệu, các cán bộ lau nhau bên dưới từ 30 đến 40 triệu. Bí thư đảng ủy xơi hẳn 80 triệu . Thảo náo cứ lờ tịt đơn tố cáo của dân. Chứng cớ hai năm rõ mười, không bao che được , công an huyện mới khởi tố vụ án và Tòa án mới đưa ra xét xử. Nhưng giơ cao đánh khẽ, chủ tịch xã,trưởng ban địa chính, trưởng thôn lãnh án treo còn, bí thư chỉ bị cách chức .
Ông anh họ tôi nói: 
- Nó vẫn nhơn nhơn làm cán bộ xã. Hôm nay nó tổ chức đám cưới con trai to lắm. Nghe nói hơn hai trăm mâm. Mời hết lãnh đạo huyện và các xã trong huyện về dự. Tý nữa chú ra bờ kinh mà xem nó mổ trâu.
Ông anh họ hút điếu thuốc lào rồi vác cuốc ra đổng. Tiếng loa truyền thanh của xã cất lên bản nhạc “ Bài ca năm tấn” . Nghe lời ông anh họ, tôi dậy ra bờ kinh Đông xem mổ trâu giết bò ở quê mình ra sao.
Hai thanh niên dắt con trâu ra cột vảo gốc cây . Thấy tôi thằng Ất nhanh nhảu cất tiếng chào:
-Ông mới về ạ!
Tôi hỏi:
- Mổ trâu bán chợ à ?
Ất đáp:
- Không ạ! Chúng cháu làm cỗ giúp nhà Thìn.
Nói rồi Ất bảo Dậu kẹp chiếc kìm sắt nối với một đoạn dây điện vào tai con trâu. Con trâu hình như cũng có linh tính, nó lắc mạnh đầu cố văng chiếc kìm ra. Nhưng bàn tay thằng Dậu nắm chặt hai sừng , nó đành bất lực, hai mắt chớp chớp như van xin , nước mắt chảy ròng ròng như khóc.
Thằng Ất dí điện.
- Ó... ò...o...! Huỵch!
Con trâu kêu rống lên rồi ngã vật xuống bờ kinh. Nhanh như chớp thằng Ất cầm con dao bầu thọc mạnh vào iết hầu nó . Dòng máu đỏ tươi chảy vọt cầu vồng vào chiếc xoong thằng Dậu hứng .
Một đám trẻ con đứng xem tỏ vẻ khoái chí vỗ tay reo. Tôi cảm thấy ớn lạnh vì những tâm hồn thơ ngây kia đang làm quen với việc sát sinh .
Tôi hỏi Ất:
- Bao nhiêu mâm mà giết nhiều trâu bò gà lợn thế?
Ất chùi những giọt máu vừa bắn lên mặt , nói :
- Hơn hai trăm ông ạ!
Quê tôi thường làm cỗ năm người một mâm. Hai trăm mâm nghĩa là một ngàn thực khách. Đừng tưởng chỉ các đại gia ở thành phố mới tổ chức đám cưới linh đình. Một anh bí thư đảng ủy một xã nghèo như xã tôi cũng chơi ngông không kém.
Từ bờ kinh tôi đi ngang qua nhà Thìn. Từ cổng đến sân rực rỡ một màu đèn lồng đỏ. Ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Hải Phòng tôi đã nhìn thấy những dãy phố treo đèn lồng Trung quốc , giờ thấy thứ đèn lồng đỏ rực ấy trong một đám cưới quê nhà. Văn hóa Tàu đã từ trên màn hình TV tỏa ra cuộc sống đời thường, lấn át văn hóa Việt mất rồi. 
Thìn đang chỉ huy treo đèn lồng, nhìn thấy tôi giơ tay vẫy . Rồi nó khệnh khạng đi ra bắt tay tôi, cười phấn khởi: 
- Biết chú về chiều qua, định chốc nữa sang mời chú dự đám cưới cháu Tự. 
Tôi nói:
- Đám cưới to quá nhỉ?
Khuôn mặt Thìn nở căng, bóng nhẫy không dấu niềm kiêu hãnh:
- Chả dấu gì chú. Năm ngoái cháu bị kỷ luật , có đứa khinh,tưởng phen này cháu gục. Chúng nó nhầm. Cháu vừa nhận chức phó phòng trên huyện, tương lai trưởng phòng, nay nhân dịp đám cưới thằng Tự, cháu rửa mặt!
Tôi bỗng nhớ mấy năm trước, một phó chủ tịch bị kỷ luật vỉ tham ô gần chục triệu. Anh này suốt ngày đóng cửa ở trong nhà ,bất đắc dĩ phải ra đường thì đội nón, trùm khăn kín mít. Ngày ấy người cán bộ, đảng viên còn biết xấu hổ,bây giờ thì không. Bí thư đảng ủy Thìn tham nhũng,bị kỷ luật, chẳng những không xấu hổ mà còn bày tiệc cưới linh đình để rửa mặt.
Khoảng mười giờ đường thôn đông nghịt. Người trong xã, trong huyện cả trên tỉnh về dự đám cưới nườm nượp. Những chiếc xe hơi biển trắng, biển xanh đỗ một dãy dài.
Thìn mặc Compe đen, thắt cà vạt đỏ chót , khuôn mặt nở căng tươi như hoa khoe với tôi:
- Đồng chí bí thư và chủ tịch huyện cũng về dự đám cưới cháu Tự.
Cỗ bày từ nhà ra sân ra vườn . Những mâm cỗ đầy tú hụ , mỡ màng như mặt chủ nhân và các vị chức sắc. Tiếng cười, tiếng chúc tụng lẫn trong tiếng loa thùng váng động một vùng quê. Lão người Tàu,chủ nhà máy thép phế thải thị trấn, một khu công nghiệp gây ô nhiễm môi trường nhất tỉnh, nhảy lên sân khấu hát bài “ Hảo hán ca” trong phim Thủy Hử. Hắn đội chiếc mũ đỏ chót như chiếc đèn lồng, vung tay,đạp chân , phùng mang trợn mắt hát:
“ Dà hé xiang dông líu wã.
Tiãn shàng de xing căn bẽi dôu wã
Hẽi hẽi hẽi hẽi căn bèi dôu wã
Shẽng si zhĩ jião yĩ wãn jiũ wã...”
(Nước lớn cuồn cuộn chày về Đông
Đỉnh đầu sao sáng rạng Bắc đẩu
Hò dô rạng Bắc đẩu
Chén rượu thề xin nguyện giao...”
Tôi nhìn thấy đại tá cựu chiến binh Vũ Thân. Anh nháy mắt vẫy tay tôi đến góc vườn , nói nhỏ: “ Toàn bộ đèn lồng là của tay giám đốc ba Tàu kia mang từ Trung quốc sang tặng . Chỉ còn thiếu cô dâu chú rể “nhất bái thiên địa tam bái phu thê” nữa là ra đám cưới Tàu!”
Thân hỏi tôi:
- Ông có muốn đi xem lăng mộ tướng Phạm Qúy Ngọ không? Hôm nay 49 ngày , nghe nói cúng linh đình lắm .
- Thì đi! Tôi dáp và bỏ dở bữa tiệc cưới lên xe đi Đông Hưng.
Trên đường sang quê tướng Ngọ,chúng tôi ghé vào đền Đồng Bằng. Đây là nơi thờ Đức vua cha Bát Hải Động Đình , người có công xây dựng giang sơn xã tắc buổi sơ khai. Đền có sắc phong “ Tam kỳ linh ứng vĩnh công đại vương thượng đẳng thần” vào đời Hùng Vương thứ 18. Đền cũng là nơi thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cùng các danh tướng Hoàng thân quốc thích nhà Trần 3 lần đại thắng quân Nguyên Mông...
Ngày xưa hàng năm đền Đồng Bằng khai hội vào 20-8 âm lịch. Lễ hội tổ chức 8 ngày. Phần lễ rất trang nghiêm, mọi người thành kính dâng hương tế bái các vị công thần hiển Thánh, xem diễn lại tích cha ông đánh giặc. Phần hội có những trò chơi như bơi trải,vật,kéo có ,hát văn mang đậm tính dân gian.
Nay đình Đồng Bằng là nơi kinh doanh hái ra tiền. Ngoài sân một dãy bàn viết sớ thuê , trong nhà một dãy bàn xem bói, và bốn, năm cửa lên đồng. Tháng 30 ngày không vắng bóng đồng cô ,đồng cậu ngày nào . Các đồng cô,đồng cậu từ Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng đổ về lên đồng . Mỗi giá đồng chi phí ít nhất cũng 10 triệu,vậy mà có cô, có cậu thăng liên tục 36 giá . Ban quản lý đình thẳng tay chặt chém, bán chỗ ngồi viết sớ,coi bói, bán chỗ lên đồng và bãi giữ xe mỗi năm hàng chục tỷ đồng.
Cách đền Đồng Bằng không xa là làng Hoành Tự , xã Đông Cường, huyện Đông Quan, Thái Bình, quê của thượng tướng Phạm Qúy Ngọ. Ông từng làm trưởng công an huyện Quỳnh Phụ, Giám đốc công an tỉnh Thái Bình , và Thứ trưởng Bộ công an. Tại phiên tòa xét xử vụ án tổ chức cho người trốn ra nước ngoài do Dương Tự Trọng cầm đầu, Dương Chí Dũng với tư cách nhân chứng đã khai trước tòa rằng “ông anh” Phạm Qúy Ngọ chính là người đã mật báo cho Dương Chí Dũng biết quyết định của Thủ tướng chính phủ bắt giam Dương Chí Dũng và khuyên “chú hãy tạm lánh đi”. Dương Chí Dũng khai đã hối lộ Phạm Qúy Ngọ 510.000 đô la,và đưa giúp đại gia Trương Mỹ Lan 1.000.000 đô la.
Ngay tại phiên tòa đó ,chủ tọa đã quyết định khởi tố vụ án “ Làm lộ bí mật nhà nước”. Ngày 17-2-2014 , phó ban nội chính trung ương cho báo chí biết có ý kiến đề nghị đình chỉ công tác thượng tướng Phạm Qúy Ngọ để điều tra , nhưng ngày 18-2-2014, ông đã đột ngột từ trần vì ung thư gan , mặc dù mấy năm trước đã được thay một lá gan khỏe mạnh. Theo tiêu chuẩn ông Phạm Qúy Ngọ được an táng tại Nghĩa trang Mai dịch ,Hà Nội nhưng không hiểu sao lại đưa về quê an táng.
Khu lăng mộ tướng Phạm Qúy Ngọ ở cạnh con đường làng Đông Tự, cách đình làng 200 mét, diện tích khoảng một mẫu Bắc bộ , mới xây xong ba mặt tường cao, một cái hồ bán nguyệt và hai quả đồi. Mộ Phạm Qúy Ngọ vẫn che tôn, chưa xây lăng.
Đến lúc xế chiều, trời rả rích mưa, chúng tôi thấy 8 chiếc xe ô tô biển xanh trước lăng. Dân làng bảo : “ Xe chở người từ Hà Nội về cúng 49 ngày tướng Ngọ đấy”!
Không lâu nữa nơi đây sẽ hoàn tất lăng mộ cho có vẻ bề thế, tráng lệ!.
Một bí thư đảng ủy tham nhũng bị kỷ luật tổ chức đám cưới linh đình cho con để rửa mặt.
Một ngôi đình thờ các vị anh hùng dân tộc biến thành điểm kinh doanh.
Một viên tướng chết đột ngột mang theo nghi án làm lộ bí mật nhà nước và nhận hối lộ hàng triệu đô la, được tổ chức lễ tang trọng và đưa về quê xây lăng mộ trên diện tích hàng ngàn mét vuông đất. 
Ôi những mảnh đời trắng đen cứ phơ bày ra một cách trắng trơn, phũ phàng. Phải chăng đó là câu trả lời vì sao đạo đức quê tôi xuống cấp đến mức như bây giờ.
                                                                                                                                                    M T

Việt Nam : Một hội bảo vệ dân oan tuyên bố ra mắt

Trọng Thành
Theo RFI

Bà Lê Hiền Đức

Hôm qua, 30/12/2013, tại Việt Nam, một nhóm bảo vệ người dân khiếu kiện đã truyền đi bảnTuyên bố thành lập ban vận động Hiệp hội Dân oan Việt Nam. Bản Tuyên bố được gửi đến Chủ tịch Quốc hội và Bộ trưởng Nội vụ. Ban vận động thành lập Hiệp hội Dân oan Việt Nam đề cử bà Lê Hiền Đức, 83 tuổi, người được Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International) trao giải thưởng Liêm chính năm 2007, làm Chủ tịch danh dự của hiệp hội.

Việc người dân khiếu kiện về đất đai và nhiều lĩnh vực khác không được chính quyền hồi đáp là một hiện tượng xã hội nhức nhối tại Việt Nam trong rất nhiều năm qua. Cho đến nay, tại Việt Nam, dường như chưa có tổ chức nào thuộc xã hội dân sự đứng ra hỗ trợ và bảo vệ những người dân oan, trong bối cảnh chính quyền liên tục trì hoãn việc thông qua bộ luật về lập hội [giữa tháng 12, tại tỉnh Hà Nam cũng xuất hiện một sáng kiến vận động thành lập Hội Dân oan Hà Nam]. Trả lời câu hỏi của RFI Việt ngữ về sự kiện này, bà Lê Hiền Đức cho biết : 
RFI : Thưa bà, chúng tôi có nhận được thông tin về Thông báo vận động thành lập Hiệp hội Dân oan Việt Nam, mà bà được đề cử làm Chủ tịch danh dự. Xin bà cho biết suy nghĩ của bà về sự kiện này. 
Bà Lê Hiền Đức : Hầu hết thời gian của tôi dành cho dân oan. Thành thực nói với quí vị nghe đài như vậy. Tôi nói điều này để nhấn mạnh rằng tôi không có đủ thời gian để suy nghĩ về việc thành lập, hay sáng kiến này khác. Thực chất, chính bản thân Lê Hiền Đức cũng rất bất ngờ khi nhận được điện thoại của một công dân tên là Nguyễn Xuân Ngữ, 70 tuổi, ở quận 9, thành phố Hồ Chí Minh. (…) Sau đó ít giờ thì tôi nhận được mọi thông tin, kể cả thông báo gửi Quốc hội, chính quyền Việt Nam về việc vận động thành lập hiệp hội, khiến tôi cũng hơi bất ngờ.
Sau khi đọc thư đó, tôi rất phấn khởi. Vì nói đến chuyện dân oan mà lại đề cử mình làm Chủ tịch danh dự, thì tôi thấy phấn khởi rằng có người đã chia sẻ công việc của mình. Trước đây tôi cảm thấy công việc của tôi giúp dân nó đơn độc lắm. Sau khi tôi nghiên cứu kỹ, thì tôi thấy rất đồng ý, rất đồng ý. Chứ còn nghĩ ra (việc thành lập hiệp hội này), thì tôi không nghĩ được, vì thời gian của tôi ít lắm, thậm chí thời gian của tôi dành cho gia đình, cho bản thân, cho con, cho cháu, cho chắt, thì cũng rất hiếm hoi.
Được bạn bè, nhân dân cử tôi làm như thế, thì tôi nghiên cứu kỹ, tôi rất phấn khởi và tôi hoàn toàn nhất trí.
RFI : Xin bà cho biết « Dân oan » là những ai ? 
Bà Lê Hiền Đức : Dân oan là những người « dân lành » Việt Nam thân yêu của tôi bị các cấp chính quyền, từ cơ sở cho đến quận, huyện, tỉnh, thành phố và lên đến trung ương. Những người dân lành thân yêu của tôi, của chúng ta, bị chính quyền câu kết với nhau, nó đè nén, nó cưỡng bức, nó cướp đất, cướp nhà của người ta. Những người đó đi đấu tranh, tức là gửi đơn tố cáo, khiếu nại đến các cấp chính quyền, thì bị cấp dưới đẩy lên cấp trên. Khi lên đến quận huyện, thì nó đẩy lên cấp tỉnh, thành phố. Tỉnh lại đẩy lên trung ương. Và khi người dân đến trung ương, cụ thể là người dân 63 tỉnh thành phố bị oan ức đến trụ sở tiếp dân của Thanh tra chính phủ, thì trung ương lại « đá » xuống cấp dưới.
Tôi gọi là « dưới đẩy lên, trên đá xuống ». Chúng nó biến những người dân đi tố cáo thành những người « dân oan ». Có những người đi đấu tranh, gửi đơn khiếu nại, từ lúc tóc còn đen, mà nay đầu bạc trắng, bạc trắng hơn tôi (…)
RFI : Thưa bà, hiện nay tại Việt Nam đã có tổ chức nào bảo vệ những người dân oan chưa ? 
Bà Lê Hiền Đức : Ở Việt Nam hiện nay, chỉ có các cơ quan chính quyền các cấp thôi… Chưa có một tổ chức nào đứng ra bảo vệ dân oan. Chính vì thế, tôi nói rằng công việc của tôi đi đấu tranh, kề vai sát cánh để bảo vệ quyền lợi của người dân oan, thì vô cùng đơn độc. Nay, thấy tổ chức gọi là Hiệp hội Dân oan này, tôi vui quá. Tôi nghĩ rằng, tôi không bị đơn độc nữa, sẽ có những người kề vai sát cánh với tôi. Chứ còn làm chủ tịch, chức này chức khác, thì thực sự tôi không bao giờ nghĩ đến, vì tôi đã 84 tuổi rồi, không quan trọng về chức tước. Nhưng tôi phấn khởi, tôi vui mừng là vì nếu có tổ chức này, thì sẽ có nhiều người như tôi, kề vai sát cánh với tôi.
Xin thưa rằng, ngày hôm nay, tôi ở trụ sở tiếp dân của Thanh tra chính phủ với dân oan các tỉnh, ví dụ Bình Phước, Trà Vinh, Đồng Tháp, An Giang, Bình Dương, Bắc Giang, Đông Anh – Hà Nội…, nghĩa là trên khoảng 10 tỉnh. Khi nói chuyện với những người dân oan ở đấy, khi tôi mới nói là sắp có một hiệp hội bảo vệ dân oan, thì bao nhiêu người muốn liên lạc để gia nhập hiệp hội.
RFI : Khi tham gia vào Thông báo thành lập Hiệp hội bảo vệ Dân oan này gửi đến Quốc hội và chính phủ, bà có hy vọng gì không ? 
Bà Lê Hiền Đức : Trước hết, tôi có hy vọng. Từ xưa đến giờ tôi cảm thấy trong việc kề vai sát cánh đấu tranh bảo vệ những người dân oan, tôi cảm thấy vô cùng đơn độc. Sau khi biết được thông tin này, về cá nhân, tôi rất phấn khởi. Cộng vào đó, tất cả những người dân oan nào mà tôi gặp gỡ hôm qua và hôm nay, thì đều hoàn toàn hoan nghênh và muốn được tham gia hiệp hội này.
Còn khi đã gửi đến Quốc hội và chính quyền "Thông báo" đó, thì đó là việc làm cũng trên tinh thần gọi là mong đợi thôi. Mong đợi thôi ! Chứ tôi cũng chưa thấy có tia sáng nào để giúp cho tôi có được một niềm tin. Mong đợi là khác, mà niềm tin là khác !
Sau khi có Thông báo này, tôi hy vọng, tôi mong đợi những người dân oan sẽ được quan tâm hơn một chút. Chứ còn gọi là đặt niềm tin, thì tôi chưa thấy có gì để tôi tin tưởng được cả. Chỉ gọi là hy vọng !
RFI : Xin chân thành cảm ơn bà Lê Hiền Đức đã dành thời gian cho cuộc phỏng vấn. 
Bà Lê Hiền Đức : Xin cảm ơn và xin gửi lời chúc mừng Năm mới mọi sự tốt lành đến các quý vị thính giả.

1 tháng 4, 2014

Người ngoại quốc nhận xét về người VN?

Tôi năm nay U60, sinh ra và lớn lên dưới mái trường XHCN, đã du học ở Đông Âu trên chục năm. Luôn tự hào mình là người Việt Nam trong suốt khoảng hơn bốn mươi năm đầu cuộc đời mình. Chưa bao giờ nghi ngờ đạo đức nhân đạo và tính hướng thiện của người Việt, tức của tổ tiên mình. Thời thanh niên bên trời Âu tôi luôn từng tự hào tự gọi mình là Việt Cộng, từng là chủ tịch Hội sinh viên Quốc tế toàn Balan nơi tôi học được khoảng 1 tháng trước khi bị Đại sứ quán VN tại Vacsava gọi lên bắt từ chức xuống thành Phó CT phụ trách Học tập… Nói thế chỉ để biết gốc gác chính trị của tôi rất cộng sản và trong sáng, bởi vì cha ông tôi cũng rất trong sáng và theo cộng sản suốt đời.
Về nước, tôi làm việc cho các tập đoàn nhà nước lớn và tiếp tục có điều kiện đi công tác nước ngoài nhiều, làm việc với người nước ngoài rất nhiều. Được đọc và tiếp xúc nhiều, tôi nhận thấy là nước nào họ cũng có những tác giả và tác phẩm nổi tiếng và được nhân dân quí trọng vì đã nói lên những thói hư tính xấu của dân tộc mình, trong khi người Việt chỉ thích tự khen mình: Người Việt cao quí, Lương tâm Nhân loại…(!), và luôn ép người khác khen mình. Hôm nay, trên Vietnamnet ông Vũ – một chủ hãng cafe Việt, còn đề nghị: Mỹ và TQ lãnh đạo thế giới về chính trị và kinh tế rồi, còn “lá cờ nhân văn” chưa ai nắm và Việt Nam hãy nắm lấy lá cờ nhân văn đó của thế giới để sánh ngang TQ và Mỹ (!)… thì ngoài sức tưởng tượng và chịu đựng của tôi rồi.
Đấy là lý do trực tiếp làm tôi viết bài này, nên trước khi nói về người Việt như tiêu đề, xin cho tôi có một hai câu về “Lá cờ Nhân văn” thế giới, như sau: Ông Vũ đã đúng khi nói có Lá cờ Nhân văn thế giới. Nhưng ông đã sai khi nói chưa có ai nắm lá cờ đó, và ông càng sai nữa khi nói Việt Nam có thể nắm lấy Lá cờ đó và lãnh đạo thế giới! Thứ nhất, nếu đã tồn tại một lá cờ nhân văn thế giới, thì nhất định nó cũng đang tồn tại chủ nhân tương xứng, cả hai đều chỉ là khái niệm. Chủ đó phải là dân tộc có tính nhân văn nhất thế giới và được các dân tộc khác công nhận, bởi lá cờ này không thể cướp được, đúng không ạ? Ông Vũ nói nó vô chủ là rất cơ hội (hèn chi ông được tham dự ĐH Đảng X với tư cách doanh nhân, nếu tôi không nhầm?). Nhưng theo tôi, nó đang ở trong tay dân tộc nào, đất nước nào đang có nền văn hóa nhân văn nhất (ở thời điểm này) thu hút được nhân tài và thế hệ trẻ được cả thể giới đến học, làm việc và ở lại sống nhiều nhất, sinh ra nhiều người tài năng và thành công nhất cho thế giới. Theo ông Vũ, đó sẽ là Việt Nam? Nước ta đang và sẽ thu hút được bao nhiêu người nước ngoài đến học? Ông hãy góp ý thế cho ĐH XI nhé! Chúc mừng ông.
Trở lại với tiêu đề chính, cách đây khoảng gần chục năm, trong một cuộc nói chuyện bạn bè thân, tôi đã hỏi một người Anh một câu và yêu cầu trả lời trung thực: “Nếu phải lột tả người Việt trong một hay hai từ, ‘mày’ sẽ nói thế nào?” “Không được rắc complements!” Biết ý tôi, không ngần ngại, anh bạn nói luôn: “Câu hỏi này người nước ngoài chúng tao ở VN luôn thảo luận với nhau khi không có người Việt, và đều nhất trí có câu trả lời giống nhau, nhưng không bao giờ dám nói ra với người Việt. Mày là người VN đầu tiên hỏi tao câu này không với ý định muốn nghe một lời khen, nên tao sẽ nói thật, đó là: Greedy Vietnamese” Vâng, đó là: “Người Việt tham lam!”
Dù đã chuẩn bị cho “tình huống xấu nhất” với đầu óc cởi mở nhất, tôi đã choáng váng và cứng họng một lúc không nói được gì. Mãi sau, tôi mới thốt lên đau đớn vì biết bạn mình không nói dối: “Greedy? Why?” -“Tham lam? Tại sao?” Bạn tôi cười: “Thì người Việt chúng mày, trừ mày ra, (nó thương hại tôi!), luôn luôn cái gì cũng muốn được, không nhường cái gì cho ai bao giờ: Hợp đồng thì điều khoản ngon nhất, giá phải rẻ nhất, hàng phải tốt nhất, giao hàng phải nhanh nhất, bảo hành phải vô thời hạn, thanh toán thì chậm nhất, và … hoa hồng thì phải khủng khiếp nhất!” Tôi chết đứng! Tôi biết nó nói đúng hoàn toàn. Nó làm thương mại với người Việt và ở VN gần hai chục năm rồi. Nó (và đa số người nước ngoài cũng vậy) nhìn người Việt qua những gì nó thấy ở những cán bộ nhà nước hàng ngày làm việc (đàm phán thương mại) với nó! Tôi đã từng đàm phán với nó cách đây hơn hai chục năm, và với rất nhiều người nước ngoài khác, chưa bao giờ biết đòi hỏi ai một cent nào từ vô số hợp đồng ngoại thương tôi đã đàm phán và ký kết, nhưng tôi biết tôi là ngoại lệ, nên tôi biết mình có quyền và có thể nhìn vào mắt mà hỏi nó (bạn tôi) hay bất kỳ ai (thương gia nước ngoài) đã làm việc với tôi, câu hỏi đó mà không sợ bị nó/họ cười khinh cho.
“Vậy, tính từ thứ hai “bọn mày” (tôi đã từng cùng nó có dịp uống bia trong các câu lạc bộ doanh nhân người Singapore, Malaysia, Nhật, Anh, Mỹ, Hàn, Pháp…do các Amcham, Eurocham… tổ chức) miêu tả người Việt là gì?”- Tôi dũng cảm tiếp tục, hy vọng lần này sẽ được nghe lời dễ chịu hơn. Câu trả lời là: “Tricky!”, “Tricky Vietnamese!” – “Gian! Người Việt hay gian!” Tôi hét lên: “Không thể nào! Mày không đang trêu tức tao đấy chứ?!” Bạn tôi trả lời: “Mày muốn tao trung thực mà?” “Vậy tại sao lại là gian?” tôi cố gắng chịu đựng. “Vì chúng mày không bao giờ nói thật, nói thẳng, và có nói rồi cũng tìm cách thay đổi nếu có lợi hơn. Chúng mày luôn nghĩ rằng mình khôn hơn người và luôn luôn xoay sở để hơn người khác…” Tôi ngồi im lặng, điếng người, muốn khóc, và cố uống tiếp vại bia tự nhiên đắng ngắt. Từ đó tôi ghét uống bia. Nó nhắc tôi buổi tâm sự với phát hiện kinh hoàng trên. “Từ đó trong tôi” “tắt ngấm” “nắng hạ”… là người Việt!
Nhưng nội dung và diễn biến của cuộc nói chuyện thân tình trên thì tôi dù muốn cũng không bao giờ quên được. Sự thực là tôi đã phải trăn trở rất nhiều, dằn vặt rất nhiều với điều này từng ngày từ đó: Đặc điểm bản chất của người Việt là gì so với người nước khác? Tại sao người nước ngoài lại đang nhìn chúng ta tệ hại như thế: Gian và tham? Tôi đã không thể phản bác được ông bạn người Anh của mình dù tôi với nó “cùng ngôn ngữ”: đều mê The Beatles! Có ăn nhằm gì đâu! Nó vẫn bảo lưu quan điểm! Một lần gần sau đó tôi trở lại đề tài với nó: “Tại sao mày nói người Việt rất tham lam, cái gì cũng muốn, và gian, cái gì cũng khôn lỏi hơn người, mà mày vẫn làm ăn với chúng tao?” Bạn tôi cười bí hiểm trả lời: “Đấy chính là bi kịch của người Việt, ít nhất là của những người Việt đang không có quyền thế hiện nay.” Rồi nó tiếp: “Chính vì người Việt gian và tham nên chỉ có những người gian và tham hơn mới dám làm ăn cùng chúng mày!” “Ý mày nói đa số thương nhân nước ngoài làm việc với VN là gian và tham?” “Gần như đúng thế!” “Cả mày nữa?” “Gần đúng, vì lúc đầu tao cũng không gian, nhưng tao mất nhiều quá và buộc phải chơi theo cách của người Việt thôi…” “Vậy mày gian thế nào?” Bạn tôi lại cười bí hiểm: “Nói mày đừng buồn, đa số người Việt kém tiếng Anh, và hầu hết kém luật pháp thê thảm, nhất là luật thương mại. Càng chức to thì điều này càng đúng, mày là lính quèn nên khá giỏi. Hì hì, mà tiếng Anh là của bọn tao, luật pháp các nước khác cũng đều đi trước VN, nên chúng tao chỉ có cách dùng tiếng Anh kém cỏi vô nghĩa của chính chúng mày để làm hợp đồng thương mại, và luật thương mại quốc tế nữa… thì chúng tao mới bình đẳng được!” Rồi nó bồi thêm: “Thế mày nghĩ bọn tao có thể cung cấp hàng tốt nhất, giá rẻ nhất, thời hạn nhanh nhất với trách nhiệm vô hạn được thật à?!”
Đó là câu chuyện của hơn 10 năm trước. Tôi đã kiểm tra độ khách quan của đánh giá đó suốt 10 năm qua với rất nhiều người nước ngoài từ các vùng, miền, đất nước có văn hóa và chính trị khác nhau, mà tôi có thể tiếp cận. Đa số câu trả lời kiểm chứng (không phải tất cả) xác nhận sự khách quan và tính gần đúng của nhận xét của bạn tôi. Nhận xét đó đã bắt tôi suốt hơn mười năm qua phải tìm hiểu văn hóa và bản chất dân tộc ta là gì? Tại sao chúng ta lại để đến nông nỗi này?! để người khác nghĩ và đánh giá mình là dân tộc gian, tham?! Người Việt gian tham ư?! Đau xót lắm, nhưng tôi vẫn không phản bác được bạn mình, với những gì tôi và chúng ta vẫn thấy xung quanh trên đất nước chúng ta… Nó là cái văn hóa gì?! Hôm nay, có lẽ tôi đã trả lời được câu hỏi đó cho mình. Dân tộc ta không phải thế! Có những hạt sạn đã được vô tình hay cố ý gieo vào đạo đức, lối sống dân ta mà có lẽ người gieo cũng không muốn và không biết mình đã làm gì? Chúng ta phải đợi đến vụ gieo hạt sau thôi?
                                                                                                                  TRẦN THÀNH NAM

Hãy nói dối nhiều hơn nữa!


Diễn văn của bọ Lập chào mừng Ngày nói dối toàn thế giới.
Nguyễn Quang Lập
 NQL:Bài ni tui viết lâu rồi, nhân ngày cá tháng tư đăng lại cho vui
Thưa các đồng chí và các bạn!
Hôm nay, trong không khí phấn khởi tự hào chào mừng ngày nói dối toàn thế giới, tôi xin gửi tới các đồng chí và các bạn lời chúc mừng nồng nhiệt nhất, thân thương nhất.
Thưa các đồng chí và các bạn.
Trải qua một chặng đường đấu tranh gian khổ với bè lũ nói thật chúng ta đã thu được nhiều thắng lợi to lớn. Nhờ có nói dối mà vợ không làm gì được chồng, cấp dưới không làm gì được cấp trên, phụ huynh không làm gì được cô thầy, bố mẹ không làm gì đựơc con cái.
Nhờ có nói dối chúng ta có được hàng ngàn dự án bánh vẽ, giải thưởng ma, tiến sĩ giấy, công trình dổm. Nhờ có nói dối mà nhân dân tin tưởng, bạn bè quốc tế nể trọng, cho vay ngày càng nhiều đòi nợ ngày càng khó. Thử hỏi cứ nói thật làm thật thì chúng ta có bao nhiêu thắng lợi rực rỡ, bao nhiêu thành công lớn lao, bao nhiêu công trình vì đại? Và lấy đâu ra sự đồng thuận hả các đồng chí, lấy đâu ra!!!
Có người nói muốn giàu có vững mạnh cần phải nói thật, sai! Nếu nói thật thì làm sao có ổn định, không ổn định làm sao nói đến giàu có vững mạnh? Nói dối là để chứng minh chính sự thật là dối trá, là ác ý, là vô cùng nham hiểm. Chúng ta phải kiên quyết bài trừ sự thật bởi vì chỉ có sự thật mới cản trở con đường tiến lên thế giới đồ đồng. ( Không phải thế giới đại đồng, các đồng chí phiên dịch sai, đại đồng là cái đinh gì, nó chính là thế giới đồ đồng).
Gần đây có nhà thơ nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo hô hào cần có một ngày nói thật, sai. Đồng chí Tạo không nắm được thông tin, không hiểu được tình hình đất nước nên đã phát ngôn bừa bãi.
Nếu đồng chí Tạo không nói dối làm sao quần chúng say mê nhạc đồng chí được. Đồng chí Tạo viết: quá nửa đời phiêu bạt, ta lại về úp mặt vào sông quê, sai! Đồng chí Tạo lười tắm, úp mặt vào sông quê bao giờ? Nhưng nói dối thế mới hay, mới sáng tạo. Nếu đồng chí Tạo nói đồng chí úp mặt vào cái ấy thì có hay nữa không, quần chúng còn say mê đồng chí nữa không!
Cho nên không nên nghe bè lũ nói thật lung lạc mà đề xuất linh tinh. Một phút nói thật cũng không, nói thật thì lợi hay hại… lợi hay hại hả các đồng chí?
Vì thế, tôi đánh giá rất cao lực lượng đánh máy nước nhà. Các đồng chí đã chịu thương chịu khó, đồng cam cộng khó, trên dưới một lòng, đứng mũi chịu sào đưa nói dối nước nhà đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Từ nay cậu đánh máy là biểu tượng hào hùng đầy sức sáng taọ của nói dối nước nhà, đưa nói dối nước nhà lên một tầm cao mới.
Thưa các đồng chí và các bạn
Chúng ta không thể tồn tại nếu chúng ta không được nói dối, không biết nói dối. Nhân ngày lễ trọng đại này, tôi kêu gọi các đồng chí hãy phát huy tinh thần tiến công, chủ động sáng tạo, đánh bại mọi âm mưu thâm độc của bè lũ nói thật, đánh bại từng bước, đánh đổ từng bộ phận, tiến lên dành thắng lợi hoàn toàn. 
Láu hơn nữa, trơ hơn nữa, lì lợm hơn nữa đó là khẩu hiệu nói dối của chúng ta.
Chúc các đồng chí sức khoẻ và an tâm sống chung với lũ.

Nghèo Là Một Cái Tội


Alan Phan
Theo blog Alan


Một bạn để ý là tôi có nhiều sách về những câu châm ngôn phát đi từ các danh nhân và triết gia trong tủ sách. Được hỏi câu nào mang nhiều ý nghĩa nhất, tôi buột miệng theo tiềm thức, “Nghèo là một cái tội.” Trước khi ném đá và giương cao ngọn cờ “đấu tranh giai cấp”, xin các bạn cho ông già này giải thích.
Tôi đã nhiều lần rỗng túi, chạy quanh đường phố để suy nghĩ mà không biết ngày mai tiền sẽ từ đâu đến để trả cho cả trăm cái bills (hóa đơn). Tôi cũng đã từng có rất nhiều tiền mà suốt ngày phải họp với các chuyên gia thuế vụ để tìm cách làm “giảm hay hoãn” thuế. Nhìn lại, dù có tiền hay không, hạnh phúc hay đau khổ của tôi trong những hoàn cảnh này đều không liên quan đến tiền. Tuy nhiên, dù khóc hay cười, tôi nghiệm ra một điều là “có tiền” thì vẫn thú vị hơn. Mặt khác, tôi cũng có thể chắc chắn một điều: dù “không tiền”, tôi vẫn chưa bao giờ “nghèo”.
“Nghèo” không đơn thuần chỉ là “không tiền”. Dưới góc nhìn chủ quan của tôi, một con người toàn diện phải hội đủ 6 thành tố: sức khỏe, trí tuệ, tinh thần, tâm linh, xã hội và tài chánh.Một người có nhiều tiền nhưng nghèo sức khỏe vẫn hoang phí tháng ngày. Nghèo kiến thức thì dù là một đại gia vẫn được xếp vào hạng ngu. Cha mẹ cho rất nhiều tiền nhưng tinh thần và tâm linh kém cỏi, yếu đuối thì trước sau gì cũng đi vào khổ lụy. Thêm nữa, dù có một gia đình bền chặt và một kết nối xã hội tốt, bạn vẫn không làm gì được cho ai nếu không có tài chánh.
“Nghèo” là người không có gì để “cho”. Dĩ nhiên, ta không thể cho những gì ta không có.
Ngoài những người bất hạnh với tật nguyền bẩm sinh, sứ mệnh của con người theo nhiều tôn giáo, triết thuyết … là để đóng góp một “cái gì đó” cho tha nhân. “Nghèo” hay không có gì để đóng góp có phải là một tội lỗi?
Tôi nhận xét một điều là ở Việt Nam, người dân không thiếu cơ sở hay dữ kiện để truy cập và phát triển về những yếu tố quan trọng như trí tuệ, tinh thần, tâm linh, xã hội, gia đình hay sức khỏe. Trong khi đó, vì chuyện chính trị là một vùng nhậy cảm cho nhà cầm quyền, nên kiến thức về kinh tế tài chánh lại thiếu hụt, kém chính xác và luôn bị những định hướng chính trị bẻ cong.
Do đó, trong bài viết này, tôi sẽ giới hạn suy nghĩ của mình về yếu tố tài chánh. Tôi cố gắng phân tích ra những lý do cốt lõi đã gây nên cái nghèo “tiền” cho gần 90% dân số. Dĩ nhiên, tiền không phải là hiện thân của tất cả giá trị con người, nhưng từ ngàn xưa, văn hóa Đông Phương đã hiểu rằng, “dân có giàu, nước mới mạnh”. Giàu phải là một nghĩa vụ quốc gia, mà tôi cho rằng cũng quan trọng không kém nghĩa vụ quân sự hay văn hóa.
1. Tư duy nghèo
Từ nhỏ và ngay cả khi bắt đầu biết đọc sách, suy nghĩ, tâm trí của tôi chịu ảnh hưởng nhiều từ một văn hóa và môi trường “ghét người giàu, và đồng hóa cái nghèo với trong sạch”. Dù chế độ VNCH cũ được coi như là một tiền đồn của chủ nghĩa tư bản, chánh phủ vẫn giáo dục người dân về các “tội lỗi” của người giàu (không biết có phải vì cạnh tranh để mua lòng dân nghèo với Cộng Sản?).
Từ chánh phủ với chính sách “người cầy có ruộng” hay “xây nhà bình dân” đến trong lớp học, ngoài đời, văn hóa “thanh bần và trọc phú” là những biểu hiện thường trực. Những câu chuyện khổ nạn của Oliver Twist, Les Miserables, Grapes of Wrath…rất phổ biến, tạo một tư duy “nửa xã hội nửa tiểu tư sản”. Nếu sinh ra thời đó, Bill Gates, Warren Buffett…có lẽ là những tên tuổi xấu thay vì được ngưỡng mộ như gần đây.
Descartes nói, “Je pense, donc je suis” (tôi trở thành người tôi nghĩ). Mỹ có thành ngữ,” Tư duy tạo nên hành động, hành động tạo thói quen, thói quen tạo cá tính và cá tính tạo định mệnh.” Một tư duy “nghèo” chắc chắn phải đem đến một định mệnh “nghèo”.
Đây là suy tưởng của những người miền Nam đã sống với “tư bản Pháp rồi Mỹ”. Còn những người miền Bắc sống với “xã hội của Mác Lê” thì chắc chắn không được phép tư duy “giàu”. Khi mọi suy nghĩ đều cho rằng “nghèo” hơn “giàu” thì từ cá nhân đến xã hội không thể nào vượt trên tư duy đó.
2. Kiến thức nghèo:
Trong những người giàu có mà tôi hân hạnh được quen biết, họ đều chia sẻ một cá tính chung “rất chịu khó học hỏi tìm tòi và sẵn sàng chấp nhận những mới lạ thay đổi”. Ngoài các quan chức và đại gia làm giàu nhờ quan hệ dựa trên quyền lực, ngay cả những người giàu từ các chế độ XHCN đều thể hiện tinh thần và phong thái cởi mở nói trên.
Người Do Thái suy nghĩ rất nhiều về tiền bạc, nhưng họ cũng chịu khó bỏ ra một số lượng thời gian khá lớn để học hỏi các phương cách làm giàu, từ gia đình bạn bè hay sách vở kinh giảng. Trong trường đại học của tôi, có nhiều social clubs (câu lạc bộ) cho các sinh viên có chung sở thích từ thể thao, từ thiện, chính trị…đến toán học, kịch nghệ hay tranh luận (debate). Nhiều bạn Do Thái chỉ gia nhập how-to-get-rich clubs (làm giàu).
Người Trung Quốc cũng đam mê giàu có từ bản chất. Họ rất bén nhậy với cơ hội, cần cù, nâng đỡ nhau trong các bang hội…để cùng làm giàu. Họ thực tế, không hoang tưởng và mặc cho sự giáo huấn của đảng cộng sản 70 năm qua, bản sắc làm giàu vẫn tiềm tàng mạnh trong mỗi gia đình và cá nhân.
Làm giàu là một hành trình lâu bền và khổ cực. Kiến thức là phương tiện quan trọng để thâu ngắn chặng đường. Nghèo kiến thức thì nghèo kết quả.
3. Môi trường nghèo:
Một đặc điểm của tôn giáo Do Thái là việc đề cao sự giàu có vật chất. Trong khi Ki Tô Giáo và Phật Giáo khuyến thị tín đồ phải “ép xác” hay “tránh tham” để tự giải thoát tinh thần và tâm linh khỏi vòng khổ nạn, lãnh tụ các tôn giáo này thường nâng cấp góc cạnh “nghèo” qua các bài giảng. Kết quả là một đa số quần chúng coi giàu là một tội lỗi, người giàu là một địch thủ. Sự thù hận, đố kỵ này được các chính trị gia Mác Lê lợi dụng triệt để để thâu tóm quyền lực, tạo nên một môi trường “của người nghèo, do người nghèo và vì người nghèo”. Dĩ nhiên, đó chỉ là thủ đoạn, họ và các phe nhóm hay con cháu…thì không bao giờ nghèo.
Ngay cả trong những nước tư bản tự do làm giàu, một đứa trẻ sinh ra trong một môi trường nghèo như tại các khu ổ chuột thành phố, hay các vùng quê xa xôi hẻo lánh, thường bị ảnh hưởng nặng nề bởi con người và hoàn cảnh bao quanh. Trừ một thiểu số có ý chí và tư duy mạnh mẽ, đa số âm thầm chịu đựng rồi đổ thừa cho số mệnh. Câu “cái số mình nó thế” nghe rất quen thuộc ở những môi trường nghèo.
Con người có đặc tính “bầy đàn”. Khi đám đông nghèo thì ta cũng “hạnh phúc” với cái nghèo, biện luận là phải “chia sẻ” với láng giềng. Nhiều người lại còn tự hào về cái hạnh phúc trong nghèo đói của mình.
4. Nghèo hành động:
Tôi quan sát (hoàn toàn chủ quan, không kiểm chứng được) là những người nghèo thường thích “nói” nhiều. Họ luôn luôn có những kế hoạch thần sầu để trở thành một đại gia “top ten” của quốc gia hay thế giới. Kế hoạch luôn thay đổi vì chưa làm gì thì đã có một ý tưởng mới hay hơn, tốt hơn. Hoặc có làm thì thường bỏ cuộc sau 5 phút vào trận đấu vì thực tế thị trường không tươi đẹp như trên giấy tờ hay các khẩu hiệu.
Nói chung, họ thích nhàn (không muốn nhận là lười biếng) và coi đây là một triết lý sống khôn ngoan. Nếu nhờ chút mánh mun mà kiếm được tiền hay quyền, họ sẽ coi họ là đỉnh cao của xã hội. Nói phét, nổ bậy …trong các bàn tiệc nhậu nhẹt be bét là một thói quen rất dễ nhận ra.
Nhiều người nghèo khác thì lười nhưng thích ra dáng trầm uất, bất cần đời…hay khơi động lòng thương hại của người khác. “Xin-cho”, “ăn mày quá khứ”…là những hành xử phổ thông của các nhóm nghèo này.
5. Chọn bạn nghèo:
Một châm ngôn thông dụng của Âu Mỹ là “bạn cho tôi biết thu nhập của 5 người thân thiết nhất trong đời bạn, và tôi sẽ tính ra con số thu nhập trung bình của bạn”. Á Đông thì rõ ràng hơn, “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.
Tôi nhớ những ngày còn trẻ, tôi hay la cà cùng bạn bè ở quán cà phê, quán rượu, garage nhà hàng xóm. Chúng tôi miên man mơ mộng và nói về những tương lai khi chúng tôi giúp nhau giàu có để trả hận đời. Một ngày, tôi chợt nhận ra là tất cả bạn này đều nghèo rớt mồng tơi như tôi. Tụ họp ngày ngày với nhau, tôi chắc chắn tương lai duy nhất của chúng tôi là sẽ trở thành những ông già nghèo rớt mồng tơi. Sau khi nhận ra chân lý, tôi dứt khoát rời bỏ đám đông “tình nghĩa” này đề đi tìm cho mình một tương lai khác.
Qua những trải nghiệm và suy nghĩ của mình, tôi đúc kết 5 nguyên nhân cốt lõi trên mà tôi cho rằng đang cột chặt bạn với cái nghèo. Tôi có thể sai, tôi còn nhiều thiếu sót, tôi có nhiều định kiến chủ quan…Có lẽ vậy. Nhưng đây là kết luận của một người đã từng rất nghèo, rất ngu và biết thay đổi kịp thời.
Quốc gia nghèo
Một điều nữa. Khi chia sẻ với nhau, nhiều bạn có gởi tôi những cuốn sách, những bài khảo luận về đề tài “lý do khiến một quốc gia nghèo”. Có những lý thuyết rất cao siêu từ tháp ngà hàn lâm (vì chúng làm tôi ngủ thật ngon sau vài trang), có những khôn ngoan rất dễ hiểu (như các bài viết hay phát ngôn của Warren Buffett). Tuy nhiên, tôi cho rằng 5 lý do khiến một cá nhân nghèo như tôi đã trình bày, cũng rất giống 5 lý do cốt lõi khiến một quốc gia nghèo.
Nói về lý do chọn bạn chẳng hạn. Nhìn qua lịch sử, bạn của anh nhà giàu Hoa Kỳ thường giàu theo như Tây Âu, Nhật, Úc, Singapore…Còn bạn của các anh Liên Xô, Trung Quốc, Cuba…vẫn nghèo rớt mồng tơi (ngôn ngữ Việt phong phú nhỉ).
Văn hóa Á Đông thường chê trách về chuyện “giàu đổi bạn, sang đổi vợ”. Tôi không dám nói về chuyện vợ chồng vì sẽ bị ném đá, ngay tại nhà. Nhưng nếu có những ông bạn suốt ngày cứ ca tụng chuyện nghèo, tôi sẽ không ngần ngại tránh xa. Họ độc hại hơn các hóa chất trong thực phẩm của Trung Quốc. Lỡ ăn nhầm, vẫn có thể vào bệnh viện bơm ruột. Nhưng nếu tư duy nghèo đã ăn vào trí não và xương tủy, thì cả cuộc đời trở thành lãng phí.
Tôi nhớ một câu message (tin nhắn) thú vị, nhiều người thâu vào hộp thư thoại (voice mail box) của họ,” Xin để lại tên và điện thoại của bạn. Tôi đang tìm cách thay đổi đời mình. Nếu tôi không gọi lại bạn, thì bạn nên hiểu bạn là một trong những thay đổi đó”.
Không biết bao giờ các lãnh đạo của Việt Nam mới can đảm nói với “xứ lạ” điều này?
                                                                                                                        Alan Phan

Đại tá Phan Xuân Sơn với những chiến công thầm lặng trên mặt trận bảo vệ an ninh Tổ quốc


Đại tá, tiến sỹ Phan Xuân Sơn, sinh năm 1960, tại xóm Phú Thuận, xã Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, hiện nay là Cục trưởng Cục C86, Bộ Công an. Vốn sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, năm 1977 sau khi tốt nghiệp lớp 10 phổ thông trung học, anh được chiêu sinh vào Trường Cảnh sát Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên) thuộc Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an). Năm 1979 ra trường, anh được Bộ Công An điều động vào nhận công tác tại tỉnh Gia Lai - Kon Tum. Năm 1981, do lập được nhiều chiến công xuất sắc, anh được Công an tỉnh Gia Lai - Kon Tum cử đi ôn thi đại học tại thành phố Hồ Chí Minh để tạo nguồn phục vụ lâu dài trong ngành Công an. Do có trí thông minh, chịu khó học tập, anh đã thi đại học đạt điểm cao nhất trong số thí sinh các tỉnh phía Nam, đủ điểm đi học đại học ở nước ngoài.
Tháng 8 năm 1982, anh sang Nga học tại Khoa Dự bị (học tiếng Nga), tại trường Đại học Tổng hợp Mátxcơva(Liên Xô). Tháng 8 năm 1983, anh về học tại khoa Triết học, trường Đại học Tổng hợp Lêningrát, quê hương của Cách mạng Tháng mười Nga. Tại đây, anh vừa học tập, vừa hoạt động thanh niên, làm đối ngoại với cương vị Bí thư Đoàn trường Tổng hợp. Tháng 6 năm 1986, anh là sinh viên đầu tiên được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tại Chi bộ trường Đại học Tổng hợp Lêningrát.
Sau khi về nước, anh Sơn nhận công tác tại Cục V26, Bộ Công an. Năm 1993 anh được đề bạt giữ chức Phó Trưởng phòng, năm 1996 được đề bạt Trưởng phòng, Phó cục trưởng Cục C86.
Với tinh thần học tập không ngừng, anh Sơn vừa làm việc, vừa tiếp tục nghiên cứu, học tập nên năm 1988 anh hoàn thành chương trình học tập và được cấp bằng Thạc sĩ. Năm 2005 anh tiếp tục tham gia khóa nghiên cứu sinh và đến tháng 3 năm 2008 anh đã bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ Khoa học giáo dục. Anh Phan Xuân Sơn là Tiến sĩ đầu tiên của xã Cổ Đạm. Do có nhiều thành tích trong quá trình công tác, học tập, anh Phan Xuân Sơn đã được tặng Huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Huy chương vì sự nghiệp giáo dục, Huy chương Vì Thế hệ trẻ, Huy chương Vì sự nghiệp Bảo vệ, chăm sóc trẻ em; nhiều Bằng khen của Chính phủ; Chiến sĩ Thi đua toàn Ngành; hàng chục Bằng khen của Bộ Công an và các Bộ, ngành khác. Do lập được nhiều chiến công xuất sắc trên mặt trận bảo vệ an ninh Tổ quốc, được đồng đội và nhân dân yêu mến, tháng 2 năm 2014 anh đã được Bộ Công An bổ nhiệm chức vụ Cục trưởng Cục C86(Bộ Công an).
Là người con thành đạt trên con đường công danh và sự nghiệp, nhưng anh bao giờ cũng sống kiêm tốn, giản dị, luôn luôn được mọi người quí mến. Hàng năm dù bận trăm công ngàn việc, nhưng anh vẫn dành thời gian về thăm quê hương và đã có nhiều đóng góp xây dựng quĩ khuyến học, khuyến tài của các cấp, ủng hộ đồng bào bị bão lụt, nạn nhân chất độc Da cam.... Anh xứng đáng là người con ưu tú của quê hương Hà Tĩnh với những chiến công thầm lặng trên mặt trận bảo vệ an ninh Tổ quốc.
                                                                                                                                 Đình Sơn






















NGƯỜI TRONG ẢNH 
Nhìn bạn bè những người trong ảnh 
Gương mặt tươi vui, dáng người khỏe mạnh 
Chân thật hồn nhiên, thời ấy sinh viên 
Đã lâu rồi, hơn ba thập niên 
Đọc vẫn đúng tên, không nhầm ai cả 
Trường Thông tin có: Cương, Long, Quang, Hải 
Đại học Ykhoa Kinh, Long ở hàng đầu 
Tổng hợp Văn: Trung Thành đứng phía sau 
Em Tú, Xuân Trung quân Y, cô dạy trẻ 
Trần Dinh, Công Thành Bách khoa, Nông nghiệp 
Minh Tiến, Giao thông cầu Giấy đây này 
Hoàng Thái, Xuân Sơn Công an Bộ ở đây! 
Tất cả bạn bè sống một thời Hà Nội 
Nhìn ảnh hằng mong những chiều, sớm tối 
Có một ngày Hà Nội lại gặp nhau 
Đi công viên, quán gió giống ngày nào 
Đừng thiếu ai, những người trong ảnh nhé.
                                                   Cương Phan Văn
                                                                             Quán Gió Công Viên Lê Nin Hà Nội,1982

Việt Nam có tỉ phú đô-la: Vui hay buồn?

Sau nhiều năm xấu hổ vì bị coi là nghèo, hèn và kém cỏi, làm lòng tự trọng bị xây xước nghiêm trọng, người ta muốn tìm những dấu hiệu để an ủi cho bản thân về giá trị của mình: một cúp vô địch bóng đá khu vực (đã có), một hoa hậu tầm quốc tế (chưa có), hay một tỉ phú đô-la (cuối cùng thì cũng có).
Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu?
Đầu tháng 3 vừa rồi, báo chí đăng tin một đại gia Việt Nam được tạp chí quốc tế Forbes "vinh danh" trong danh sách tỉ phú đô-la toàn cầu của mình.
Năm ngoái, ông Vượng, lần đầu tiên, và là người Việt duy nhất, lọt vào danh sách này, và năm nay, ông vẫn vững vàng bảo vệ vị trí của mình, tuy rằng chỉ khiêm nhường nằm trong nhóm phần ba cuối bảng của 1645 người giàu có nhất hành tinh này.
Chữ "vinh danh" mà báo chí dùng, cũng như các comment trên mạng về "người con ưu tú" làm "rạng danh đất nước" cho thấy có một niềm tự hào không nhỏ của người Việt về việc này. Có thể hiểu được lý do của niềm tự hào này. Nhiều người hẳn vẫn còn bị ám ảnh bởi khẩu hiệu "Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu" của những năm '80 bao cấp của thế kỷ trước. Trong khi theo đuổi một viễn tưởng về một xã hội bình đẳng, thoả mãn mọi ham muốn và nhu cầu của con người, trên thực tế người ta đã tạo ra một xã hội mà trong đó, giáo sư, nông dân, bác sĩ, công nhân, và nghệ sĩ đều nghèo như nhau.Xuất thân từ một nơi nghèo khó, đi học một ngành không liên quan gì tới kinh doanh... con đường của một "đại gia" có tiếng đi từ mỳ tôm tới bất động sản là chất liệu cho giấc mơ mới của người Việt, một minh chứng là người ta đã được phép giầu và có thể giầu. Sau nhiều năm xấu hổ vì bị coi là nghèo, hèn và kém cỏi, làm lòng tự trọng bị xây xước nghiêm trọng, người ta muốn tìm những dấu hiệu để an ủi cho bản thân về giá trị của mình: một cúp vô địch bóng đá khu vực (đã có), một hoa hậu tầm quốc tế (chưa có), hay một tỉ phú đô-la (cuối cùng thì cũng có).
Nhưng chúng ta hãy tự hỏi thực ra có gì để tự hào trong chuyện này? Trung Quốc có tới 152 tỉ phú, xếp thứ hai trong danh sách về con số tuyệt đối, chỉ sau Mỹ. Nga cũng đóng góp 111 tỉ phú, một tỉ lệ trên đầu người cao hơn nhiều nước Tây Âu phát triển khác. Có thực sự hai quốc gia này là những nước trọng người tài, có thượng tôn pháp luật, hệ thống quản trị quốc gia minh bạch và sạch sẽ, tức là những nền tảng cơ bản để người dân có thể làm giầu một cách chính đáng? Nigeria có 4 tỉ phú, Ai cập có 8, Kazahkstan có 5. Đây là những mô hình chúng ta muốn noi theo? Liệu số lượng tỉ phú có thể làm thước đo thành công cho sự phát triển của một quốc gia?
Tôi không nghĩ vậy.Tài sản 85 cá nhân bằng một nửa dân số toàn cầu
Nếu có một điều mà câu chuyện tỉ phú này có thể nói với chúng ta thì đó là ngày nay sự phân hoá giầu nghèo ở nhiều quốc gia đã lên tới mức bất an. Nhưng trước khi đi tiếp, chúng ta hãy dừng lại một chút để chuẩn bị tinh thần. 1 tỉ là một con số trừu tượng, có thể hình dung ra nó như thế nào? Người ta có thể làm gì với 1 tỉ đô-la?
Thu nhập trung bình của người Việt hiện nay là gần 2 000 USD một năm. Nhưng ta không lấy con số này, mà hãy lấy hẳn một người ở thành phố lớn, được học hành, đào tạo tốt, và có thu nhập cao gấp 10 lần mức trung bình của toàn quốc, tức là 20 000 USD một năm (mức này đã bằng tới hai phần ba mức thu nhập trung bình của người Mỹ).
Cứ cho là con người giỏi giang và may mắn này có thể tiết kiệm được toàn bộ số tiền này, mà không phải tiêu xài gì cả. Vậy anh ta sẽ phải làm việc trong bao nhiêu năm để tích luỹ được 1 tỉ USD? Câu trả lời là 50 000 năm. Hay là hơn 1 200 thế hệ, nếu mỗi thế hệ có 40 năm để lao động.
Đây là một ví dụ nữa, sau khi bạn đã phục hồi khỏi cơn choáng. Hình dung ra một khách sạn xa xỉ, chúng ta vẫn nghĩ tới mức giá vài trăm đô-la một đêm. Ít người biết rằng ở những nơi như Burj Al Arab, khách sạn có hình cánh buồm ở Dubai, thu nhập 20 000 USD mỗi năm của người nói trên chỉ đủ để trả tiền phòng cho một đêm. Thế còn với 1 tỉ USD, bạn có thể ngủ bao nhiêu đêm ở đây? 144 năm và mấy tháng lẻ.
Chênh lệch giầu nghèo đã trở thành một hiện tượng toàn cầu. Trên thực tế, trong nhóm những quốc gia có chênh lệch khủng khiếp nhất có đủ các loại: giầu như Mỹ, thu nhập trung bình như Brazil, hay khốn khổ như Zimbabwe.
Ở Mỹ, năm 2011, gần một nửa dân số không có tài sản gì cả (tức là họ có mức nợ cao hơn sở hữu của cải của mình), trong khi đó, 1% những người giàu nhất sở hữu trên 35% tổng tài sản của quốc gia này. Ở Việt Nam, nếu lấy số liệu của công ty Wealth-X / UBS làm cơ sở thì năm ngoái, 195 người siêu giàu ("siêu giầu" được công ty này định nghĩa là có trên 30 triệu USD) sở hữu tổng cộng 20 tỷ USD, bằng hơn nửa GDP của toàn bộ TP Hồ Chí Minh, và bằng 12% tổng sản lượng quốc gia.
Đầu năm nay, Oxfam, một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nhân đạo và phát triển của Anh, công bố một con số gây sốc: 85 cá nhân giầu nhất thế giới, nghĩa là một nhóm người vừa đủ nhét vừa vào trong một xe bus hai tầng, có tài sản bằng một nửa dân số toàn cầu.
Cũng theo Oxfam, riêng phần gia tăng của cải trong năm qua của 100 tỉ phú giầu nhất thế giới đã đủ để xoá xổ sự nghèo đói trên toàn bộ hành tinh này tới bốn lần.
Trước tình hình này, "Báo cáo rủi ro toàn cầu" của Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos năm 2013 đã đưa bất bình đẳng trong thu nhập vào danh sách những rủi ro toàn cầu nguy cấp nhất.
Theo một khảo sát của Gallup, hai phần ba người dân Mỹ bất bình về tình trạng phân bổ của cải hiện nay ở nước họ. Trong một diễn văn đầu năm nay, tổng thống Obama cho rằng chênh lệch thu nhập còn đe doạ nền kinh tế Mỹ hơn cả vấn đề thâm hụt ngân sách. Mùa hè năm ngoái, "The Guardian", một tờ báo lớn của Anh, tổ chức một toạ đàm trực tuyến với các chuyên gia hàng đầu và chạy tít "Liệu chúng ta có nên tìm cách xoá bỏ giầu có quá mức, thay vì xoá bỏ nghèo đói cùng cực?"
Nhưng vì sao giàu có quá mức (khái niệm tiếng Anh được dùng hiện nay là "extreme wealth"), kể cả khi nó được tạo ra một cách hợp pháp, lại trở thành mối nguy trong con mắt của những nhà lãnh đạo chính trị và kinh tế quốc tế? Xã hội sẽ phải trả giá gì cho mức phân hoá giàu nghèo cực đoan?
Phần hai của bài sẽ đề cập tới vấn đề này.
Tỷ phú phải chăng dây thép gai dẫn điện quanh dinh thự, và thuê hàng đại đội vệ sĩ đưa con đi học, thì lúc đó đêm đêm ngủ trên cái giường, dẫu 6 tỉ hay 60 tỉ, liệu có sung sướng?
                                                                                                                      Đặng Hoàng Giang

Viết cho ngày Cá tháng Tư: Lời nói dối ngọt ngào

Điều quý giá nhất trong cuộc sống là sự chân thật. Nhưng có nhiều lúc, lời nói dối lại trở nên đáng yêu khi mang đến sự ngọt ngào, động lực và niềm tin cho những người ta yêu thương.
Hằng ngày, trong cuộc sống đời thường, chúng ta thường nghe những lời nói dối chứa đựng bao tình yêu thương sâu sắc, khiến đối phương rung động, để rồi, nhờ thế mà mọi người cảm nhận được tình cảm dành cho nhau.
Đó là câu: “Mẹ no rồi” khi muốn nhường lại cho đứa con bé bỏng bữa ăn ít ỏi, là câu: “Mẹ vẫn khỏe”, dù mệt mỏi, suy kiệt, cũng không muốn con mình lo lắng khi đang phải đối mặt với thử thách quan trọng của cuộc đời.
Người luôn bao dung, che giấu thiếu thốn, nỗi buồn trong cuộc sống, đau đớn bệnh tật của bản thân để tạo cho con cái cảm giác an lòng, không ưu phiền và sự no đủ, sung túc.Là nụ cười và câu nói: “Món ăn ngon lắm” của người ấy khi “thưởng thức” bữa cơm ta nấu, mặc dù sản phẩm đã gần như cháy đen, mùi vị dở tệ, đến chính mình cũng thấy khó nuốt.
Dẫu biết rằng chỉ là lời “nịnh”, không phải thật nhưng lòng ta vẫn cảm thấy quá đỗi ngọt ngào. Bởi ta hiểu, lời nói dối ấy không chỉ là sự động viên, mà còn bao hàm cả tình yêu dịu dàng, sự trân trọng công sức ta đã gửi gắm vào từng món ăn dày công chăm chút.
Hay lời khen đẹp cho chiếc khăn len ta dành cho người ấy vào mùa đông, từng mũi đan còn chưa thuần thục, nhưng sự ấm áp thì không ngừng lan tỏa trong ánh mắt sáng ngời.
Đó là sự che giấu của bạn bè, khi kéo ta đến buổi lễ chúc mừng sinh nhật mà ngay bản thân cũng không ngờ tới. Ngay khoảnh khắc ấy, niềm vui vỡ òa cùng bao giọt nước mắt cảm động, chứa chan.
Đó còn là nét ngại ngùng toát lên từ hai má ửng hồng rạng rỡ của cô gái đang giận dỗi người yêu khi nghe được lời nói: “Em là người con gái xinh đẹp, hoàn hảo nhất đối với anh”.
Mỗi câu từ như mang đến chút men say ngây ngất, xóa bỏ bao ghen tuông, hờn dỗi và thắp lên trong lòng người con gái hương vị ngọt ngào của tình yêu.
Sự chân thật ẩn trong những lời nói dối cố tình, là những rung động trong tận sâu tâm hồn mà chỉ những người thực sự yêu nhau mới có thể thấu hiểu.
Và không chỉ ngọt ngào, lời nói dối thiện ý còn giúp ta có thêm nghị lực để vượt qua khó khăn, trở ngại trong cuộc sống...
Là lời nói dịu dàng khi con thất bại, đang mất niềm tin vào bản thân mình: “Con của bố mẹ tài giỏi. Bố mẹ tin vào khả năng của con!”, đã giúp cho ta có thêm động lực để cố gắng, nỗ lực hết mình và sống hoàn thiện hơn.
Nhận ra được nỗi buồn cất giấu trong đôi mắt trầm tư nhưng con cảm ơn vì trong lúc chới với, Người đã không thể hiện sự thất vọng khiến con mủi lòng.
Đó là khi ta phải che giấu bệnh tật nguy kịch cho người thân đang trong cơn tuyệt vọng, rằng: “Không có gì nghiêm trọng” để có động lực, niềm tin và sự lạc quan hơn vào sức khỏe, vào cuộc đời này.
Cuộc sống này, cần biết bao những lời nói dối xóa đi mặc cảm, làm vơi đi những lo lắng mà không gây hại cho người khác. Nói dối để động viên nhau vượt lên trong những giờ phút khó khăn, mang lại niềm vui, hạnh phúc, cất đi bao gánh nặng trong trái tim cho những người ta yêu quý, để làm cho cuộc sống trở nên muôn màu, muôn vẻ, đáng yêu hơn.
Không thể thiếu những lời nói dối chân thành, thiện ý đúng thời điểm, nhưng đừng lạm dụng, nếu không sẽ khiến cho lời nói không những giảm đi trọng lượng, mà còn làm mất đi niềm tin của đối phương.
                                                                                                                                    Theo Dân trí

Trang